Kiến thức Y học

Kiến thức Y học Page chia sẻ kiến thức y học, các thành tựu y học trên thế giới của ThS Nguyễn Đình Song Thanh, hiện là nghiên cứu sinh Tiến sĩ ĐH Kumamoto về tế bào gốc

Sơ lược về đào tạo lĩnh vực y tế - sức khoẻ ở Nhật BảnBên Nhật thì tuy các trường ĐH đào tạo đa ngành, nhưng mà theo như...
25/11/2025

Sơ lược về đào tạo lĩnh vực y tế - sức khoẻ ở Nhật Bản

Bên Nhật thì tuy các trường ĐH đào tạo đa ngành, nhưng mà theo như mình thấy thì cũng chỉ 1 số ít các trường ĐH ở các tỉnh thành mới được đào tạo các ngành về y tế - sức khoẻ chứ không có đào tạo tràn lan, lung tung, dù là quốc lập, công lập hay tư thục.

Bởi vì đây là nhóm ngành đặc thù, liên quan đến tính mạng, sự sống của con người, không thể đùa được.

Vd ở Kumamoto có 5 trường ĐH đều là những trường tốt nhưng chỉ có duy nhất mỗi trường mình là ĐH Kumamoto (Kumamoto University, Kumadai) quốc lập mới được đào tạo bác sĩ. Ngoài ra thì về khối ngành y tế sức khoẻ trường còn đào tạo điều dưỡng, y học hạt nhân (xạ trị), kỹ thuật xét nghiệm, và y sinh học, tức là nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến sự sống con người, các cơ chế hình thành các tế bào, mô, cơ quan, các vấn đề về di truyền, miễn dịch, tạo phôi, các hoạt động, tương tác của các tế bào, các protein, phân tử,... với nhau và cơ chế gây ra các loại bệnh của con người, sử dụng các kỹ thuật của công nghệ sinh học và tiến hành thí nghiệm trên các tế bào và mô hình chuột. Như mình học là y sinh học, không phải ra làm bác sĩ.

Bên cạnh đó tỉnh còn có ĐH Khoa học Sức khoẻ Kumamoto (Kumamoto Health Science University, KHSU) là trường tư thục nhưng không đào tạo bác sĩ, mà đào tạo điều dưỡng, kỹ thuật xét nghiệm, vật lý trị liệu - phục hồi chức năng. Về dược thì Kumadai và ĐH Sojo (Sojo University, trường tư thục) đều có đào tạo. Trong khi đó ĐH Tỉnh lập Kumamoto (Prefectual University of Kumamoto) công lập và ĐH Kumamoto Gakuen (Kumamoto Gakuen University) không có đào tạo các ngành này.

Cả 5 trường đều toạ lạc ở thành phố Kumamoto, tỉnh lỵ của tỉnh cùng tên.

Trong hình là cảnh mùa thu lá vàng lá đỏ tháng 11 năm nay tại trường mình, ĐH Kumamoto

Chúng ta có thể học hỏi được gì từ GS Sakaguchi Shimon - nhà miễn dịch học ngoài 70 tuổi đã đạt giải Nobel Y học năm nay...
28/10/2025

Chúng ta có thể học hỏi được gì từ GS Sakaguchi Shimon - nhà miễn dịch học ngoài 70 tuổi đã đạt giải Nobel Y học năm nay?

Trước tiên, đó là vững chí, bền gan khi gặp thất bại.

Năm đầu tiên, thầy thi vào khoa Y của Kyodai bị rớt, nhưng rồi thầy lại tiếp tục ôn thi, và cuối cùng thầy đã đỗ vào đấy, học ở ngôi trường quốc lập danh giá của đất cố đô Nhật Bản suốt từ bậc Đại học đến khi tốt nghiệp Tiến sĩ.

Suốt nhiều năm liền, giả thuyết và sự tồn tại của một loại tế bào có khả năng kiểm soát những phản ứng miễn dịch của thầy đã bị hoài nghi, bác bỏ. Rất nhiều bài báo khoa học của thầy Sakaguchi bị từ chối, phòng thí nghiệm của thầy bị cắt tài trợ (xin tài trợ cho các dự án nghiên cứu không phải dễ dàng, và để có thể công bố những nghiên cứu khoa học trên những tạp chí khoa học uy tín cũng rất khó). Gần như suốt một thời gian dài chỉ có thầy và vợ - BS Sakaguchi Noriko - vẫn làm việc ở đó. Phải mất rất lâu những công trình nghiên cứu, khám phá của thầy về sự tồn tại của loại tế bào ấy (tức tế bào T điều hoà - Treg) mới được công nhận.

Để làm nên sự nghiệp ngày hôm nay, thầy đã phải giữ cho mình một tinh thần vững vàng, và luôn tin tưởng rằng mình có thể làm được. Nếu thầy bỏ cuộc, ý chí không bền, không nghiêm túc trong học tập và trong công việc, thầy đã không thể thi đỗ vào khoa Y của Kyodai, một nơi không dễ vào, và không thể chứng minh được giả thuyết của thầy là đúng, làm cho giới khoa học phải công nhận nó, và đem lại lợi ích cho hàng triệu bệnh nhân ngoài kia.

Thứ hai, đó là sự trung thực. GS Sakaguchi vẫn cùng hiền thê của mình miệt mài làm việc cần mẫn, cẩn thận trong nghiên cứu, tỉ mỉ phân tích các dữ liệu thu thập được. Họ hiểu rằng, bất cứ thành công nào cũng cần phải có thời gian, phải nỗ lực phấn đấu, huống chi việc chứng minh thực sự có một loại tế bào như Treg, một điều quá mới mẻ còn gian khó thế nào.

Ở một quốc gia phát triển như Nhật, vấn đề liêm chính học thuật rất được chú trọng, và chính sự liêm chính ấy làm nên phẩm cách và danh dự của một nhà khoa học và giá trị cho những nghei6n cứu của họ. Địa vị, danh vọng, tiền tài không đánh gục được cái cốt cách, tinh thần của vợ chồng thầy Sakaguchi. Thầy và cô vẫn làm những việc họ cần làm, với niềm tin vào chính mình, với niềm tin rằng họ đi đúng hướng. Họ làm thật, nghiên cứu thật, ra kết quả thật, chậm mà chắc, không vội vàng, không hơn thua với những người chê bai họ, không háo thắng trước những ai chỉ trích họ, dù lắm khi họ không có được ai ủng hộ, không có được một đồng tài trợ trợ nào.

Thứ ba, duy trì thói quen tích cực, như đọc sách, rèn luyện thể thao.

Khi còn ở quê nhà Nagahama, Shiga, thầy thường xuyên đạp xe dọc theo hồ Biwa, và ngày nay thầy vẫn cùng hiền thê của mình đi bộ để rèn luyện sức khoẻ, như đi dọc bờ sông Kamo ở cố đô Kyoto.

Thầy ham đọc sách từ bé, nhất là triết học và y học, từ tủ sách gia đình do cha là giáo viên, mẹ là bác sĩ. Ngày nay, tuy bận trăm công ngàn việc, thầy vẫn dành thời gian đọc sách. Chúng ta có thể dành dùm tiền để mua sách đọc, hay tìm, tải các bản ebook của các loại sách mà chúng ta muốn đọc. Có thời gian thì nên đọc sách để mở mang nhận thức, hiểu biết, và đó cũng là cách để giúp chúng ta bình tâm lại trước những gian khó.

Nhà miễn dịch học ấy cũng ít khi sử dụng điện thoại. Để có thể tập trung nghiên cứu, tránh phân tâm khi làm việc, thì việc hạn chế tiếp xúc với điện thoại là điều cần thiết. Thành công của thầy Sakaguchi một phần cũng nhờ vào điều đó.

Thứ tư, đó là khát vọng cống hiến cho xã hội.

Thầy Sakaguchi quyết tâm theo đuổi miễn dịch không phải vì để trở thành người nổi danh thiên hạ, mà là để cứu chữa cho bệnh nhân, đem lại ánh sáng và hy vọng cho họ và gia đình của họ. Nhiều căn bệnh hiện nay khó chữa, nhưng với những tấm lòng và trí tuệ như của thầy Sakaguchi, nền y học thêm tiến bộ, nhiều cơ chế sinh học trong cơ thể được hiểu rõ, mở ra nhiều phương pháp điều trị mới cho những căn bệnh tưởng chừng không thể nào có thể chữa khỏi.

Nay khi đã ở độ tuổi "thất thập cổ lai hy", đã nổi danh thiên hạ, thầy vẫn cùng cô làm việc trong phòng thí nghiệm của họ ở ĐH Osaka, vẫn thương mại hoá những liệu pháp tế bào Treg trong điều trị ung thư và bệnh tự miễn bằng việc lập ra công ty Regcell Inc, đem lại lợi ích cho hàng triệu bệnh nhân và gia đình của họ.

Thứ năm, đó là sự giản dị.

Thầy đã là một nhà khoa học nổi tiếng với nhiều giải thưởng, ngoài Giải Nobel Y học thì thầy còn được các giải thưởng khác như Giải Y sinh học Keio (2008), Giải Asahi (2011), Huân chương Văn hoá Nhật Bản (2019), Giải Robert Koch (2020),...

Nhưng danh vọng không làm thầy thay đổi, vẫn giản dị như xưa, không trang phục sang trọng, không nhà cao cửa rộng xe đắt tiền. Một nhà khoa học chân chính, một nhà giáo đáng kính.

Thứ său, đó là sự trân trọng, biết ơn, nhất là với gia đình, với người đã cùng kề vai sát cánh vượt gian khó.

"Không có bà ấy, sẽ chẳng có tôi hôm nay" - đó là sự tri ân của thầy Sakaguchi trong buổi họp báo ở ĐH Osaka khi thầy đạt Giải Nobel Y học dành cho người vợ tào khang, người đồng chí mà thầy đã gắn bó suốt hơn nửa đời người, trong cả tình duyên vợ chồng và cả hành trình nghiên cứu. Họ đã xuất hiện cùng nhau trong buổi họp báo, như hàng ngày, họ sát cánh bên nhau, cùng nhau vượt qua bao thử thách, hay chia sẻ những khoảnh khắc đời thường. Những tình cảm chân thành, thuỷ chung son sắt ấy đã gắn kết họ với nhau như keo sơn, làm nên bộ đôi Sakaguchi - "cặp đôi vàng của làng nghiên cứu y học" trên hành trình qua lại giữa 2 quốc gia Nhật, Mỹ, và chinh phục thế giới.

Một nhân cách lớn với một hành trình vĩ đại, chứa nhiều bài học và giá trị sâu sắc mà thế hệ hậu bối chúng ta nên học hỏi và noi theo.

Càng tìm hiểu về thầy, mình càng cảm động và khâm phục thầy, càng quyết tâm theo đuổi con đường khoa học đầy thử thách, chông g*i mà ý nghĩa này. Còn bạn, bạn đã học hỏi được gì từ vị GS khả kính đã đạt Giải Nobel Y học ấy?

Ảnh: Asahi Shimbun

Ngày nay, nhiều bạn trẻ khi gặp những chuyện không may, những khó khăn, thất bại thì đã chán nản, muốn buông xuôi, mất n...
26/10/2025

Ngày nay, nhiều bạn trẻ khi gặp những chuyện không may, những khó khăn, thất bại thì đã chán nản, muốn buông xuôi, mất niềm tin vào bản thân, cho rằng mình kém cỏi, thất bại.

Các bạn có thể nghĩ rằng những người tài giỏi, thành đạt ngoài kia luôn gặp may mắn, thành công, thuận buồm xuôi gió gặt hái được những thành tựu to lớn, thậm chí coi họ như những "chiến thần" bất khả chiến bại, và chỉ biết nhìn vào họ mà ước, nhưng lại hoang mang, thiếu tự tin vào bản thân, không dám bước tiếp.
Nhưng, thực ra những người thành công ấy cũng đã từng phải nếm trải những khó khăn, gian nan như chúng ta mà thôi. Khác ở chỗ cách họ tư duy và hành động.

Hãy lấy ví dụ thầy Sakaguchi Shimon, người đạt giải Nobel Y học năm nay với những khám phá về tế bào T điều hoà (Treg), những tế bào đóng vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình gia giáo ở Nagahama, một thành phố nhỏ thuộc tỉnh Shiga, bên hồ Biwa nổi tiếng với phong cảnh đẹp của vùng Kansai, gần cố đô Kyoto và thành phố Osaka hiện đại sầm uất. Cha thầy là một giáo viên, mẹ thầy là bác sĩ, bên ngoại thầy nhiều đời theo ngành y. Trong khi anh trai theo nghiệp cha thì thầy Sakaguchi lại ấp ủ ước mơ theo đuổi ngành y, trở thành một bác sĩ như mẹ và bên ngoại, đặt nguyện vọng vào học ngành y tại ĐH Kyoto danh giá.

Tuy nhiên, năm đầu thi vào đấy thì thầy lại rớt.

Nhưng, thầy không để điều đó làm thầy suy sụp, mà thầy lại đứng dậy, tiếp tục bước đến, tiếp tục ôn luyện. Kết quả, thầy đã trở thành sinh viên khoa y tại Kyodai. Thầy đã học ở đó từ bậc đại học đến sau đại học, tốt nghiệp Tiến sĩ tại ngôi trường quốc lập hàng đầu nơi cố đô ngàn năm.

Những năm 1980, khi thầy công bố giả thuyết về sự tồn tại của một loại tế bào có thể kiểm soát những phản ứng miễn dịch, thầy đã bị giới khoa học quay lưng, vì họ cho rằng không hề có một loại tế bào nào như vậy. Những dự án nghiên cứu của thầy để chứng minh loại tế bào ấy thực sự tồn tại không được ủng hộ, gần như suốt thời gian dài phòng thí nghiệm của thầy không được tài trợ, và rất ít người tham gia lab thầy. Chỉ có thầy và người vợ tào khang - BS Sakaguchi Noriko - vẫn miệt mài làm việc, nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, giữ vững đam mê, nhiệt huyết và niềm tin rằng họ đi đúng hướng.

Thầy vẫn rắn rỏi, mạnh mẽ, bền chí, vững gan, cùng vợ tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu. Những lời đàm tiếu, những sự chê bai, những câu phản bác của những người đồng nghiệp, những người trong giới khoa học không làm thầy chán nản, buông xuôi. Thầy không dao động hay nao núng vì những điều đó.

Cuối cùng, năm 1995, thầy Sakaguchi đã chứng minh thành công rằng loại tế bào ấy thực sự tồn tại, với tên gọi Treg. Cuối cùng, những gì thầy làm đã được công nhận. Từ đó, những hướng đi mới để phát triển những liệu pháp mới để chữa bệnh cho các bệnh nhân trên toàn thế giới đã được mở ra.

Thầy là minh chứng cho câu tục ngữ "Có công mài sắt, có ngày của Việt Nam và câu hát "What doesn't kill you make you stronger" trong bài hát Stronger của Kelly Clarkson.

Và nay, thầy Sakaguchi đã được giải Nobel Y học cho những khám phá, nghiên cứu của mình về Treg. Đó không chỉ là phần thưởng lớn nhất cho riêng thầy, mà còn cho cả người hiền thê đã luôn gắn bó, ủng hộ, tin tưởng, yêu thương, đồng hành với nhau, xem nhau là đồng chí. Họ đã cùng nhau kiên trì vượt vạn dặm trùng dương lớp lớp của những sự hoài nghi, của những lời phản bác, đàm tiếu trong giới khoa học.

Nếu thầy là người yếu đuối, bạc nhược, tâm lý không vững vàng, không biết trân trọng, có lẽ thầy Sakaguchi khó có thể có được một người vợ, một người đồng chí như thế. Thầy luôn hiểu rằng mình không thể thành công một mình mà không có cô, và vẫn luôn trân trọng hiền thê của mình.

Tình nghĩa ấy thật đẹp biết bao!

Họ cũng là minh chứng cho câu "Gió tầng nào gặp mây tầng đó". Việc chọn người hôn phối cũng rất quan trọng là vì thế.

Bộ đôi Sakaguchi hội tụ vẻ đẹp của tri thức, của tình yêu chân thành, của ý chí mãnh liệt, của sự giản dị, và những điều đó đã làm nên tất cả những sự thành công của họ ngày hôm nay. Cùng nhau đạp tuyết tầm mai từ thưở ban sơ, họ nâng đỡ nhau và đã thành công trong việc góp phần xua tan đi những mây mờ trong miễn dịch học, để rồi trời xanh hiện ra, hy vọng hiện ra cho biết bao bệnh nhân.

Không phải danh vọng cao sang, mà chính là lòng nhiệt thành vì tương lai tốt hơn của bệnh nhân. Không phải giàu về tiền bạc, mà giàu về ý chí, nghị lực, niềm tin vào nhau và vào con đường họ đã chọn. Không phải đao to búa lớn, mà chính từ hành động, từ sự nỗ lực phấn đấu vượt ngàn chông g*i. Đó là cách họ đã chinh phục thế giới.

Thầy Sakaguchi khi có thời gian vẫn đọc sách như thời niên thiếu, cùng cô đi bộ quanh hồ, ven sông, nói chuyện. Thầy cũng thích vẽ tranh và dành thời gian tham quan những bảo tàng nghệ thuật. Không chỉ giỏi chuyên môn, thầy vẫn dành thời gian cho niềm đam mê khám phá tri thức, mở mang hiểu biết, làm tâm hồn thêm phong phú và giữ gìn sức khoẻ. Và đặc biệt, thầy ít khi sử dụng điện thoại, để dành sự tập trung vào công việc nghiên cứu khoa học nhiều chông g*i. Những điều đó đã giúp ích cho thầy Sakaguchi rất nhiều.

Nay, khi đã ngoài 70 và có tất cả, vợ chồng Sakaguchi vẫn minh mẫn, khoẻ mạnh, miệt mài làm việc với niềm đam mê nghiên cứu miễn dịch nói chung và loại tế bào Treg nói riêng, vẫn dạy cho các thế hệ sinh viên những bài học quý báu về ý chí nghị lực, về sự đóng góp và cống hiến cho xã hội.

Lịch sử đã ghi lại tên tuổi của họ, và ngàn năm sau họ vẫn sẽ còn được vinh danh. Họ là minh chứng rõ nét cho cốt cách và tinh thần của người Nhật.

Những gì họ làm để lại giá trị đến muôn đời sau, và thật ý nghĩa vô cùng khi chúng ta có thể học hỏi được phần nào từ họ.

Với tình yêu vợ chồng hoà cùng tình yêu khoa học, họ đã sát cánh cùng nhau và viết nên một câu chuyện đẹp, để lại những ...
25/10/2025

Với tình yêu vợ chồng hoà cùng tình yêu khoa học, họ đã sát cánh cùng nhau và viết nên một câu chuyện đẹp, để lại những bài học quý báu. Đó chính là cặp đôi Sakaguchi đã làm nên tên tuổi trong miễn dịch học.

GS Sakaguchi Shimon, là người Nhật Bản đã đạt giải Nobel Y học năm nay 2025 với những khám phá về tế bào T điều hoà (Treg). Những thành công của thầy có được cũng có công lớn từ người vợ tào khang của thầy, BS Sakaguchi Noriko. Nay tuy đều đã ở độ tuổi "thất thập cổ lai hy" họ vẫn còn rất minh mẫn, cùng nhau làm việc ở Trung tâm Nghiên cứu Miễn dịch Tiên phong, ĐH Osaka.
Họ gặp nhau khi cả hai đều ngoài 20 tuổi, khi thầy là nghiên cứu sinh ngành y ở ĐH Kyoto và cô là sinh viên y khoa tại ĐH Thành phố Nagoya, bấy giờ đang thực tập tại Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Aichi. Nếu thầy chinh phục cô bằng "ánh mắt nghiêm nghị và niềm đam mê hiếm thấy" thì cô lại chinh phục thầy bởi sự lạc quan, vui vẻ. Họ kết hôn năm 1979 và cùng nhau chuyển đến Hoa Kỳ vào năm 1983, nơi họ tiếp tục cùng nhau làm nghiên cứu ở Mỹ và ở Nhật.

Họ xem nhau là những người đồng chí, đồng đội. Thầy Sakaguchi cho rằng, sự hiện diện của hiền thê là vô cùng to lớn, và nếu không có cô thì thầy khó có thể sẽ có được ngày hôm nay.
Trong suốt nhiều thập kỷ, giả thuyết của thầy về sự tồn tại của một loại tế bào có thể kiểm soát phản ứng miễn dịch đã bị giới khoa học phản đối, nhưng đôi vợ chồng Sakaguchi chưa bao giờ vì thế mà từ bỏ, vẫn kiên định, giữ vững lập trường của mình, dù phải "chống lại cả thế giới".

Khám phá của họ đã trao cho ngành y một "bộ công cụ mới" mở đường cho hàng loạt hướng điều trị bệnh tự miễn, ung thư và cả cải thiện dung nạp trong ghép tạng, giúp ích cho hàng ngàn bệnh nhân. Hiện nay họ đang cùng nhau làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Miễn dịch Tiên phong thuộc Đại học Osaka, và thương mại hóa liệu pháp tế bào Treg trong điều trị ung thư và bệnh tự miễn.
Và ngay cả khi đã thành công, họ vẫn giản dị, lao động miệt mài, cùng nhau đi dạo dọc theo bờ sông Kamo ở đất cố đô Kyoto, nói chuyện về khoa học.

Nay, họ được cả thế giới kính trọng và khâm phục với vẻ đẹp của tình yêu và trí thức. Họ không phô trương, mà họ cùng nhau kiên trì chinh phục con đường họ đã chọn.

"Không có 9 lần thất bại thì sẽ không có 1 lần thành công"Đó là điều mà thầy Yamanaka Shinya (sinh năm 1962, người Osaka...
23/10/2025

"Không có 9 lần thất bại thì sẽ không có 1 lần thành công"

Đó là điều mà thầy Yamanaka Shinya (sinh năm 1962, người Osaka), GS ĐH Kyoto, người đã đạt giải Nobel Y học năm 2012 với những khám phá về tế bào gốc đa năng cảm ứng (iPSC), chia sẻ. Loại tế bào mà thầy khám phá và dày công nghiên cứu được xem là loại "tế bào trong mơ" do có khả năng biệt hoá thành các dòng tế bào khác nhau, từ đó mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới trong việc hỗ trợ chữa trị các loại bệnh khó trong tương lai, cứu giúp hàng ngàn bệnh nhân.

Thầy Yamanaka rất yêu thích thể thao, thầy từng chia sẻ là khi còn là học sinh ở Osaka, 1 năm có 365 ngày thì đến 360 ngày thầy dành thời gian luyện tập judo và nhờ sự khổ luyện đó, thầy đã đạt đai đen nhị đẳng. Ngoài ra, thầy còn chơi rugby và chạy Marathon khi còn là sinh viên đại học. Thầy từng cùng GS Noyori Ryōji (sinh năm 1938, đạt giải Nobel Hoá học năm 2001) tham dự lễ trao Giải vô địch bóng bầu dục toàn Nhật Bản lần thứ 50 vào năm 2013.

Từ những chấn thương khi luyện tập thể thao đã dẫn thầy đến việc quyết tâm theo đuổi ngành y, và cũng chính từ việc muốn nghiên cứu ra những phương pháp mới để chữa các loại bệnh cho bệnh nhân đã dẫn đường thầy đến con đường trở thành nhà nghiên cứu về tế bào gốc.

Thầy tốt nghiệp ngành y tại ĐH Kobe vào năm 1987, rồi lấy bằng Tiến sĩ Khoa Y, ĐH Thành phố Osaka (nay là ĐH Công lập Osaka) vào năm 1993, rồi trải qua thời gian làm bác sĩ nội trú về phẫu thuật chỉnh hình tại Bệnh viện Quốc gia Osaka và nghiên cứu sinh sau Tiến sĩ tại Viện Tim mạch Gladstone, San Francisco. Sau khi kết thúc chương trình nghiên cứu sinh sau Tiến sĩ, thầy được nhận ở lại làm việc ở đó rồi về nước làm việc tại Viện Khoa học và Công nghệ Nara ở Nhật Bản, trước khi trở thành Giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng iPS (CiRA), ĐH Kyoto (Kyodai).
Năm 2006 là năm mà thầy Yamanaka và các cộng sự bắt đầu nghiên cứu về iPSC, và chứng minh được những tế bào này có khả năng tạo ra tất cả các dòng tế bào của cơ thể. Nhóm nghiên cứu của thầy Yamanaka cũng là những người đầu tiên đã tạo ra những tế bào iPS từ nguyên bào sợi người trưởng thành, với việc sử dụng nhiều yếu tố phiên mã, trong đó có 4 yếu tố phiên mã quan trọng là Sox2, Oct4, Klf4 và c-Myc.

Ở Nhật, 60 tuổi là độ tuổi về hưu, nhưng giờ đây tuy đã ngoài lục tuần nhưng thầy vẫn tiếp tục làm việc tại CiRA, Kyodai với tư cách là Giám đốc danh dự. Thầy luôn rất nhiệt tình và tâm huyết với ngành. Khi người đồng nghiệp ở ĐH Osaka, GS Sakaguchi Shimon, được giải Nobel Y học năm nay với những khám phá về tế bào T điều hoà, thầy Yamanaka đã chúc mừng với lòng kính trọng sâu sắc nhất. Những lúc giảng bài cho sinh viên, thầy Yamanaka luôn nở nụ cười trên môi, và khuyến khích sinh viên ngành y theo đuổi lĩnh vực này.

Với thầy Yamanaka, để có được những thành quả như hôm nay, đó là sự kết hợp của 2 chữ cái là V (Vision - tầm nhìn) và W (Work hard - làm việc chăm chỉ), và luôn cố gắng nỗ lực để đạt được những mục tiêu đã đề ra, kiên trì khổ luyện theo đuổi đến cùng mà không từ bỏ, cho dù khó khăn đến đâu, thất bại bao nhiêu lần.
Ảnh: Kyoto University

Một đề tài thú vị và hữu ích về khoa học thần kinh 😊
19/10/2025

Một đề tài thú vị và hữu ích về khoa học thần kinh 😊

Người thuyết trình:Đinh Hương Linh: sinh viên, The Hong Kong University of Science and TechnologySenior mentee:Nguyễn Thị Phương Lan: MS, MDLê Duy Hoàng: MS,...

Nhóm nghiên cứu của tiến sĩ Thu-Thuy Dang và nghiên cứu sinh Tuan-Anh Nguyen tại Canada vừa phát hiện cơ chế giúp thực v...
13/10/2025

Nhóm nghiên cứu của tiến sĩ Thu-Thuy Dang và nghiên cứu sinh Tuan-Anh Nguyen tại Canada vừa phát hiện cơ chế giúp thực vật tạo ra mitraphylline - hợp chất hiếm có đặc tính chống ung thư.

Mitraphylline là một hợp chất tự nhiên hiếm có khả năng chống ung thư và kháng viêm mạnh mẽ. Nó thuộc nhóm alkaloid spirooxindole - các phân tử có cấu trúc "xoắn" đặc biệt và hiệu ứng sinh học mạnh.

Dù được biết đến từ lâu, quá trình phân tử này hình thành trong tự nhiên vẫn là bí ẩn cho tới khi nhóm của tiến sĩ Thu-Thuy Dang, Trưởng nhóm nghiên cứu công nghệ sinh học sản phẩm tự nhiên tại Đại học British Columbia Okanagan (UBC Okanagan, Canada), tìm ra enzyme đầu tiên có khả năng "vặn xoắn" phân tử để tạo dạng spiro (dạng hợp chất có ít nhất hai vòng phân tử chia sẻ một nguyên tử chung) vào năm 2023.

Tiếp nối kết quả đó, nghiên cứu sinh Tuan-Anh Nguyen đã dẫn đầu giai đoạn kế tiếp, phát hiện hai enzyme then chốt phối hợp với nhau trong quá trình tổng hợp mitraphylline: một enzyme quyết định cấu trúc ba chiều, enzyme còn lại hoàn thiện bước xoắn cuối cùng để hình thành phân tử hoàn chỉnh.

Tiến sĩ Dang ví von: "Phát hiện này giống như tìm thấy các mắt xích còn thiếu trong dây chuyền lắp ráp. Nó giúp giải đáp câu hỏi lâu nay về cách tự nhiên tạo ra những phân tử phức tạp này, đồng thời mở ra hướng mô phỏng quy trình đó trong phòng thí nghiệm".

Mitraphylline tự nhiên chỉ có ở lượng rất nhỏ trong một số loài cây nhiệt đới thuộc họ cà phê như Mitragyna (cây kratom) và Uncaria (móng mèo), khiến việc chiết xuất hoặc tổng hợp quy mô lớn trở nên khó khăn và tốn kém.

Với việc xác định được hai enzyme chủ chốt, nhóm UBC đã đặt nền tảng cho quy trình sản xuất hợp chất tự nhiên hiệu quả và thân thiện môi trường hơn.

"Phát hiện này mở ra cách tiếp cận hóa học xanh để tạo ra các hợp chất có giá trị dược phẩm cao", nghiên cứu sinh Nguyen cho biết. "Đây là kết quả của môi trường nghiên cứu hợp tác giữa sinh viên và giảng viên tại UBC Okanagan, nơi chúng tôi cùng nhau giải quyết các vấn đề mang tầm toàn cầu".

Công trình là sản phẩm hợp tác giữa nhóm của tiến sĩ Dang tại UBC Okanagan và nhóm của tiến sĩ Satya Nadakuduti tại Đại học Florida (Mỹ), với sự hỗ trợ của Hội đồng Nghiên cứu khoa học tự nhiên và Kỹ thuật Canada (NSERC), Quỹ Đổi mới Canada, Chương trình Học giả y tế BC Michael Smith, và Viện Nông nghiệp và Thực phẩm quốc gia thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ.

"Chúng tôi tự hào về phát hiện này - bằng chứng cho thấy thực vật là những nhà hóa học thiên tài của tự nhiên", tiến sĩ Dang nói. "Bước tiếp theo, chúng tôi sẽ tìm cách ứng dụng các enzyme này để tạo ra nhiều hợp chất điều trị có giá trị khác".

Theo báo Tuổi Trẻ

*Cách ghi tên của 2 nhà khoa học theo thứ tự tên trước họ sau theo quốc tế.

Quý anh chị bạn em nào quan tâm đến sinh học cấu trúc thì tham gia nhé 😊
12/10/2025

Quý anh chị bạn em nào quan tâm đến sinh học cấu trúc thì tham gia nhé 😊

Vào 9 giờ tối Chủ Nhật hôm nay (12 tháng 10, 2025), nhóm IBSG sẽ tổ chức buổi webinar của tháng với diễn giả là TS Nguyễn Văn Sơn. Anh đã từng chia sẻ nghiên cứu của anh với nhóm năm 2022. Trong buổi webinar lần này, anh Sơn sẽ tiếp tục chia sẻ những kết quả nghiên cứu mới nhất của anh về lĩnh vực sinh học cấu trúc bằng công nghệ CryoEM. IBSG xin mời các anh chị em tham gia buổi webinar qua Zoom như trong hình.

Các bạn nào đang là sinh viên đại học hay đã tốt nghiệp đại học muốn du học các bậc sau đại học ở nước mà chưa có công b...
10/10/2025

Các bạn nào đang là sinh viên đại học hay đã tốt nghiệp đại học muốn du học các bậc sau đại học ở nước mà chưa có công bố bài báo khoa học nào thì cũng không sao cả các bạn nhé!

Bạn nào có rồi thì tốt, 1-2 bài thì cũng đã là OK rồi. Nhưng những bạn còn chưa có công bố nghiên cứu khoa học nào thì cũng không sao cả. Trong suốt 4 năm là sinh viên đại học thì mình vẫn phải ưu tiên nhiều cái khác theo yêu cầu của chương trình để tốt nghiệp.

Các bạn nào muốn học lên Thạc sĩ, Tiến sĩ cứ từ từ tìm hiểu các lĩnh vực chuyên ngành, tìm hiểu các xu hướng nghiên cứu trong các lĩnh vực ấy xem cái nào được quan tâm, cái nào chưa nhiều người nghiên cứu hay có nhiều nghiên cứu rồi nhưng cái gì vẫn chưa làm rõ.

Để tốt nghiệp Tiến sĩ ở các nước có nền khoa học phát triển như Nhật, Hàn, Mỹ, Canada, Úc, Pháp,..., cần phải có ít nhất là một bài báo khoa học được công bố trên những tạp chí uy tín. Để xem những tạp chí nào uy tín thì các bạn xem trong ngành, lĩnh vực bạn muốn học lên, các thầy cô ở các trường tốp đầu của các nước họ thường công bố ở tạp chí nào, như bên Y sinh học mình thì mọi người sẽ công bố trên những tạp chí như Nature, iScience, Science Advance, Blood Advance, Experimental Hematology, Frontiers in Immunology, EMBO Molecular Medicine,...

Làm nghiên cứu khoa học, quan trọng là chất lượng, trung thực, liêm chính trong học thuật, làm thật nghiên cứu thật, nỗ lực phấn đấu, tập trung cẩn thận. Không ngừng học hỏi, nâng cao kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm từ thầy cô, các anh chị đi trước, bạn bè, từ sách vở. Nên tham gia các hội thảo, hội nghị, seminar, journal club, workshop khoa học online và offline mà sinh viên có thể tham gia miễn phí để tăng cường học hỏi từ cách bậc tiền bối, cũng như để kết nối với họ, tăng thêm cho bản thân những gắn kết với môi trường khoa học.

Bạn không cần phải tiếc nuối về việc muốn du học các bậc sau đại học mà chưa có công bố nghiên cứu khoa học. Bạn chỉ nên tiếc nuối khi mà bạn chưa cố gắng nỗ lực hết mình để vượt qua những khó khăn, còn ngại núi e sông, còn ở trong vùng an toàn chưa dám vượt muôn vạn dặm trùng dương lớp lớp để đi một cuộc đại hải trình mang tên du học sau đại học.

Một bài báo khoa học thực sự chất lượng sẽ cần nhiều năm kiên trì nỗ lực, sẽ cần phải có cái tâm cống hiến, phục vụ cộng đồng, đem lại những giá trị ý nghĩa.

Ai mà có suy nghĩ học lên Thạc sĩ Tiến sĩ chỉ là để có cái danh, cái mác mà khè người khác, chạy theo số lượng công bố, bị bệnh thành tích thì nên cân nhắc, xem xét lại. Hãy nên ưu tiên cho những người nào thực sự muốn học lên, thực sự muốn nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm chuyên môn, thực sự muốn đóng góp cho xã hội họ có cơ hội học đi thì hơn.

Người thực sự muốn học thì họ càng học càng khiêm tốn, càng thấy nhiều người khác giỏi hơn, mà không ngừng phấn đấu, nỗ lực, cải thiện, vươn lên trong việc học hỏi từ những người đi trước và tự học. Họ không xem những thành tích của họ là cái gì để loè thiên hạ, để khoác lác là mình hay giỏi, mà xem những gì mình đã đạt được làm động lực để tiếp tục bước đi xa hơn, và chú trọng vào việc phục vụ cho cộng đồng, cho xã hội.

Nhật Bản có nhiều giải Nobel khoa học, năm nay có 2 thầy được giải Nobel về Y là thầy Sakaguchi Shimon ĐH Osaka và Hoá là thầy Kitagawa Susumu ĐH Kyoto. Đó là vì Nhật Bản họ đề cao tính trung thực, kỷ luật, thực học thực làm trong mọi lĩnh vực nói chung và trong khoa học công nghệ nói riêng.

"Có rất nhiều điều thú vị trên thế giới này. Hãy trân trọng những gì bạn thực sự quan tâm, tập trung theo đuổi chúng và ...
08/10/2025

"Có rất nhiều điều thú vị trên thế giới này. Hãy trân trọng những gì bạn thực sự quan tâm, tập trung theo đuổi chúng và không ngừng tiếp tục. Rồi một ngày nào đó, bạn có thể thấy mình ở một nơi xứng đáng một cách bất ngờ. Điều đó không chỉ đúng trong khoa học mà còn trong bất kỳ lĩnh vực nào."

- GS Sakaguchi Shimon, nhà miễn dịch học người Nhật Bản được trao giải Nobel Y học năm nay về những khám phá liên quan đến tế bào T điều hoà (Treg), một loại tế bào hoạt động như một bộ phanh trên hệ thống tự miễn dịch. GS đã chứng minh rằng việc làm giảm số lượng hoặc ứng chế chức năng của tế bào Treg có thể thúc đẩy phản ứng với tế bào ung thư. Thầy cũng đã chỉ ra rằng việc tăng cường tế bào T điều hòa, hoặc tăng cường hoạt động của chúng, có thể giúp ngăn cơ thể đào thải các cơ quan được cấy ghép. Thầy Sakaguchi trở thành nhà khoa học thứ 6 của Nhật Bản đạt giải Nobel Y học.

Thầy sinh năm 1951, quê ở thành phố Nagahama, một thành phố nằm bên bờ hồ Biwa tỉnh Shiga, vùng Kansai. Sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ ở ĐH Kyoto, thầy sang ĐH Johns Hopkins, một trong những trường y danh tiếng của Mỹ để nghiên cứu về miễn dịch học đến năm 1991 thì về nước và làm việc tại ĐH Thủ đô Tokyo. Đến năm 1998 thầy sang làm việc tại ĐH Kyoto rồi chuyển sang ĐH Osaka làm việc từ năm 2011 đến nay.

"Nhà vật lý Yukawa Hideki đã trở thành người đoạt giải Nobel khi tôi còn nhỏ. Với tôi, các nhà khoa học dường như là những con người phi thường", thầy Sakaguchi nói, và chính thầy cũng là bằng chứng cho thấy phi thường không có nghĩa là không thể.
Rõ ràng, nếu chúng ta có mục tiêu và bền bỉ, nỗ lực chăm chỉ kiên trì theo đuổi mục tiêu ấy, không ngại gian khó hay thất bại mà học hỏi, trau dồi, phát triển, chúng ta sẽ tiến xa trên con đường dài.

Không có lối tắt hay đường ngắn nào cả.

Cre ảnh: NHK.

Giáo sư Vũ Triệu An và đóng góp lớn cho ngành miễn dịch học Y khoaVới 70 năm công tác trong ngành y tế Việt Nam, Giáo sư...
07/10/2025

Giáo sư Vũ Triệu An và đóng góp lớn cho ngành miễn dịch học Y khoa

Với 70 năm công tác trong ngành y tế Việt Nam, Giáo sư Vũ Triệu An là người có công lớn trong ngành sinh lý bệnh học và miễn dịch học của Việt Nam. Ông được phong danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và nhận Huân chương Độc lập hạng 2.

Bác sĩ - người lính Vũ Triệu An

Giáo sư Vũ Triệu An (1925-2023) đã khép lại hành trình cuộc đời, để lại muôn vàn nhớ thương, tiếc nuối cho gia đình, học trò, đồng nghiệp. Cả cuộc đời, Giáo sư Vũ Triệu An sống và làm việc với tinh thần khoa học, cống hiến. Y đức và y năng là điều ông luôn tâm niệm, trau dồi, cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cứu chữa người bệnh.

Giáo sư Vũ Triệu An sinh ngày 16/3/1925 tại Thái Bình, trong một gia đình chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền giáo dục Nho học. Ông trưởng thành trong lúc các phong trào thanh niên yêu nước ở Thái Bình và tưởng nhớ Phan Chu Trinh phát triển cao trào.

Năm 1940, Vũ Triệu An thi đỗ vào học trường Thành chung Lê Quý Đôn ở thị xã Thái Bình. Năm 1945, bầu không khí Cách mạng tháng Tám sục sôi khắp cả nước, Vũ Triệu An tham gia và hoạt động sôi nổi trong các phong trào thanh niên, sinh viên. Sau khi thi đỗ tú tài, ông ghi danh vào trường Đại học Y khoa.

Giống như nhiều thanh niên thời bấy giờ, ông vừa học vừa chiến đấu ở khắp mọi nơi trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Những năm đó, ông làm việc tại Đoàn giải phẫu lưu động mặt trận phía nam đường số 5, đóng tại làng Phạm Xá, huyện Thanh Miện, Hải Dương (1947); Trung đoàn 42 ở Thái Bình (1948); Quân y viện Khu 3, đóng tại làng Khuốc, Thái Ninh, Thái Bình (1949); Văn phòng Chủ tịch Chính phủ ở An toàn khu Việt Bắc (1950); quân y điều trị tại Phân viện 7, Phân viện 5 ở Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (1950-1954).

Khi đó, Vũ Triệu An được ăn theo chế độ trung táo (cách chia khẩu phần ăn theo ba chế độ: tiểu táo, trung táo và đại táo của quân đội ta một thời), nhưng ông tự hỏi chế độ ăn khác nhau, vậy khi ra chiến trường đối đầu với kẻ địch thì có phân biệt không?. Nghĩ thế, ông cùng nhiều người đã từ chối nhận chế độ này.
Năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, tất cả cán bộ nhân viên của Phân viện 5 đi bộ về Hà Nội rồi về Nam Định. Ông Vũ Triệu An được phân công ở lại giữ lán bệnh viện và chăm sóc vài bệnh binh.

Khi đã sắp xếp công việc ổn thỏa, ông quyết định về Hà Nội, rồi đến gặp thủ trưởng cũ là bác sĩ Nguyễn Thế Khánh, ông thẳng thắn đề nghị: "Một là xếp chỗ làm việc cho tôi, hai là cho tôi xuất ngũ" - sự thẳng thắn, tự tin thể hiện sự vững chãi về chuyên môn mà ít sinh viên Y khoa nào dám nói với thầy giáo cũng là thủ trưởng cũ.

Những công trình của Giáo sư Vũ Triệu An góp phần đặt nền móng cho sự phát triển miễn dịch học

Từ năm 1954-1959 ông là Trưởng khoa Nội A3, Trưởng khoa Truyền máu, Viện Quân y 108. Trong thời gian đó, ông được biệt phái bán thời gian để xây dựng và là người sáng lập bộ môn Sinh lý bệnh của trường Đại học Y Hà Nội. Ngày nay, các thế hệ cán bộ bộ môn Sinh lý bệnh ở khắp các trường Y trên cả nước như: Thái Nguyên, Thái Bình, Hải Phòng, Huế, Cần Thơ... đều không quên công ơn đào tạo, dìu dắt, giúp đỡ của Giáo sư Vũ Triệu An cùng các thế hệ nhà khoa học, cán bộ của bộ môn Sinh lý bệnh, sau là Sinh lý bệnh - Miễn dịch, trường Đại học Y Hà Nội.

Đầu những năm 60, ông cùng học trò nghiên cứu và viết nhiều bài về miễn dịch học. Ông trở thành người thầy lớn của nhiều thế hệ học trò chuyên ngành Sinh lý bệnh - Miễn dịch. Đồng thời ông đã công bố hàng trăm công trình nghiên cứu về các vấn đề: Khả năng đề kháng miễn dịch của người Việt Nam có sức khỏe bình thường, trạng thái miễn dịch khi bị các bệnh thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau như ngoại, nội, sản, nhi, truyền nhiễm, da liễu, huyết học, miễn dịch trong bệnh phong, sốt rét, ung thư, ghép mô, sốt xuất huyết, phơi nhiễm Dioxin,....

Ngoài ra, ông còn đắm đuối với những nghiên cứu về huyết học và gen. Bởi theo ông huyết học và miễn dịch có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong miễn dịch có huyết học và ngược lại.

Ngay từ đầu năm 1952, khi còn là sinh viên tham gia kháng chiến, ông Vũ Triệu An đã được giao nhiệm vụ làm quân y điều trị tại Phân viện 5 đóng ở Vô Tranh, Thái Nguyên. Ngay từ lúc đó, ông đã bắt đầu nghiên cứu về vấn đề truyền máu và nhận thức rằng: Tổ chức truyền máu là rất cần thiết trong thời chiến, và trong thời bình truyền máu vẫn giữ một vai trò không kém phần quan trọng trong y học. Truyền máu có thể ví như cái gậy chống của khoa Phẫu thuật. Có truyền máu, phẫu thuật mới tiến lên được. Trên cơ sở tập hợp các tư liệu, ông đã biên soạn bản thảo sách về lĩnh vực này gồm 4 phần: Lịch sử truyền máu, Lý thuyết các nhóm máu, Thực hành thử nhóm máu, Cách thức tổ chức một trung tâm truyền máu… nhưng vì điều kiện chiến tranh, cuốn sách không được xuất bản. Năm 1962, ông cùng bác sĩ Hoàng Đình Cầu cho xuất bản cuốn Thực hành truyền máu. Đây là cuốn sách đầu tiên về truyền máu ở Việt Nam.

Quá trình nghiên cứu về huyết học, Giáo sư Vũ Triệu An nhận thấy huyết học phản ánh vấn đề con người, dân tộc. Vì vậy ngay từ những năm tháng kháng chiến chống Pháp, ông đã đi sâu tìm hiểu chỉ số huyết học trung bình của người bình thường. Và năm 1960, ông đã hoàn thành bài "Góp phần nghiên cứu những con số trung bình về huyết học ở người Việt Nam miền Bắc". Bài viết nhận định tình trạng thiếu máu ở người Việt Nam rất phổ biến, nguyên nhân là do thiếu ăn, thiếu dinh dưỡng. Sau đó, ông đã có một loạt công bố về vấn đề này như: "Hằng số huyết học ở người Việt Nam bình thường (miền Bắc)", "hằng số huyết học"… Và với ông huyết học, nguồn gốc gen của người Việt Nam, các chỉ số sinh học ở người Việt Nam chính là đam mê lớn trong cuộc đời làm khoa học. Niềm đam mê ấy đã giúp ông thành công và bổ trợ cho một lĩnh vực rất sâu khác là miễn dịch học.

Giáo sư Vũ Triệu An còn là người cá tính đặc biệt, độc lập trong tư duy, thấy việc đúng là làm và làm đến cùng, luôn luôn chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Giáo sư sống trọn vẹn ân tình với bạn bè, người thân và học trò.

Năm 1971, biết tin học trò Nguyễn Văn Nguyên (sau này là Phó Giám đốc Học viện Quân y) chuẩn bị đi B. Ông dùng chiếc xe máy của mình chở học trò đi Tam Đảo chơi và về Phú Thọ thăm gia đình, chia tay bố mẹ. Đường xa, hỏng xe, nhưng ông rất vui vẻ, động viên học trò trước ngày đi xa. Những tình cảm đó được học trò Nguyễn Văn Nguyên trân trọng, ghi nhớ cho đến hôm nay.

Hành trình cuộc đời gần 100 năm của Giáo sư Vũ Triệu An chính là một phần của tiến trình khoa học ngành Sinh lý bệnh - Miễn dịch Việt Nam.

Theo Công dân và Khuyến học

住所

Kumamoto-shi, Kumamoto

ウェブサイト

アラート

Kiến thức Y họcがニュースとプロモを投稿した時に最初に知って当社にメールを送信する最初の人になりましょう。あなたのメールアドレスはその他の目的には使用されず、いつでもサブスクリプションを解除することができます。

共有する

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram