Phục Hồi Chức Năng_Rehabilitation

Phục Hồi Chức Năng_Rehabilitation Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Phục Hồi Chức Năng_Rehabilitation, Medical and health, Hai Phong.

10/09/2024

💥HỘI CHỨNG DE QUERVAIN

🧑‍⚕️ Hội chứng De Quervain là bệnh viêm bao gân cơ dạng dài và duỗi ngắn ngón cái do nhà phẫu thuật người Thụy Sỹ tên là De Quervain phát hiện năm 1895.

👉 Bệnh hay gặp ở nữ giới, tuổi từ 30 đến 50.

👉 Nguyên nhân:
Chấn thương vùng cổ tay. Các nghề đòi hỏi phải sử dụng các động tác cầm, nắm, xoay, vặn cổ tay lặp đi lặp lại như giáo viên, phẫu thuật viên, thợ cắt tóc,thợ mộc, nội trợ, chơi piano, những người sử dụng điện thoạt di động hoặc máy tính bảng trong thời gian dài...

👉 Một nhóm bệnh nhân điển hình là phụ nữ mang thai và cho con bú.

👉 Các triệu chứng của bệnh như đau vùng mỏm trâm quay cổ tay, tăng lên khi vận động ngón cái, đau nhiều về đêm, lan theo ngón cái và lên cẳng tay. Đau khi làm một số động tác như duỗi cổ tay, lắc, nâng một vật nặng, mở cửa... Giảm khả năng duỗi, xoay ngửa cổ tay và cầm nắm. Sưng nề vùng mỏm trâm quay. Ấn vào thấy đau chói. Sờ thấy bao gân dầy lên, có thể có nóng, đỏ. Cử động ngón cái có thể nghe thấy tiếng “cót két”

👉 Bác sĩ khám làm nghiệm pháp Finkelstein dương tính. Siêu âm vùng mỏm trâm quay có hình ảnh viêm gân dạng dài và duỗi ngắn ngón cái.

🧑‍⚕️ Điều trị bệnh cần phối hợp đa chuyên nghành: nội khoa, phục hồi chức năng, ngoại khoa.

👉 Đồng thời, người bệnh cần giảm hoặc ngừng vận động cổ tay và ngón cái từ 4 đến 6 tuần. Nếu đau sưng nhiều có thể dùng nẹp hoặc băng gia cố cổ tay ngón cái liên tục trong 3-6 tuần.

🧑‍⚕️Chú ý:
Tránh các hoạt động bàn tay, cổ tay lặp đi lặp lại trong thời gian dài, cần xen kẽ thời gian nghỉ ngơi hợp lý. Cần tập luyện cho gân dẻo dai qua những bài tập cho gân khớp vùng cổ tay.
Không nên xoa bóp thuốc rượu, dầu nóng vì dễ làm tình trạng viêm nặng thêm. Không nên nắn bẻ khớp vì sẽ làm tổn thương thêm gân khớp.
Chế độ ăn đầy đủ vitamin, bổ sung calci.. đặc biệt ở phụ nữ khi mang thai hay sau khi sinh.

☝️Hãy chủ động bảo vệ sức khỏe của bạn!
☎️ 0817609186

💥 VIÊM CÂN GAN CHÂN🧑‍⚕️ Viêm cân gan chân là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây đau ở gót chân. Khoảng 2 triệ...
23/08/2024

💥 VIÊM CÂN GAN CHÂN

🧑‍⚕️ Viêm cân gan chân là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây đau ở gót chân. Khoảng 2 triệu bệnh nhân được điều trị tình trạng này mỗi năm.

👉 Bệnh thường gặp nhất ở những người trong độ tuổi từ 40 đến 60, béo phì, có bất thường cấu trúc bàn chân (bàn chân bẹt, vòm chân cao), người phải di chuyển nhiều, đứng lâu, mang giày dép có phần đế quá cứng trong thời gian dài. Đặc biệt là các vận động viên các môn như aerobic, bale, chạy đường dài…

👉 Cân gan bàn chân là dải gân cơ bám từ các chỏm xương bàn tới xương gót, giúp bàn chân có độ nhún, duy trì độ cong sinh lý của bàn chân và giúp giảm trọng lực dồn lên bàn chân khi vận động.

👉 Viêm cân gan chân là tình trạng viêm của cân gan chân. Bệnh gây ra các triệu chứng như đau vùng gót chân, có thể đau buốt hoặc âm ỉ. Khi ấn vào mặt dưới và bên trong gót chân, người bệnh thấy đau nhói. Cơn đau thường tệ hơn vào buổi sáng, khi bạn bước những bước đầu tiên, sau khi đứng hoặc ngồi lâu hoặc sau khi hoạt động mạnh. Một số trường hợp kèm theo sưng vùng cân gan chân bị viêm.

👉 Các xét nghiệm giúp chẩn đoán:
Xquang: hình ảnh g*i xương gót. Đây là hậu quả của quá trình viêm kéo dài dẫn đến tình trạng vôi hóa điểm bám vào xương gót.
Siêu âm: hình ảnh viêm cân gan chân.

👉 Điều trị viêm cân gan chân:
Đợt cấp áp dụng phương pháp PRICE kết hợp thuốc giảm đau và chống viêm; phục hồi chức năng: vật lý trị liệu và vận động trị liệu (các bài tập kéo giãn cân gan chân, gân achilles, tăng cường cơ bắp chân); tiêm tại chỗ Steroid, huyết tương giàu tiểu cầu(RPR); phẫu thuật có thể được đặt ra khi điều trị nội khoa không hiệu quả.

👉 Viêm cân gan chân có thể chuyển thành bệnh mạn tính, gây cản trở lớn trong sinh hoạt hằng ngày của người bệnh. Việc thay đổi dáng đi do các cơn đau gót chân có thể dẫn tới những vấn đề sức khỏe ở chân, đầu gối, hông, lưng.

☝️Hãy chủ động bảo vệ sức khỏe của bạn!

🧑‍⚕️ B**g gân là một chấn thương thường gặp ở mọi lứa tuổi khi vận động quá mạnh hoặc sai cách trong sinh hoạt, lao động...
14/08/2024

🧑‍⚕️ B**g gân là một chấn thương thường gặp ở mọi lứa tuổi khi vận động quá mạnh hoặc sai cách trong sinh hoạt, lao động, đặc biệt là chơi thể thao

☝️ Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, b**g gân có thể để lại các biến chứng lâu dài gây ảnh hưởng chất lượng cuộc sống của bạn

💥Đau mỏi cổ vai gáy có xu hướng xuất hiện sớm hơn ở người trẻ tuổi.👉 Nguyên nhân là gì?👉 Cách khắc phục như thế nào?
17/04/2022

💥Đau mỏi cổ vai gáy có xu hướng xuất hiện sớm hơn ở người trẻ tuổi.

👉 Nguyên nhân là gì?

👉 Cách khắc phục như thế nào?

PHỤC HỒI CHỨC NĂNG BỆNH VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP TÍNH DO SARS-CoV-2 (COVID-19)I.ĐẠI CƯƠNG- Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chứ...
10/02/2022

PHỤC HỒI CHỨC NĂNG BỆNH VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP CẤP TÍNH
DO SARS-CoV-2 (COVID-19)
I.ĐẠI CƯƠNG
- Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công bố COVID-19 là đại dịch toàn cầu. Bệnh lây trực tiếp từ người sang người chủ yếu qua giọt bắn đường hô hấp và qua đường tiếp xúc. Biểu hiện lâm sàng đa dạng: từ nhiễm không triệu chứng, giống cảm cúm thông thường, viêm phổi nặng, suy hô hấp, sốc nhiễm trùng, suy chức năng đa cơ quan và tử vong.
- Phục hồi chức năng (PHCN) sớm cho người bệnh COVID-19 nhằm cải thiện chức năng phổi và các chức năng khác, ngăn chặn sự suy giảm về thể chất và tinh thần, tăng cường khả năng vận động…
- Các kỹ thuật PHCN bao gồm tập các kiểu thở là chính, các kỹ thuật tống thải đờm được thực hiện khi người bệnh có tăng tiết đờm dịch, tập vận động chủ động cần tăng dần cường độ và thời gian tùy khả năng của người bệnh.
- Mục tiêu cuả PHCN người bệnh COVID-19:
 Cải thiện chức năng hô hấp: tăng thông khí, giảm công hô hấp, giảm mức độ khó thở.
 Tăng khả năng tống thải đờm dịch.
 Tăng cường khả năng vận động cơ thể và các cơ tham gia hô hấp.
 Ngăn ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu, loét do đè ép lên da và các biến chứng khác.
 Ngăn chặn sự suy giảm thể chất và tinh thần.
II. Các kỹ thuật PHCN cho người bị nhiễm COVID-19
1.Đối với thể nhẹ (phụ lục 2)
- Mục đích: giãn nở lồng ngực, tăng thông khí vào phổi.
- PHCN tập trung vào các kỹ thuật thở: thở cơ hoành, thở chúm môi, thở dưỡng sinh và tập vận động…Nếu người bệnh có tiết nhiều đờm dịch thì bổ sung thêm kỹ thuật thở chu kỳ chủ động và kỹ thuật ho hữu hiệu.
2.Đối với thể nặng hoặc nguy kịch
- Mục đích: tống đờm ra ngoài, tăng thông khí, dễ thở, đề phòng biến chứng loét da, biến chứng suy hô hấp, tim mạch và các cơ quan khác.
- Bệnh nhân cần được người điều trị lượng giá kỹ trước và sau khi thực hiện các kỹ thuật PHCN để lựa chọn các kỹ thuật phù hợp.
2.1 Kỹ thuật điều chỉnh tư thế người bệnh
 Đặt người bệnh ngồi hơi gập người về phía trước hoặc nằm đầu cao 30-60º, khớp gối hơi gập.
 Trường hợp ARDS nặng, thở máy đặt người bệnh nằm sấp khi có chỉ định của bác sĩ điều trị.
 Lăn trở thường xuyên 2 giờ/lần, kiểm tra tình trạng da, đặc biệt là các điểm tỳ đè.
 Nên để người bệnh nằm đệm hơi để phòng loét.
 Thực hiện ngày 3 lần (sáng, chiều, tối).
2.2 Kỹ thuật tập vận động thụ động
- Các kỹ thuật viên (KTV) PHCN thực hiện kỹ thuật đối với những người bệnh hôn mê, liệt cơ: tập vận động thụ động khớp vai, khớp khuỷu tay, khớp cổ tay, khớp háng, khớp gối, khớp cổ chân trong tầm vận động của mỗi khớp. Thời gian tối thiểu 15 phút.
2.3 Kỹ thuật dẫn lưu tư thế
- Điều chỉnh tư thế sao cho vùng phổi tổn thương và có ứ đọng lên trên ( có thể dựa vào phim xquang ngực để đánh giá). Thời gian từ 10-15 phút tùy tình trạng người bệnh.
2.4 Kỹ thuật vỗ, rung lồng ngực
- Vỗ áp dụng trên thành ngực ở vị trí tương ứng với các phân thùy phổi có chỉ định dẫn lưu. Thời gian từ 10-15 phút tùy tình trạng người bệnh.
2.5 Kỹ thuật thở có trợ giúp
- Ép bàn tay vào lồng ngực theo hướng di chuyển của khung sườn ở thì thở ra của người bệnh.
3.PHCN sau xuất viện (phụ lục 3)
- Mục đích:
 Phục hồi lại sức khỏe và các chức năng sinh hoạt hàng ngày
 Trở lại công việc thường ngày và hòa nhập cộng đồng.
- Giai đoạn này người bệnh cần được hướng dẫn tập thở, tập luyện thể lực phù hợp với lứa tuổi và tình trạng người bệnh.

01/10/2020

HỘI CHỨNG HẸP KHOANG DƯỚI MỎM QUẠ : 1 NGUYÊN NHÂN CỦA TRIỆU CHỨNG ĐAU VAI PHÍA TRƯỚC

🌱Khớp vai
Hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai (subacromial impingement) có lẽ đã trở nên khá quen thuộc đối với cả các bác sỹ không phải chuyên khoa cũng như các bệnh nhân có vấn đề về khớp vai.
Hậu quả của hội chứng này là tình trạng tổn thương gân chóp xoay mà khởi đầu thường là gân trên g*i và thường mở rộng ra phía sau đến gân dưới g*i và tròn bé.
Gân dưới vai là 1 phần của chóp xoay tuy nhiên tổn thương gân dưới vai thường ít liên quan đến tình trạng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai mà thường là hậu quả của 1 tình trạng hẹp khoang khác, ít phổ biến hơn, đó là hẹp khoang dưới mỏm quạ (subcoracoid impingement hoặc coracoid impingement).

🌱Hẹp khoang dưới mỏm quạ là nguyên nhân ít phổ biến hơn của các tình trạng đau khớp vai. Tình trạng hẹp khoang làm cho gân dưới vai bị cọ xát giữa mỏm quạ và mấu động nhỏ của xương cánh tay (tương ứng vị trí bám của gân dưới vai).

🌱Hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ cũng cần được nghĩ đến khi bệnh nhân có các biểu hiện đau phía trước khớp vai liên quan đến các động tác của khớp vai. Hậu quả lớn nhất của hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ là rách gân dưới vai.

🌱Những mô tả về tình trạng cọ xát cơ học của chóp xoay vào mặt dưới mỏm cùng vai được mô tả từ 1909. Một số bài viết cũng mô tả khả năng có tình trạng cọ xát của gân chóp xoay vào phía trước trong, đó là mỏm quạ tuy nhiên hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ chính thức được mô tả vào năm 1937 và 1941 bởi Meyer và Bennett.

"Khoảng cùng quạ" bao gồm mỏm cùng vai, dây chằng cùng quạ và mỏm quạ. Do kích thước mỏm quạ tương đối biến thiên nên kích thước "khoảng cùng quạ" cũng thay đổi và tương quan giữa khoảng này và gân chóp xoay cũng thay đổi. Một số nghiên cứu trên xác cũng chỉ ra sự mất vững phía trước của khớp vai cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thu hẹp khoảng cách giữa xương cánh tay và mỏm quạ. Sự thay đổi "khoảng cùng quạ" dẫn đến thu hẹp khoảng cách giữa xương cánh tay và mỏm quạ là nguyên nhân của hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ. Tình trạng hẹp khoang này làm cho gân dưới vai bị cọ xát giữa mấu động nhỏ của xương cánh tay và mỏm quạ khi khớp vai chuyển động, đặc biệt các động tác xoay trong, khép vai. Sự cọ xát làm cho gân dưới vai bị viêm và gây đau.

🌱Về bệnh sử, hội chứng này thường gặp nhất ở những bệnh nhân có tiền sử có tình trạng quá tải vận động khớp vai kéo dài, hoặc các vi sang chấn thường xuyên, đặc biệt ở các tư thế động tác nâng vai phía trước, xoay trong và khép vai.
Các nghiên cứu chẩn đoán hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ ít hơn so với khoang dưới mỏm cùng vai do tính phổ biến thấp hơn nhưng cũng dựa chủ yếu vào việc thăm khám lâm sàng, x quang, cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ cũng như các nghiệm pháp tiêm để chẩn đoán.
Những trường hợp có tổn thương rõ ràng và đơn thuần của rách gân dưới vai là điển hình của hẹp khoang dưới mỏm quạ.
Một số trường hợp, hẹp khoang dưới mỏm quạ lại là nguyên nhân của tình trạng đau vai tái diễn sau phẫu thuật sửa chữa gân chóp xoay.
🌱Trong các nghiệm pháp thăm khám lâm sàng để chẩn đoán hẹp khoang dưới mỏm quạ thì có nghiệm pháp coracoid impingement test, nghiệm pháp này thực hiện tương tự nghiệm pháp Hawkin tuy nhiên tư thế tay của bệnh nhân khép vắt chéo qua thân mình, xoay trong cánh tay và nâng về phía trước. Ở tư thế này, mấu động nhỏ sẽ tiến gần về phía mỏm quạ nhất và bệnh nhân sẽ đau khi thực hiện nghiệm pháp nếu có tình trạng hẹp khoang dưới mỏm quạ. Bên cạnh các thăm khám lâm sàng, việc sử dụng thuốc tê lidocaine tiêm vào khoang dưới mỏm quạ cũng có giá trị chẩn đoán tương tự như khi thực hiện cho khoang dưới mỏm cùng vai.
🌱Chẩn đoán hình ảnh có vai trò khá quan trọng trong việc đánh giá tình trạng hẹp khoang dưới mỏm quạ tương tự như khoang dưới mỏm cùng vai.
Phim X quang vẫn có giá trị chẩn đoán đặc biệt ở tư thế chụp khớp vai thẳng trước sau và tư thế chụp vuông góc với mặt phẳng xương bả vai. Ở hai tư thế này có thể phát hiện các bất thường về xương có thể là nguyên nhân của hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ. Phim cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ có giá trị đánh giá hình thái mỏm quạ cũng như các tổn thương giải phẫu của khoang dưới mỏm quạ. Việc đánh giá hình thái mỏm quạ có thể dựa vào chỉ số mỏm quạ (coracoid index) với giá trị trung bình là 8,2 mm như công bố của Dine hoặc xác định khoảng cách giữa mỏm quạ và phần gần nhất của xương cánh tay có giá trị tối thiểu 6,8mm như công bố của Ge**er. Ngoài ra còn có thể đánh giá các chỉ số khác như kích thước của khoảng quạ cánh tay khi cánh tay xoay trong, ...
Và cuối cùng, 1 phương pháp chẩn đoán nữa là nội soi khớp, thông thường trong những trường hợp rách gân dưới vai, có thể sẽ quan sát trực tiếp hiện tượng cọ xát của gân dưới vai ở vị trí mấu động nhỏ vào mỏm quạ.
🌱Việc điều trị phụ thuộc vào mức độ tổn thương có hay chưa của gân dưới vai, triệu chứng lâm sàng và nhu cầu điều trị của bệnh nhân. Trong trường hợp chưa có tổn thương gân, các biện pháp điều trị bao gồm nội khoa và vật lý trị liệu, điều chỉnh hoạt động của khớp vai, tránh các động tác nâng cánh tay khi cánh tay khép và xoay trong.
🌱Điều trị phẫu thuật được đặt ra khi có tổn thương gân dưới vai. Cũng tương tự như khi phục hồi tổn thương gân trên g*i do hẹp khoang dưới mỏm cùng vai thì việc phục hồi gân dưới vai chỉ được thực hiện khi kiểm tra thấy hết tình trạng hẹp khoang. Một số trường hợp hẹp nặng, việc tạo hình mỏm quạ có thể đặt ra và được thực hiện với nhiều kỹ thuật khác nhau qua nội soi hoặc mổ mở.

💥Tóm lại, hội chứng hẹp khoang dưới mỏm quạ cần phải được đánh giá và loại trừ ở những bệnh nhân có triệu chứng đau vai phía trước, mặc dù ít phổ biến hơn hội chứng hẹp khoang dưới mỏm cùng vai tuy nhiên cũng có thể có đồng thời 2 hội chứng cùng lúc gây tổn thương các gân cơ trên g*i và dưới vai. Trong trường hợp có tổn thương gân dưới vai đơn thuần hoặc phối hợp, việc đánh giá kỹ các chỉ số rất quan trọng và nếu có chỉ định phẫu thuật khâu phục hồi gân cơ dưới vai thì việc đánh giá kỹ qua nội soi tình trạng hẹp khoang và việc can thiệp tạo hình đóng vai trò tiên quyết trong thành công của phẫu thuật.

PGS. TS Trần Trung Dũng

Chăm sóc tại nhà bệnh nhân sau mổ cột sống💥Vấn đề đeo nẹp hỗ trợ cột sống cổ và thắt lưng sau mổ: có hay không phải đeo ...
28/09/2020

Chăm sóc tại nhà bệnh nhân sau mổ cột sống

💥Vấn đề đeo nẹp hỗ trợ cột sống cổ và thắt lưng sau mổ: có hay không phải đeo nẹp hỗ trợ cột sống sau phẫu thuật vẫn đang có nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên việc đeo nẹp hỗ trợ cột sống sau mổ trước hết đã giải quyết được vấn đề tâm lý cho bệnh nhân, bệnh nhân cảm thấy tự tin hơn khi đứng dậy và đi lại.

💥 Ngoài ra khi đeo nẹp hỗ trợ cột sống, bệnh nhân sẽ luôn tự được nhắc nhở bản thân mình phải gìn giữ và tránh được các động tác quá mức không cần thiết, cũng như đó là một thông báo cho mọi người xung quanh biết được bản thân mình đang có vấn đề về cột sống nhằm hạn chế các động tác va chạm xô đẩy. Thời gian đeo nẹp bao lâu tùy thuộc từng ca bệnh cụ thể, điều này các bệnh nhân cần phải trao đổi trực tiếp với phẫu thuật viên đã phẫu thuật cho mình. Thông thường tại bệnh viện chúng tôi, bệnh nhân thường được tư vấn đeo nẹp hỗ trợ cột sống trong 3 tháng, trong thời gian đó bệnh nhân có thể tháo bỏ áo nẹp ra khi nằm nghỉ và đêm nằm ngủ. Bệnh nhân cũng không nên lạm dụng đeo nẹp quá lâu vì điều đó thường dẫn đến hệ thống khối cơ cạnh sống nhão và giảm trương lực cơ, tạo cảm giác yếu cột sống sau khi tháo nẹp.

💥Bệnh nhân có thể đi lại nhẹ nhàng trong nhà, lên xuống cầu thang, tuy nhiên tuyệt đối hạn chế các động tác xoắn vặn cột sống, cúi ưỡn cột sống quá mức trong 3 tháng đầu tiên sau mổ. Nên tự có cho mình một ghế ngồi hằng ngày trong nhà với lưng tựa chắc chắn và thành ghế tựa vuông góc với mặt ghế.
Tránh nằm ngủ trên võng, trên ghế sofa, cúi bê chậu áo quần, chậu cây cảnh, ngồi bệt xếp khoanh chân vòng tròn.
Tắm rửa và đi vệ sinh nên ưu tiện lựa chọn tư thế ngồi có dựa lưng.
Hoạt động tình dục có thể thực hiện sớm sau mổ (1 đến 2 tuần) miễn sao bệnh nhân không có cảm giác khó chịu tại cột sống, và chúng tôi khuyến cáo không nên thái quá, biết dừng lại khi thấy cột sống đau, khó chịu.

💥Sau phẫu thuật 1 đến 3 tháng bệnh nhân có thể xuất hiện một số triệu chứng bất thường như cảm giác co giật tại cột sống, co giật dọc chân tay, cảm giác tê bì kiến bò, cảm giác vùng phẫu thuật bị bóp chặt, co rút..Các bạn không quá lo lắng, chúng ta có thể dùng thêm thuốc giãn cơ vân, thuốc chống tê bì và bổ dưỡng thần kinh, các triệu chứng thường giảm dần và mất đi sau 3 đến 6 tháng.

💥Sau mổ khoảng 3 tháng bệnh nhân có thể chơi được các môn thể thao như bơi nhẹ nhàng, thả lỏng cột sống trên xà đơn, đạp xe, lái ôtô. Sau 6 tháng nếu các triệu chứng cột sống ổn định, bệnh nhân có thể chơi được hầu hết các môn thể thao, trừ các môn có tính chất va chạm mạnh như đá bóng, chạy nhanh, leo trèo núi..

💥Với những bệnh nhân loãng xương, thoái hóa cột sống..kèm theo, khi tình trạng sau mổ ổn định, bệnh nhân vẫn nên dùy trì sử dụng lâu dài các loại thuốc chống loãng xương, bổ sung canxi, chống thoái hóa xương khớp như Glucosamin, Chondroitin sulfate, Axit Hyaluronic.

Chẩn đoán và điều trị Hội chứng ống cổ tayHội chứng ống cổ tay (Carpal Tunnel Syndrome) là một hội chứng thường hay gặp ...
24/09/2020

Chẩn đoán và điều trị Hội chứng ống cổ tay

Hội chứng ống cổ tay (Carpal Tunnel Syndrome) là một hội chứng thường hay gặp trong lâm sàng. Trong hội chứng này, dây thần kinh giữa bị chèn ép trong ống cổ tay. Theo thống kê ở Mỹ năm 2005 có tới 16440 người lao động phải nghỉ việc do bị hội chứng ống cổ tay. Việc được phát hiện sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng.

Chẩn đoán:
- Tê bì hoặc dị cảm đau ở bàn tay và các ngón thuộc chi phối của dây giữa (ngón I, II, III, và 1/2 của ngón IV) và gan bàn tay tương ứng với các ngón đó. Đau tăng về đêm hoặc khi gấp duỗi cổ tay nhiều lần.
- Teo cơ ô mô cái.
- Dấu hiệu Tinel dương tính: Gõ trên ống cổ tay ở tư thế duỗi cổ tay tối đa gây cảm giác đau hay tê giật lên các ngón tay
- Dấu hiệu Phalen dương tính: Khi gấp cổ tay tối đa (đến 90º) trong thời gian ít nhất là 1 phút gây cảm giác tê tới các đầu ngón tay.

Tiêu chuẩn cận lâm sàng:
- Thời gian tiềm dây giữa cảm giác > 3,2 ms và vận động > 4,2 ms.
- Tốc độ đo dẫn truyền cảm giác, vận động dây giữa < 50m/s ở cổ tay.
- Siêu âm đầu dò phẳng tần số 12 HZ: CSA – I (Thiết diện cắt ngang đầu vào) lớn hơn 9,5mm2 và CSA – O (Thiết diện cắt ngang đầu ra) lớn hơn 9,2mm2.

Điều trị hội chứng ống cổ tay
Bệnh nhân cần tránh các cử động lặp lại nhiều lần của cổ tay. Dùng nẹp cổ tay cho những bệnh nhân có nghề nghiệp phải cử động cổ tay nhiều.

Giảm áp lực trong ống cổ tay bằng cách cắt dây chằng ngang cổ tay. Ðiều chỉnh các khối can xương hay xương trật để ống cổ tay không bị hẹp và không gây đè ép vào dây thần kinh giữa.

Điều trị bảo tồn bằng các thuốc kháng viêm NSAIDs hay tiêm corticoide tại chỗ làm giảm hiện tượng viêm của các gân gấp trong ống cổ tay và các loại thuốc tăng dẫn truyền thần kinh như vitamin B, Nivalin, Nucleo CMP.

Ng:Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội

Hội chứng bàng quang tăng hoạt (OAB)! * Bàng quang tăng hoạt (Overactive Bladder - OAB) là một thể rối loạn chức năng bà...
26/07/2020

Hội chứng bàng quang tăng hoạt (OAB)!
* Bàng quang tăng hoạt (Overactive Bladder - OAB) là một thể rối loạn chức năng bàng quang do tăng co thắt cơ bàng quang quá mức và thường xuyên kết hợp với mất tương hợp hoạt động bàng quang – cơ thắt niệu đạo gây ra các triệu chứng tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu không tự chủ.. Các biểu hiện trên không do nhiễm khuẩn tiết niệu, tổn thương tại chỗ bàng quang hoặc bệnh chuyển hóa gây ra.

* Hội chứng bàng quang tăng hoạt đôi khi được gọi là bàng quang kích thích hoặc bất ổn định cơ chóp.

* Nguyên nhân chưa rõ ràng, các yếu tố làm cho các triệu chứng trở nên trầm trọng hơn như căng thẳng, caffein, đồ uống có ga, rượu bia,...

* Triệu chứng.
- Tiểu gấp: người bệnh mót đi tiểu đột ngột, không thể kìm nén được đòi hỏi phải đi tiểu ngay.
- Tiểu nhiều lần: tiểu trên 8 lần trong ngày tính từ khi thức dậy cho đến khi đi ngủ.
- Tiểu đêm: người bệnh phải thức dậy đi tiểu hơn 1 lần trong đêm, không tính các lần thức dậy vì các lý do khác.

* Chẩn đoán: tiểu gấp là triệu chứng bắt buộc kèm theo ít nhất một trong hai triệu chứng còn lại.

* Các thể:
- Bàng quang tăng hoạt thể khô: nếu tiểu gấp mà không bị són tiểu, không kể do tăng áp lực ổ bụng đột ngột như ho, hắt hơi... (tiểu gấp nhưng còn kiểm soát).
- Bàng quang tăng hoạt thể ướt: nếu tiểu gấp kèm theo són tiểu (tiểu gấp không kiểm soát hay tiểu gấp không tự chủ).

* Biến chứng
- Ảnh hưởng đến đời sống, sức khỏe, tâm lý,...
- Dễ gây nhiễm khuẩn tiết niệu
- Bệnh nhân dễ bị trầm cảm, rối loạn giấc ngủ,...

* Điều trị
- Biện pháp không dùng thuốc:
+ Điều chỉnh lượng nước đưa vào cơ thể. Không dùng các chất chứa caffein, rượu bia,...
+ Tập luyện phản xạ đi tiểu: Bắt đầu tập nhịn thời gian rất ngắn rồi tăng dần, như 10 phút, và dần dần tập đi tiểu mỗi 3 - 5 giờ.
+ Bài tập cơ sàn chậu.
+ Đặt thông tiểu ngắt quãng.
- Biện pháp dùng thuốc:
+ Thuốc kháng Muscarinics
+ Thuốc kháng cholinecgic: atropin, scopolamin, buscopan. Các thuốc này có tác dụng yếu.
+ Thuốc kháng thụ thể alpha - 1: nhược điểm là gây hạ huyết áp.
- Tiêm Botulinum toxin A vào thành bàng quang.
- Cấy điện cực vào thần kinh cùng để kích thích bàng quang, áp dụng khi có nước tiểu tồn dư trong bàng quang.
- Phẫu thuật: phẫu thuật tăng mở rộng bàng quang bằng ruột, phẫu thuật mở bàng quang qua da. Không khuyến cáo sử dụng các ống thông đặt lâu dài như thông tiểu, dẫn lưu bàng quang trên xương mu,...

Address

Hai Phong

Telephone

+84817609186

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phục Hồi Chức Năng_Rehabilitation posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram