19/09/2020
Tôi muốn dùng đoạn trích này để bắt đầu cho sự ra đời của page này. Ban đầu tôi đặt tên page này là Hatha Yoga & Thiền, và sau nhiều lần đổi tên do mình chưa thực sự kết nối Trí với Tâm để hiểu rõ sứ mệnh của mình trong hành trình đi vào bên trong để lắng nghe trái tim, lắng nghe thông điệp sâu thẳm trái tim mình muốn nói.
Càng tìm hiểu xâu về yoga, mình nhận ra rằng nó là một trong ba bánh xe để đưa chúng ta về đến đích giải thoát. Trong bộ kinh Bhagavad Gita, bộ kinh cổ đại trước công nguyên của Ấn Độ Giáo - Bà La Môn, có 700 đoạn thơ mô tả 3 bánh xe này như sau:
🕉 Yoga (theo khía cạnh vận động cơ thể) là những bài tập thể dục dể duy trì sự dẻo dai, giúp máu huyết lưu thông dễ dàng trong cơ thể.
🌱 Ayurveda là cách chọn lựa Thực Phẩm tuỳ vào cơ địa của mỗi người để cân bằng âm dương. Điều này đỗ trợ cho việc cân bằng tâm trí giảm sự trì trệ cho cơ thể
☯️ Vedic Astrology (chiêm tinh học Ấn Độ Giáo) , đây không phải là công cụ phục vụ cho mê tín dị đoan hay thay đổi số mệnh, Nhiều nhà chiêm học vẫn áp dụng phương pháp này để buôn thần bán thánh, phục vụ cho nhu cầu đạt được dục vọng vật chất của con người mà đi xa dần cốt lõi và cái tinh tế của thuật chiêm tinh Vedanta. Đây là cách vận dụng sự tương quan của vũ trụ để hiểu rõ xứ mệnh, bài học trong kiếp này của mỗi người đã được ấn định từ giây phút chào đời, và tuỳ vào ý chí (freewheel) của mỗi người để có thể tranh thủ từng giây từng phút của kiếp người này, nhận ra ưu khuyết điểm của mình, dâng nạp cái tôi với thiên nhiên và vũ trụ, trở nên khiêm nhường với vạn vật xung quanh và thi đậu bài kiểm tra sát hạch của vũ trụ (hay gọi là duyên nghiệp) để linh hồn (Atman) tiếp tục lên lớp ở hành trình của kiếp tiếp theo đến khi nào hoàn toàn giác ngộ và thoát khỏi luân hồi.
Ba bánh xe này luôn luôn phải chuyển động tròn đều nhau dù cho con đường về đến đích “Giác Ngộ” gồ ghề hay bằng phẳng. Thiếu một trong ba bánh xe thì hành trình về đích này sẽ khó khăn hơn và mất nhiều thời gian hơn, chứ về đến đích hay không lại tuỳ vào ý chí (freewheel), dù cho có đủ 3 bánh xe này.
Ý chí (Freewheel) là tầng ý thức hệ cao nhất mà chỉ khi được sinh ra làm người mới có, động thực vật tồn tại là dựa vào bản năng sinh tồn.
Hiểu rõ điều này và muốn vượt thoát những tham đắm, phân biệt hoặc kỳ thị với một trường phái yoga nào, và để mở ra một cánh cửa cho bản thân để đi vào thế giới của tự do. Mình không muốn mắc vào cái bẫy của não bộ, nó khiến mình muốn bộc lộ cái tôi nhiều hơn là cống hiến. Mọi sự đề cao của bất kỳ trường phái Yoga nào nếu không bám vào cái gốc của sự giải thoát đều phục vụ cho cái bản ngã danh vọng và vật chất.
Trong lúc bản thân mình còn đầy mâu thuẫn về phương hướng để hoàn thiện bản thân thì vô tình mình đọc đến đoạn trích dưới đây, và thế là mình đã có câu trả lời cho mọi vướng mắc trong lòng, và quyết định sử dụng trang này với mục đích chia sẻ với mọi người trãi nghiệm bản thân của mình qua yoga và thiền, những kiến thức mình gom nhặt được từ kho tàng kiến thức về yoga, tâm linh hay cơ thể học theo khoa học thường thức với hy vọng biết đâu mọi người có thể chắt lọc ra cái hay khác cho cá nhân mỗi người.
Om Shanti
📖 Trích "Đường Xưa Mây Trắng" - Thầy Thích Nhật Hạnh
🕉 Mùa mưa năm sau, Bụt lại về Savatthi và an cư tại vườn Cấp Cô Độc. Đầu mùa an cư, người giảng kinh Pháp Ấn.
Hôm đó, tại giảng đường Kỳ Thọ, Bụt nói:
- Có pháp ấn mầu nhiệm, quý vị có biết không? Hôm nay tôi muốn nói cho quý vị nghe về pháp ấn ấy. Qúy vị hãy tháo bỏ mọi tri kiến để cho tâm hồn thanh tịnh thì mới nghe, hiểu và tiếp thị được.
Các vị khất sĩ! Pháp ấn là con dấu chứng thực tích cách chân xác của chánh pháp. Có ba con dấu tất cả. Bất cứ một giáo lý nào, một pháp môn nào mà không có dấu vết của ba con dấu ấy, thì không phải là giáo lý của tôi nói. Ba con dấu là không, vô tướng, và vô nguyện. Ba con dấu ấy cũng là ba cánh cửa để đi vào thế giới của giải thoát. Vì vậy pháp ấn cũng được gọi là ba cánh cửa giải thoát, hay tam giải thoát môn.
Các vị khất sĩ! Con dấu thứ nhất là không (sunnata). Không ở đây có nghĩa là rỗng không, không có tự ngã riêng biệt. Không ở đây không có nghĩa là không đối với có. Như các vị đã biết, chấp có và chấp không là hai kiến chấp sai lầm. Vậy không ở đây có nghĩa là không có một tự ngã riêng biệt, không có một sự tồn tại riêng biệt. Vạn pháp nương vào nhau mà có mặt, không có pháp nào có thể phát sinh và tồn tại một cách độc lập. Các pháp sinh khởi và tồn tại trong liên hệ nhân duyên chằng chịt, cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không, cái này sinh vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt. Do đó, bản chất của không là duyên khởi. Này các vị! Các vị phải tập nhìn vạn pháp trong liên hệ nhân duyên của chúng để thấy được rằng trong một pháp có mặt tất cả vạn pháp, để thấy rằng trong cái một có cái tất cả và ngoài cái một, cái tất cả không thể nào tồn tại. Quán chiếu mười tám giới là sáu căn, sáu trần và sáu thức, quán chiếu năm uẩn là sắc thọ tưởng, hành và thức, các vị sẽ thấy được rằng không có giới nào cũng như không có uẩn nào có tự thể riêng biệt, rằng tất cả đều nương vào nhau mà đứng. Thấy được tính không ấy rồi thì thấy được tính không của vạn pháp. Thấy được tính không ấy rồi thì các vị không còn ước muốn theo đuổi hoặc trốn chạy bất cứ một pháp nào nữa và các vị sẽ đồng thời vượt thoát những tham đắm, phân biệt hoặc kỳ thị đối với tất cả các pháp. Quán chiếu về tính không tức là mở ra một cánh cửa để đi vào thế giới của tự do. Vì vậy không là cánh cửa giải thoát thứ nhất.
Các vị khất sĩ! Con dấu thứ hai là vô tướng (animita). Vô tướng tức là vượt thoát những khuôn khổ của tri giác và của nhận thức phân biệt. Vì không thấy được tự tính duyên khởi của các pháp. Vì không thấy được tự tính duyên khởi của các pháp, vì không chứng đắc được tính không của các pháp, cho nên người đời thường nhìn các pháp như những hiện tượng riêng biệt, độc lập, cái này tồn tại ngoài cái kia, cái này có mặt độc lập với tất cả cái kia. Nhìn các pháp như thế cũng giống như là lấy thanh gươm của nhận thức phân biệt để chặt thực tại ra từng mảnh nhỏ rời rạc, và như thế là không thấy được tự thân của thực tại. Này các vị! Vạn pháp tùy thuộc vào nhau, cái này có trong cái kia, cái này lồng trong cái kia, trong một cái có tất cả mọi cái. Đó là ý nghĩa hai tiếng tương nhập và tương tức. Tương nhập là đi vào trong nhau; tương tức là là nhau. Cái này đi vào trong cái kia, cái kia đi vào trong cái này; cái này là cái kia, cái kia là cái này. Quán chiếu như thế các vị sẽ thấy rằng tri giác của chúng ta đầy dẫy sai lầm. Con mắt của cảm giác không thấy được vạn hữu rõ ràng và chính xác bằng con mắt quán chiếu của trí tuệ. Có khi nhìn sợi dây, con mắt của cảm giác và của tri giác có thể nhận lầm là con rắn, nhưng dưới con mắt của quán chiếu, tự thân của sợi dây được hiển lộ rõ ràng và hình bóng con rắn sẽ tự nhiên tiêu diệt.
Các vị khất sĩ! Các tướng trạng như có, không, sinh, diệt, một, nhiều, còn, mất, tới, đi, dơ, sạch, thêm, bớt ... đều là những tướng trạng mà tri giác và nhận thức phân biệt úp chụp vào thực tại. Đối với đệ nhất nghĩa đế, thì tự thân thực tại không bị giam nhốt trong những phạm trù phân biệt đó, không bị khuôn khổ trong các tướng trạng đó của nhận thức phân biệt, Vì vậy cho nên vạn pháp được gọi là vô tướng. Quán chiếu để làm tan rã những ý niệm có, không, sinh, diệt, một, nhiều, còn, mất, tới, đi, dơ, sạch, thêm, bớt ... các vị sẽ đạt tới giải thoát. Vô tướng vì vậy là cánh cửa mầu nhiệm thứ hai mở ra để ta đi vào thế giới của tự do. Vô tướng là cánh cửa giải thoát thứ hai.
Các vị khất sĩ! Con dấu thứ ba là vô tác, hay là vô nguyện (appanithita). Vô nguyện là không đuổi theo bất cứ một cái gì. Tại sao thế! Thói thường người ta hay muốn trốn chạy khỏi một pháp để đuổi theo một pháp khác. Người đời ưa trốn chạy sự nghèo khổ để đuổi theo sự giàu sang. Người tu đạo ưa trốn chạy sinh tử để đuổi theo giải thoát. Nhưng nếu các pháp có mặt trong nhau, nếu các pháp là nhau, thì ta còn cần trốn chạy pháp nào và đuổi theo pháp nào? Trong sinh tử đã có niết bàn, trong niết bàn đã có sinh tử, niết bàn và sinh tử không phải là hai thực thể riêng biệt. Vậy thì ruồng bỏ sinh tử để chạy theo niết bàn tức là chưa chứng nhập được thể tính duyên sinh của vạn pháp. Chưa chứng nhập tự tính không và vô tướng của vạn pháp. Quán chiếu vô nguyện là để chấm dứt ngay sự tìm cầu và theo đuổi.
Giải thoát và giác ngộ không phải là những pháp có mặt ở ngoài ta. Chỉ cần mở mắt để chiêm nghiệm, thì ta thấy được ta chính là bản thân của giải thoát và giác ngộ. Tất cả các pháp, tất cả chúng sinh đều có sẵn tự tính giác ngộ tròn đầy trong tự thân mình. Các vị đừng đi tìm tự tính ấy ở bên ngoài. Nếu biết xoay ánh sáng quán chiếu vào tự thân, tự khắc các vị thực hiện được giác ngộ. Các vị khất sĩ! Tất cả các pháp trong vũ trụ không pháp nào tồn tại độc lập ngoài nhận thức của các vị, trong đó kể cả niết bàn, trong đó kể cả giải thoát. Các vị không cần đi tìm cầu những thứ ấy ở đâu nữa. Các vị nên nhớ rằng đối tượng nhận thức không tồn tại độc lập với nhận thức. Không đuổi theo một pháp nào, kể cả Phạm Thiên, Niết Bàn và Giải Thoát, đó là ý nghĩa của vô nguyện. Các vị đã là cái các vị đang đi tìm.
Vô nguyện, do đó, là cánh cửa mầu nhiệm thứ ba mở ra để ta đi vào thế giới của tự do. Vô nguyện là cánh cửa giải thoát thứ ba vậy.
Các vị khất sĩ! Đó là giáo lý pháp ấn, đó là pháp môn ba cánh cửa giải thoát. Tam Giải Thoát Môn là pháp môn rất vi diệu, rất mầu nhiệm, các vị nên hết lòng học hỏi và thực tập. Tu tập theo pháp này chắc chắn quý vị sẽ đạt tới tri kiến thanh tịnh, và thực hiện được giải thoát.