05/08/2024
THỜI GIAN THEO DÕI NGƯỜI BỆNH U NÃO VÀ PHỤC HỒI CHỨC SAU ĐIỀU TRỊ U NÃO NHƯ NÀO?
Chăm sóc theo dõi và phục hồi chức năng sau điều trị ung thư nói chung, u não nói riêng rất quan trọng.
Ý nghĩa của theo dõi là phát hiện những triệu chứng bất thường, những dấu hiệu tái phát sớm, điều trị triệu chứng và giải quyết nguyên nhân kịp thời, hạn chế hoặc tránh những triệu chứng bất lợi, những tai biến do bệnh tiến triển nặng, muộn gây nên. Mục đích nâng cao chất lượng sống cho người bệnh, kéo dài thời gian sống, làm chậm sự tái phát của bệnh.
Theo dõi sau điều trị u não được thực hiện bởi bác sĩ phẫu thuật thần kinh hoặc bác sĩ thần kinh hoặc bác sĩ ung bướu thần kinh để khám những dấu hiệu thần kinh , kiểm tra định kỳ qua việc chụp CT và MRI sọ não hoặc tủy sống. Phương pháp theo dõi tốt nhất là chụp cộng hưởng từ (MRI) não hoặc tủy có tiêm thuốc đối quang từ.
Những dấu hiệu bất thường về thần kinh do bệnh u não, u tủy sống tái phát hoặc tiến triển như là:
Yếu vận động tay chân, mất thăng bằng, giảm thị lực, nhìn đôi, giảm hoặc mất trí nhớ, khó nói, khó thực hiện động tác khó hay co giật động kinh tăng lên.
Những triệu chứng về thần kinh của bệnh nhân u não, tủy rất đa dạng, phụ thuộc vào vị trị, kích thước của u, bản chất u.
Thời gian theo dõi người bệnh u não như nào?
Mạng lưới Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ (National Comprehensive Cancer Network- NCCN) đưa ra khuyễn cáo về các môc thời gian theo dõi một số nhóm bệnh u não phổ biến. Tuy nhiên, trong thực tế phụ thuộc vào diễn biến của người bệnh, sự xuất hiện các triệu chứng bất thường, sự đáp ứng với điều trị.
- Với các khối u bậc thấp (chưa ác tính): U thần kinh đệm, u màng não, u màng tủy độ 1 và độ 2 đã phẫu thuật toàn bộ hoặc đã điều trị xạ trị: chụp MRI não có tiêm thuốc tần suất 3-6 tháng/ lần, chụp MRI 6 tháng -1 năm sau 5 năm khỏi bệnh.
- Với các khối u ác tính: U thần kinh đệm độ 3,4, u màng não thất, u màng não độ 3: Việc theo dõi phải sát hơn, tần suất chụp MRI gần hơn. Chụp MRI sau điều trị 2-8 tuần, tiếp theo là sau mỗi 2-4 tháng trong 3 năm đầu và 3-6 tháng cho những năm tiếp theo.
- U nguyên tủy bào (Meduloblastoma): là một loại u não rất ác tính phổ biến nhất ở trẻ em. Điều trị cần phẫu thuật triệt để, hóa chất, xạ trị phối hợp. Việc theo dõi cần chặt chẽ. Trong 1-2 năm đầu sau điều trị, chụp MRI não, tủy định kỳ 3 tháng. Sau 2-5 năm điều trị khỏi bệnh: chụp định kỳ MRI não, tủy sống 6 tháng.
- U tủy ác tính (độ 3, 4): chụp MRI sau điều trị 2-6 tuần, tiếp theo là định kỳ 2-4 tháng trong 2-5 năm tiếp, 3-6 tháng trong 5-10 năm khỏi bệnh. - U não di căn: MRI não định kỳ 3- 6 tháng trong quá trình điều trị để đánh giá đáp ứng điều trị.
Tóm lại, với các khối u não lành tính (độ 1), trung gian (độ 2) đã phẫu thuật triệt để hoặc đáp ứng với xạ trị, cần theo dõi định kỳ 3-6 tháng- 1 năm. Với các khối u não ác tính (độ 3, độ 4) cần theo dõi sát hơn: trong vòng 2 tuần-2 tháng sau phẫu thuật và tiếp theo định kỳ 3 tháng. Tuy nhiên bệnh có thể diễn biến, đáp ứng điều trị khác nhau từng cá thể và một số loại u não có xu hướng chuyển dạng ác tính (từ độ 2 chuyển dạng lên độ 3,4) do đó cần chụp chiếu lại sớm khi có triệu chứng thần kinh diễn biễn bất thường.
Phục hồi chức năng giúp người bệnh lấy lại một số kỹ năng và chức năng bị ảnh hưởng do u não gây nên hoặc sau khi điều trị u não. Phục hồi chức năng giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh. Phục hồi chức năng có thể thực hiện tại nhà hoặc tại cơ sở y tế.
Phục hồi chức năng nhiều chức năng thần kinh khác nhau: phục hồi vận động, phục hồi trí nhớ, phục hồi ngôn ngữ, phục hồi chức năng nghề nghiệp.
Đồng thời người bệnh và người nhà cần được tư vấn, giáo dục sức khỏe để người bệnh hiểu được bệnh của mình, tái khám định kỳ, phòng ngừa thương tích do bệnh tật gây nên.
(Những thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo, việc chẩn đoán và điều trị bệnh cần theo hướng dẫn, tư vấn của bác sĩ chuyên khoa liên quan).