Sản phụ khoa Gia Đình

Sản phụ khoa Gia Đình Nhằm tư vấn về các vấn đề thường gặp của các bệnh lý Sản phụ khoa

Hàng chống táo bón cấp chất xơ cực kỳ hiệu quả.
12/04/2024

Hàng chống táo bón cấp chất xơ cực kỳ hiệu quả.

Chuyên nhiễm trùng tiết niệu cho bà bầu. Ai cần pm số đt zalo 0962132486 nhé
12/04/2024

Chuyên nhiễm trùng tiết niệu cho bà bầu. Ai cần pm số đt zalo 0962132486 nhé

31/10/2023

Thói quen đại tiện có thể liên quan đến mức độ nặng của các triệu chứng mãn kinh
THỨ TƯ, ngày 25 tháng Mười năm 2023 (HealthDay News) – Theo một nghiên cứu được công bố trực tuyến ngày 3 tháng Mười trên Menopause, căng thẳng được ghi nhận và một số triệu chứng tiêu hóa có liên quan đến các triệu chứng mãn kinh.
Bác sĩ Ieva Brimienė từ Vilnius University ở Lithuania và các đồng nghiệp đã đánh giá mối quan hệ giữa các triệu chứng mãn kinh, các triệu chứng tiêu hóa và căng thẳng ở phụ nữ từ tiền mãn kinh đến sau mãn kinh. Phân tích bao gồm kết quả khảo sát từ 693 người tham gia.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng tổng điểm của Bảng câu hỏi Chất lượng Cuộc sống tập trung vào Thời kỳ mãn kinh (MENQOL) tăng lên tùy thuộc vào các giai đoạn lão hóa sinh sản và có mối tương quan tích cực với điểm số của Thang đo Căng thẳng được Ghi nhận (PSS) (r = 0,47). Có mối liên quan đáng kể được quan sát thấy giữa tuổi tác, giai đoạn sinh sản, chỉ số khối cơ thể (BMI), điểm PSS, chẩn đoán trầm cảm hoặc rối loạn lo âu, hoạt động thể chất và tần suất đại tiện với tổng điểm MENQOL. Điểm PSS và chẩn đoán trầm cảm hoặc rối loạn lo âu có liên quan đến điểm số cao hơn trong tất cả các lĩnh vực MENQOL, ngoại trừ tình dục. Các hạng mục vận mạch có liên quan đến hoạt động thể chất và các giá trị của thang đo dạng phân Bristol. Các lĩnh vực tâm lý xã hội và tình dục bị ảnh hưởng độc lập bởi tần suất đại tiện, trong khi các triệu chứng thể chất có liên quan đến chỉ số BMI, hoạt động thể chất và tần suất đại tiện.
Nghiên cứu này cho thấy mối liên quan tiềm tàng giữa thói quen đại tiện và các triệu chứng mãn kinh. Những phát hiện này nhấn mạnh mất estrogen vào thời điểm mãn kinh có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ thống cơ thể và dẫn đến vô số triệu chứng có thể liên quan đến nhau", Bác sĩ Stephanie Faubion, giám đốc y tế của Hiệp hội Mãn kinh Bắc Mỹ, cho biết trong một bài phát biểu. "Cơ chế sinh lý đằng sau các mối liên quan này vẫn chưa rõ ràng và cần được nghiên cứu thêm."

03/10/2023

Rối loạn tiền kinh nguyệt liên quan đến thời kỳ mãn kinh tự nhiên sớm hơn
THỨ TƯ, ngày 27 tháng Chín năm 2023 (HealthDay News) – Theo một nghiên cứu được công bố trực tuyến ngày 19 tháng Chín trên JAMA Network Open, rối loạn tiền kinh nguyệt (PMD) có liên quan đến nguy cơ cao hơn bị mãn kinh sớm.
Yihui Yang từ Karolinska Institutet ở Stockholm và các đồng nghiệp đã xem xét xem nữ giới có rối loạn tiền kinh nguyệt có tăng nguy cơ bị mãn kinh sớm và có các triệu chứng vận mạch liên quan đến mãn kinh (VMS) hay không. Phân tích bao gồm 3.635 người tham gia Nghiên cứu Sức khỏe Y tá II (tháng Sáu năm 1991 đến tháng Sáu năm 2017)
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng mãn kinh sớm tự nhiên (mãn kinh dưới 45 tuổi) được báo cáo từ 17 phụ nữ bị rối loạn tiền kinh nguyệt (7,1/1.000 năm-người) và 12 phụ nữ không bị rối loạn tiền kinh nguyệt (2,7/1.000 năm-người; tỷ lệ nguy cơ được điều chỉnh là 2,67; khoảng tin cậy 95 phần trăm là từ 1,27 đến 5,59). Các triệu chứng vận mạch liên quan đến mãn kinh ở mức độ trung bình hoặc nặng được báo cáo bởi 68,3% số phụ nữ bị rối loạn tiền kinh nguyệt và 55,3% số phụ nữ không bị rối loạn tiền kinh nguyệt (tỷ suất chênh đã điều chỉnh là 1,68; khoảng tin cậy 95% là từ 1,32 đến 2,14). Không có mối liên quan nào được quan sát thấy giữa rối loạn tiền kinh nguyệt và các triệu chứng vận mạch liên quan đến mãn kinh nhẹ (tỷ suất chênh đã điều chỉnh là 0,99; khoảng tin cậy 95% là từ 0,76 đến 1,28).
Các tác giả viết: “Rối loạn tiền kinh nguyệt có thể là dấu hiệu sinh lý nền liên quan đến mãn kinh sớm và các triệu chứng vận mạch liên quan đến mãn kinh, điều đó cho thấy một kiểu hình có thể quan sát được trong những năm sinh sản, điều này có thể cho phép các bác sĩ lâm sàng nhắm đến những phụ nữ có nguy cơ mãn kinh sớm hơn và các nguy cơ sức khỏe sau đó trong cuộc đời”.

25/09/2023

Sinh non liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tắc nghẽn đường thở cao hơn ở tuổi trưởng thành
THỨ TƯ, ngày 26 tháng Tư năm 2023 (HealthDay News) – Theo một nghiên cứu được công bố trực tuyến ngày 29 tháng Ba trên European Respiratory Journal, sinh non là một yếu tố nguy cơ gây bệnh hen suyễn và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) ở tuổi trưởng thành.
Tiến sĩ Anna Pulakka từ University of Oulu ở Helsinki, Phần Lan và các đồng nghiệp đã sử dụng dữ liệu từ sổ đăng ký quốc gia (706.717 người sinh từ 1987 đến 1998 ở Phần Lan [4,8% sinh non] và 1,67 triệu người sinh từ 1967 đến 1999 ở Na Uy [5,0 phần trăm sinh non]) để xem xét mối liên quan giữa tuổi thai và bệnh tắc nghẽn đường thở ở độ tuổi từ 18 đến 50.
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng tỷ lệ bị bất kỳ bệnh tắc nghẽn đường thở nào ở tuổi trưởng thành cao gấp hai đến ba lần đối với những người sinh trước 28 tuần hoặc đủ 28 tuần đến 31 tuần so với những người sinh đủ tháng (đủ 39 tuần đến 41 tuần). Kết quả vẫn tồn tại trong các phân tích điều chỉnh. Tỷ lệ mắc cao hơn từ 1,1 đến 1,5 lần đối với những người sinh từ 32 tuần đến 33 tuần, 34 tuần đến 36 tuần hoặc 37 tuần đến 38 tuần. Những phát hiện tương tự cũng quan sát thấy ở cả hai quốc gia (Phần Lan và Na Uy) và các nhóm tuổi (18 tuổi đến 29 tuổi và 30 tuổi đến 50 tuổi). Đối với những người sinh trước 28 tuần, tỷ lệ mắc COPD ở độ tuổi từ 30 đến 50 cao hơn 7,44 lần so với những người sinh từ 28 tuần đến 31 tuần cao hơn 3,18 lần và cao hơn 2,32 lần ở những người sinh từ 32 tuần đến 33 tuần. Sinh non cộng với chứng loạn sản phế quản phổi ở trẻ sơ sinh càng làm tăng tỷ lệ mắc bệnh tắc nghẽn đường thở ở tuổi trưởng thành.
Các tác giả viết: “Trong những nhóm này, những nguy cơ quá mức có ý nghĩa lâm sàng và kêu gọi cảnh giác chẩn đoán đặc biệt khi những người sinh non có các triệu chứng hô hấp”.

22/09/2023

Tỷ lệ mắc bệnh ung thư khởi phát sớm tiếp tục gia tăng
THỨ TƯ, ngày 13 tháng Chín năm 2023 (HealthDay News) – Theo một nghiên cứu được công bố trực tuyến vào ngày 5 tháng Chín trên BMJ Oncology, tỷ lệ mắc bệnh ung thư khởi phát sớm đang tiếp tục gia tăng trên toàn thế giới.
Jianhui Zhao từ Trường Y thuộc Đại học Chiết Giang ở Trung Quốc và các đồng nghiệp đã thăm dò gánh nặng toàn cầu của bệnh ung thư khởi phát sớm dựa trên nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2019. Tỷ lệ mắc bệnh, số trường hợp tử vong, số năm sống điều chỉnh theo tình trạng khuyết tật (DALY) và các yếu tố nguy cơ đã được phân tích đối với 29 nhóm ung thư khởi phát sớm.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng từ năm 1990 đến năm 2019, tỷ lệ mắc bệnh ung thư khởi phát sớm trên toàn cầu đã tăng 79,1% và số trường hợp tử vong do ung thư khởi phát sớm tăng 27,7%. Tỷ lệ tử vong và số năm sống điều chỉnh theo tình trạng khuyết tật cao nhất trong năm 2019 được ghi nhận ở các bệnh ung thư vú, khí quản, phế quản và phổi, dạ dày và đại trực tràng khởi phát sớm. Trên toàn cầu, xu hướng tăng nhanh nhất được thấy là tỷ lệ mắc bệnh ung thư vòm họng và ung thư tuyến tiền liệt khởi phát sớm, trong khi tỷ lệ mắc ung thư gan khởi phát sớm giảm mạnh nhất. Đối với cả nam và nữ, ung thư đại trực tràng khởi phát sớm có số năm sống điều chỉnh theo tình trạng khuyết tật cao trong top năm. Gánh nặng cao nhất của bệnh ung thư khởi phát sớm được quan sát thấy ở các khu vực có chỉ số nhân khẩu xã hội ở mức trung bình cao và trung bình. Các dự báo chỉ ra rằng vào năm 2030, số ca mắc và số trường hợp tử vong do ung thư khởi phát sớm trên toàn cầu sẽ tăng lần lượt là 31% và 21%. Các yếu tố nguy cơ chính gây ung thư khởi phát sớm là các yếu tố nguy cơ về chế độ ăn uống, uống rượu và sử dụng thuốc lá.
Các tác giả viết: “Khuyến khích lối sống lành mạnh, bao gồm chế độ ăn uống lành mạnh, hạn chế tiêu thụ thuốc lá và rượu, và hoạt động ngoài trời thích hợp có thể làm giảm gánh nặng ung thư khởi phát sớm”.

06/09/2023

Thời gian nhìn vào màn hình nhiều hơn khi trẻ 1 tuổi có mối liên quan chặt chẽ với tình trạng chậm phát triển khi trẻ 2 tuổi và 4 tuổi
THỨ TƯ, ngày 30 tháng Tám năm 2023 (HealthDay News) – Theo một nghiên cứu được công bố trực tuyến ngày 21 tháng Tám trên JAMA Pediatrics, thời gian nhìn màn hình nhiều hơn khi trẻ 1 tuổi có liên quan đến tình trạng chậm phát triển về giao tiếp và giải quyết vấn đề khi trẻ 2 tuổi và 4 tuổi.
Ippei Takahashi từ Tohoku University ở Nhật Bản và các đồng nghiệp đã xem xét mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc với màn hình khi trẻ 1 tuổi và năm lĩnh vực chậm phát triển (giao tiếp, vận động thô, vận động tinh, giải quyết vấn đề và các kỹ năng cá nhân và xã hội) khi trẻ 2 tuổi và 4 tuổi. Phân tích bao gồm 7.097 cặp mẹ con.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng khi so sánh với thời gian nhìn vào màn hình dưới một tiếng/ngày khi trẻ 1 tuổi, thời gian nhìn vào màn hình nhiều hơn có liên quan đến nguy cơ cao hơn bị chậm phát triển khi trẻ 2 tuổi trong các lĩnh vực sau: giao tiếp (tỷ suất chênh [OR] là 1,61 đối với nhìn vào màn hình từ một tiếng đến dưới hai tiếng/ngày; 2,04 đối với nhìn vào màn hình từ hai tiếng đến dưới bốn tiếng/ngày; 4,78 đối với nhìn vào màn hình từ bốn tiếng/ngày trở lên), vận động tinh (tỷ suất chênh là 1,74 đối với nhìn vào màn hình từ bốn tiếng trở lên/ngày), giải quyết vấn đề (tỷ suất chênh là 1,40 đối với nhìn vào màn hình từ hai tiếng đến dưới bốn tiếng/ngày; 2,67 đối với nhìn vào màn hình từ bốn tiếng/ngày trở lên) và các kỹ năng cá nhân và xã hội (tỷ suất chênh là 2,10 đối với nhìn vào màn hình từ bốn tiếng trở lên/ngày). Khi trẻ 4 tuổi, nguy cơ cao hơn bị chậm phát triển đã được quan sát thấy khi thời gian nhìn vào màn hình tăng lên đối với giao tiếp (tỷ suất chênh là 1,64 đối với nhìn vào màn hình từ hai tiếng đến dưới bốn tiếng/ngày; 2,68 đối với nhìn vào màn hình từ bốn tiếng trở lên/ngày) và đối với giải quyết vấn đề (tỷ suất chênh là 1,91 đối với nhìn vào màn hình từ bốn tiếng/ngày trở lên).
Các tác giả kết luận: “Những phát hiện này cho thấy các lĩnh vực chậm phát triển cần phải được xem xét riêng biệt trong các cuộc thảo luận trong tương lai về thời gian nhìn vào màn hình và sự phát triển của trẻ”.

Chửa trên vết mổ lấy thai cũ ở bệnh nhân tiền sử mổ lấy thai 3 lần. Mổ lấy khối chửa bảo tồn tử cung theo phương pháp mớ...
29/08/2023

Chửa trên vết mổ lấy thai cũ ở bệnh nhân tiền sử mổ lấy thai 3 lần. Mổ lấy khối chửa bảo tồn tử cung theo phương pháp mới

14/08/2023

THỨ TƯ, ngày 31 tháng Năm năm 2023 (HealthDay News) – Theo một nghiên cứu được công bố trực tuyến ngày 19 tháng Năm trên JAMA Network Open, bổ sung vitamin D3 liều cao hơn cho đến 2 tuổi có liên quan đến giảm nguy cơ mắc các vấn đề nội tâm hóa ở thời thơ ấu sau này.

Bác sĩ, tiến sĩ Samuel Sandboge từ University of Tampere ở Phần Lan và các đồng nghiệp đã tiến hành phân tích thứ cấp về một thử nghiệm lâm sàng chọn ngẫu nhiên ở 346 trẻ em để đánh giá tác động của liều cao (1.200 IU) so với liều tiêu chuẩn (400 IU) bổ sung vitamin D3 trong hai năm đầu đời đối với các triệu chứng tâm thần ở độ tuổi từ 6 tuổi đến 8 tuổi.
Các tác giả viết: “Tuy nhiên, điều này cần phải được giải thích một cách thận trọng và chỉ được coi là giả thuyết do không có sự tương tác giữa nồng độ 25(OH)D của mẹ và tình trạng bổ sung”.

08/08/2023

THỨ TƯ, ngày 02 tháng Tám năm 2023 (HealthDay News) – Theo một nghiên cứu được công bố trực tuyến ngày 27 tháng Bảy trên Frontiers in Nutrition, lượng chất xơ bà mẹ ăn vào trong thời kỳ mang thai ít hơn bình thường có liên quan đến tăng nguy cơ bị chậm phát triển thần kinh ở con cái.
Tiến sĩ Kunio Miyake từ University of Yamanashi ở Chuo, Nhật Bản và các đồng nghiệp đã xem xét mối liên quan giữa lượng chất xơ trong chế độ ăn uống của bà mẹ trong thời kỳ mang thai và tình trạng chậm phát triển thần kinh ở con cái bằng cách sử dụng dữ liệu từ 76.207 cặp mẹ con trong một nghiên cứu đoàn hệ theo thời gian trên toàn quốc. Một bảng câu hỏi về tần suất dùng thực phẩm vào giữa thai kỳ đã được sử dụng để ước tính lượng chất xơ ăn vào trong chế độ ăn uống của bà mẹ, lượng chất xơ ăn vào này được phân loại thành các nhóm ngũ phân vị. Mối liên quan giữa lượng chất xơ ăn vào và tình trạng chậm phát triển, được đo lường trong năm lĩnh vực khi trẻ 3 tuổi, đã được đánh giá.
“Hầu hết phụ nữ mang thai ở Nhật Bản ăn ít chất xơ hơn nhiều so với lượng khuyến nghị; do đó, tình trạng mất cân bằng dinh dưỡng của bà mẹ trong thời kỳ mang thai có thể ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thần kinh của con cái họ”, các tác giả viết. “Hướng dẫn dinh dưỡng dành cho các bà mẹ mang thai có vai trò rất quan trọng trong việc làm giảm nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe trong tương lai cho con của họ.”

Cần hiểu rõ khái niệm về đình sản hay triệt sản nữ.Có thai phụ 39 tuần mổ cũ 2 lần chuyển dạ. Khi được bác sĩ tư vấn về ...
19/04/2023

Cần hiểu rõ khái niệm về đình sản hay triệt sản nữ.
Có thai phụ 39 tuần mổ cũ 2 lần chuyển dạ. Khi được bác sĩ tư vấn về vấn đề triệt sản thì mới hỏi tôi, triệt sản xong e có bị đơ (trí tuệ sa sút) không. Sau đó tôi mới biết không chỉ thai phụ này mà còn nhiều thai phụ khác cũng có suy nghĩ tương tự và tự tư vấn cho nhau theo lối suy nghĩ đó.
Phải hiểu rõ, vòi tử cung có chức năng là ống dẫn trứng và không liên quan đến nội tiết hay bất kỳ bệnh lý toàn thân nào khi loại bỏ đi. Tôi mới đưa ra một ví dụ, một phụ nữ bị chửa ngoài tử cung 2 lần, mỗi lần cắt một bên. Vậy sau khi mổ chửa ngoài tử cung người ta đơ hết à.
Sau khi giải thích thai phụ đã hiểu rõ về bản chất của viêc triệt sản.
Triệt sản là phương pháp tránh thai vĩnh viễn và không liên quan đến nội tiết hay bất kỳ một loại bệnh lý toàn thân nào (đặc biệt là bệnh lý "đơ") mọi người nhé.
Xin cảm ơn vì đã đọc và xin chia sẽ thông này đến cho mọi người để giúp mọi ngươi có cách nhìn nhận đúng về y học ạ!

06/03/2023

Có thai khi đặt dụng cụ tử cung (vòng tránh thai). Câu hỏi đặt ra là nên như thế nào?
Sáng nay có bạn Andrea người Mỹ đến khám vì chậm kinh khi đã được đặt dụng cụ tử cung. Bác sĩ siêu âm thai được 11 tuần 6 ngày tron buồng tử cung và dụng cụ tụt xuống đoạn thấp trong buồng tử cung. Tình trạng thai nhi ổn định và bệnh nhân băn khoăn về việc giữ hay lấy bỏ dụng cụ tử cung.
Lấy bỏ dụng cụ tử cung khi có thai sẽ có nguy cơ gây sảy thai cao. Vì vậy lời khuyên trong tình huống này là để nguyên dụng cụ cho đến lúc chuyển dạ để giảm thiểu nguy cơ sảy thai và vòng sẽ được tháo khi có chuyển dạ.
Bệnh nhân đã được hiểu rõ hơn và yên tâm quay lại nước Mỹ vào ngày mai. Bác sĩ cũng vui vì mang lại cho bệnh nhân tâm lý thoải mái để yên tâm hơn về tình trạng thai nghén của mình.

Address

Da Nang
550000

Telephone

+84935328139

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Sản phụ khoa Gia Đình posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share