17/04/2026
Luận đoán nhật hạn trên lá số tử vi
Vương Đình Chi không chủ trương luận đoán lưu Nhật, bởi vì "nước trong quá thì không có cá, người xét nét quá thì không có bạn", không nên mang vận trình ra luận đoán quá chi li. Nhưng trong một số tình hình cá biệt, thì luận đoán lưu Nhật có lúc lại cần thiết. Ví dụ trường hợp luận đoán "tử kỳ" cho một người bệnh sắp chết, để gia đình chuẩn bị hậu sự, hoặc là Tháng có thể xảy ra tai nạn giao thông, mà có chuyện cần thiết nhất định phải đi, bất đắc dĩ không còn cách nào, buộc phải chọn Ngày để đi.
Cách luận đoán lưu nhật hạn
Luận đoán lưu Nhật là khởi ngày mồng 1 từ cung mệnh của lưu Nguyệt, ngày muốn luận đoán rơi vào cung vị nào đó, thì cung đó là cung mệnh của lưu Nhật, sau đó tham chiếu vạn niên lịch để tìm "can chi" ngày muốn luận đoán, thông qua can chi này để tính lưu diệu của lưu Nhật.
Ví dụ như tháng 4 cung mệnh (của lưu nguyệt) ở Tuất, tức là khởi ngày mồng 1 ở cung Tuất, đi thuận, nếu muốn tìm cung mệnh của lưu nhật ngày mồng 4, thì đếm thuận đến cung Sửu là được. Tra vạn liên lịch, tháng 4, năm Ất Sửu, can chi của ngày mồng 4 là ngày Nhâm Tuất, do đó lấy can chi "Nhâm Tuất" để tìm lưu diệu, như Thiên lương hóa Lộc, Tử vi hóa Quyền, Thiên phủ hóa Khoa, Vũ khúc hóa Kị, Lộc tồn ở cung Hợi, Mã nhật ở cung Thân, .v.v...
Nếu có tháng Nhuận, thì lấy nửa tháng đầu tính thuộc tháng trước, nửa tháng cuối tính thuộc tháng sau. Lưu nhật thì vẫn luân chuyển theo chiều thuận. Năm Giáp Tý đó Nhuận tháng Mười, từ ngày mồng 1 đến ngày 15 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng Mười, từ ngày 16 đến ngày 29 của tháng 10 nhuận là thuộc tháng 11.
Ví dụ như lưu Nguyệt tháng 10 ở cung Dậu, tức cung này khởi ngày mồng 1 đếm thuận đến ngày 13 và ngày 25 thì trở về cung Dậu, đến cung Dần là ngày 30, vẫn đếm tiếp theo chiều thuận đến ngày mồng 1 của tháng 10 nhuận, tức là cung Mão làm cung mệnh của ngày mồng 1 tháng 10 nhuận. Muốn an lưu diệu thì phải tra vạn niên lịch để biết ngày mồng 1 là ngày Tân Dậu, vì vậy lấy can Tân để tra lưu diệu.
Còn ngày 16 của tháng 10 nhuận, thì khởi từ cung mệnh của tháng 11, tức là cung Tuất, đi theo chiều thuận. Lưu nguyệt dùng can chi của tháng 11, tức tháng Bính Tý, đối với lưu nhật đương nhiên vẫn dùng can chi của ngày đó.
Đơn cử một nhật bàn làm thí dụ:
- Dương nữ, mộc tam cục, Mệnh chủ Vũ khúc, Thân chủ thiên tướng.
- Mệnh lập tại cung Mậu Tuất, có Liêm trinh (hóa Kị) Thiên phủ
- Phụ mẫu tại cung Kỷ Hợi, có Thái âm, Thiên khôi, Thiên hỉ
- Phúc đức tại cung Canh Tý, có Tham lang, Văn khúc
- Điền trạch tại cung Tân Sửu, có Thiên đồng (hóa Lộc), Cự môn, Thiên hình, Phá toái.
- Sự nghiệp tại cung Canh Dần, có Vũ khúc, Thiên tướng, Đài phụ, Long trì
- Giao hữu tại cung Tân Mão, có Thái dương, Thiên lương, Địa không
- Thiên di tại cung Nhâm Thìn, có Thất sát, Đà la, Thiên hư
- Tật ách tại cung Quý Tị, có Thiên ơ, Lộc tồn, Đại hao, Thiên vu, Thiên diêu, Hồng loan
- Tài bạch tại cung Giáp Ngọ, có Tử vi, Hữu bật, Linh tinh, Kình dương
- Tử tức tại Ất Mùi, có Thiên nguyệt, Địa kiếp
- Phu thê tại cung Bính Thân, có Phá quân, Tả phụ, Thiên mã, Thiên khốc
- Huynh đệ tại cung Đinh Dậu, có Hỏa tinh, Thiên việt.
Đương số đang ở trong đại hạn Ất Mùi, cung Mùi vô chính diệu, mượn các sao của cung Sửu để an. Thế là biến thành Thiên hình và Thiên nguyệt đồng độ, có Địa kiếp và Địa không tương hội.
Thiên đồng và Cự môn chủ về bệnh liên quan đến thần kinh cột sống. Cho nên trong đại hạn này, mệnh tạo có thể mắc bệnh này, mà còn là mãn tính. Bởi vì Thiên hình và Thiên nguyệt là điềm bệnh tật triền miên, kéo dài khiến cho người bệnh giống như bị tra tấn. Có Thái dương và Thiên lương hội hợp, làm mạnh thêm tính chất này.
Tra lưu niên, đến năm Nhâm Tuất, cung mệnh của lưu niên ở Tuất, có Liêm trinh hóa Kị hội Vũ khúc (lưu niên thì hóa Kị) ở Dần, Đà là của lưu niên bay vào cung Tuất, xung động Đà la và lưu Dương của đại hạn ở cung Thìn, còn xung động cả lưu Đà của đại hạn. Lại còn gặp Kình dương của lưu niên ở cung Tý và lưu Đà của đại hạn ở cung Dần, lại xung khởi Kình dương Linh tinh ở cung Ngọ đến hội, cho nên có thể đoán định năm đó ắt sẽ có tai ách.
Tính chất của Tai ách là gì? Do Vũ khúc hóa Kị xung khởi Liêm trinh hóa Kị, thông thường đều chủ về tai nạn chảy máu, có điều, năm đó cung Thiên di (Nhâm Thìn) là Thất sát tọa thủ, nên không phải tai ách chảy máu ở nơi khác.
Có nhiều loại tai ách chảy máu, nữ mệnh có thể là đường sinh dục, trụy thai, cũng có thể là vết thương có mủ, đương nhiên cũng có thể là bị thương do kim loại. Thế là phải truy tìm đến cung Tai ách của lưu niên.
Cung Tai ách của lưu niên ở cung Quý Tị, có Thiên cơ tọa thủ, bị hai sao Kình dương Đà la đều xung động giáp cung, và Thái âm hóa Kị ở Hợi xung chiếu, chủ về tổn thương, Thái âm và Thiên cơ tương hội, chủ về bệnh liên quan đến hệ thần kinh, còn tương hội với tinh hệ "Thiên đồng Cự môn" và Thiên hình ở cung Sửu, lại hội hợp với "Thái dương Thiên lương" mượn ở cung Mão nhập cung Dậu, tam phương ứng hiếp, dó đó có thể đoán định là bị thương bát ngờ gây ảnh hưởng đến thần kinh cột sống.
Tra đến lưu nguyệt, năm Nhâm Tuất tháng Giêng khởi Nhâm Dần, mà Đẩu quân năm Tuất cũng trùng hợp ở cung Dần, cho nên lấy cung Dần làm cung mệnh của lưu Nguyệt.
Tháng Nhâm Dần thì Vũ khúc lại hóa Kị, trùng điệp với lưu niên hóa Kị, sức mạnh rất lớn, lại tương hội với lưu niên Đà, nguyệt Đà của cung Tuất, còn tương hội với Kình dương và Linh tinh ở cung Ngọ (tam phương tứ chính của hai sao này bị vận Đà, niên Đà, nguyệt Đà, niên Dương, nguyệt Dương xung khởi, nên, tuy là Kình dương và Linh tinh của nguyên cục, nhưng vẫn có tác dụng [ví lưu nguyệt của cung mệnh), vì vậy có thể đoán vận trình của tháng này không được tốt.
Tra lưu nhật đến ngày mồng 5 là ngày Nhâm Tý, cung mệnh của lưu Nhật ở cung Ngọ, vì can của ngày là Nhâm, nên Vũ khúc của cung Dần lại hóa Kị lần nữa, thành Vũ khúc ba lần hóa Kị, xung động Liêm trinh hóa Kị ở cung Tuất. Ở tam phương tứ chính tổng cộng gặp 8 sát tinh Kình dương Đà la và Linh tinh, cực kỳ nghiêm trọng.
Thêm vào đó, cung Tai ách của lưu nhật, là cung Sửu có "Thiên đồng Cự môn" và Thiên hình, còn bị lưu nhật hóa Kị và lưu nhật Kình dương giáp cung. Vì vậy ngày hôm đó (ngày 5 tháng Giêng, năm Nhâm Tuất 1982) khó tránh tai nạn giao thông, chảy máu, gãy xương, sau trị khỏi vẫn còn bị tổn thương thần kinh cột sống, phải vật lý trị liệu.
Người phụ nữ này sau khi bị tổn thương, ảnh hưởng đến sinh hoạt tính dục, chồng vì vậy mà thay đổi, đến năm 1985 Ất Sửu có nguy cơ phải ly hôn. Bạn đọc thử xem xét cung Phu của bà ta từ lưu niên Nhâm Tuất xem sao.
5)- Cách luận đoán lưu thời
Tử Vi Đẩu Số tuy có phương pháp luận đoán "lưu thời", nhưng khi luận đoán lưu thời, sẽ rơi vào tình trạng chi ly thái quá, nên phái Trung Châu ít dùng đến.
Phép tính lưu thời là khởi cung mệnh của giờ Tý ở cung Tý, khởi cung mệnh của giờ Sửu ở cung Sửu, .v.v... đến khởi cung mệnh của giờ Hợi ở cung Hợi. Nhưng can chi thì dùng ngũ Thử độn như sau:
- Ngày Giáp Kỷ khởi giờ Giáp Tý
- Ngày Ất Canh khởi giờ Bính Tý
- Ngày Bính Tân khởi giờ Mậu Tý
- Ngày Đinh Nhâm khởi giờ Canh Tý
- Ngày Mậu Quý khởi giờ Nhân Tý
Như đối với ví dụ trên, ngày Nhâm Tý khởi giờ Canh Tý, đến giờ Ngọ độn can là Bính, cung mệnh của lưu thời ở Ngọ, có Liêm trinh hóa Kị, còn có Kình dương bay vào cung mệnh, cho nên tai nạn giao thông xảy ra vào lúc 12 giờ 20 phút, là thuộc giờ Ngọ.
Cái này thì chịu khó tìm một chút là ra thôi. Vietnam xin chia sẻ cách tính Nhật Hạn và Thời Hạn của Vân Đằng Thái Thứ Lang. Với một sự mặc định rằng bạn đã biết tính Tiểu hạn và Nguyệt hạn ngon lành rồi.
1. Nhật hạn
Sau khi đã biết nguyệt hạn của tháng định xem ở cung nào, bắt đầu kể ngay cung đó là mồng một, rồi lần lượt theo chiều thuận, đến mồng 2, mồng 3, mồng 4 ... mỗi cung là một ngày.
2. Thời hạn
- Sau khi đã biết Nguyệt hạn của tháng định xem ở cung nào, bắt đầu kể ngay cung đó là giờ Tý, rồi lần lượt theo chiều thuận, đếm Tý, Sửu, Dần, Mão ... mỗi cung là một giờ theo hàng can Chi.
- Hoặc có trường phái bắt đầu tính giờ Tý tại cung có Nhật hạn, đếm thuận tương tự.
TỬ VI, PHẦN 39: XEM NGUYỆT VẬN (THÁNG), NHẬT VẬN (NGÀY), THỜI VẬN (GIỜ)
Nguyệt hạn/vận (tháng) – theo tôi để ý thì cũng khá đúng, tức tháng nào xảy ra vấn đề gì – cũng dễ xem. Còn nhật hạn (ngày), thời hạn (giờ) thì tôi không xem, nhưng cũng giới thiệu để bạn biết.
Theo sách Tử vi hoàn toàn khoa học quyển 1 của tác giả Đằng Sơn thì cách tính nguyệt hạn, nhật hạn, thời hạn như bên dưới:
(Đại vận 10 năm, tiểu vận 1 năm thì người ta hay dùng chữ vận, hay chữ hạn. Đến tháng, ngày, giờ thì ít dùng chữ vận mà thường dùng chữ hạn. Như ít sách ghi là nguyệt vận, mà thường dùng là nguyệt hạn. Chữ vận hay chữ hạn gì trong những trường hợp này đều chỉ “1 giai đoạn thời gian”.)
NGUYỆT HẠN (THÁNG):
Cách 1: Tiểu hạn ở đâu thì xem đó là tháng 1 và đi thuận chiều kim đồng hồ mà đếm tới. Ví dụ lá số mẫu, năm tiểu hạn 2024 (Thìn) ở cung Dần thì tại đó là tháng 1; tiếp theo cung Mão là tháng 2, cung Thìn là tháng 3, …
Cách 2: từ năm tiểu hạn đi ngược đến tháng sinh, rồi đi thuận đến giờ sinh. Cách này hợp lý với nguyên tắc chuyển động của các vì sao quan sát từ trái đất hơn. Đây cũng là cách mà www.tuvivietnam.vn chọn. Tôi cũng đề nghị bạn dùng cách này. Lá số mẫu năm tiểu hạn 2024 Thìn ở cung Dần, tháng sinh là tháng 7 (dùng tháng âm, giờ theo Chi), giờ sinh là giờ Tỵ; vậy từ cung Dần đếm là tháng 1, đi ngược chiều kim đồng hồ, đến tháng 7 là ở cung Thân, rồi tính là giờ Tý, đếm thuận chiều kim đồng hồ đến giờ Tỵ, là cung Sửu, là tháng 1. Bạn nhìn lá số mẫu đi, đúng là cung Sửu có ghi tháng 1.
Cách 3: cung nguyệt hạn cố định ở tháng 1 là Dần, đi thuận chiều kim đồng hồ đếm tiếp cung Mão là tháng 2, cung Thìn là tháng 3, …
Xem nguyệt hạn: tháng ở cung nào thì hay có chuyện liên quan lĩnh vực đó, ví dụ cung Tật Ách của lá số mẫu ghi tháng 10, thì những tháng ở tam phương tứ chính đều có thể xảy ra chuyện bệnh tật tai nạn, là những tháng 2, 4, 6, 10.
NHẬT HẠN (NGÀY)
Tháng đó đang ở cung nào (xem cách tính cung nguyệt hạn ở trên) thì xem cung đó là ngày 1, đếm theo chiều thuận chiều kim đồng hồ đi tới. Ví dụ như trên, tháng 10 cung Tật Ách, vậy dự đoán ngày nào xảy ra chuyện? Là ngày mùng 1 (âm lịch), 13, 25. Nếu tháng 4 xảy ra chuyện liên quan Tật Ách thì là ngày nào? Ngày 7 (từ tháng 4 tính là ngày mùng 1, đếm thuận đến cung Tật Ách là ngày mùng 7), cộng 12 (12 cung trên lá số, đi hết 1 vòng) là ngày 19.
THỜI HẠN (GIỜ)
Là tính giờ nào bị, vụ này quá chi tiết, bạn xem để biết chứ đúng sai chưa chắc, hoặc bạn thử để ý xem. Cách tính: từ cung lưu nhật hạn của tháng tính là giờ Tý, rồi đếm theo chiều thuận chiều kim đồng hồ mỗi cung tăng 1 canh giờ, tức tính theo giờ Tý, giờ Sửu, giờ Dần, ...
***