07/04/2026
💔TẠI SAO CHÚNG TA LẠI CẢM THẤY TỔN THƯƠNG SÂU SẮC KHI BỊ "GHOST"? MỘT NHÀ TÂM LÝ HỌC LÝ GIẢI🤔
Với tư cách là con người, chúng ta dành một khoảng thời gian đáng kể để suy nghĩ về việc người khác nghĩ gì về mình.
Mặc dù đây không phải là một nhận định gây tranh cãi, tôi tin rằng vẫn có người tự nhủ: “Không, tôi không làm vậy” hoặc “Tôi không quan tâm người khác nghĩ gì.”
Phản ứng này là điều dễ hiểu. Sự không đồng tình mà bạn có thể cảm thấy trước nhận định trên có thể xuất phát từ những lời khuyên thiện chí - khi người khác, nhằm giúp bạn tránh khỏi sự tự chỉ trích và lo âu, đã trấn an rằng việc người khác nghĩ gì về bạn là điều không quan trọng.
Tôi chỉ xin đáp lại rằng: “Có, điều đó thực sự quan trọng,” và mong bạn tiếp tục đọc để tôi giải thích lý do vì sao.
Tôi xin bắt đầu bằng một nhận định mà có lẽ tất cả chúng ta đều dễ dàng đồng thuận: Khi hành động, việc chúng ta suy nghĩ về cách hành động của mình ảnh hưởng đến người khác là điều hợp lý và phù hợp. Chẳng hạn, ta có thể tự hỏi: “X nghĩ gì về điều mình vừa nói?” Tuy nhiên, quá trình suy nghĩ về suy nghĩ của người khác có thể trở nên phức tạp hơn. Chúng ta có thể mở rộng phạm vi cân nhắc bằng cách tập trung vào việc một người nghĩ gì về cảm xúc của ta đối với người khác (ví dụ: “Y nghĩ mình cảm thấy thế nào về X sau những gì mình vừa nói?” hoặc “Y nghĩ X cảm thấy thế nào về mình sau những gì mình vừa nói?”).
Những suy nghĩ này không nhất thiết mang tính tiêu cực hay thiếu thích nghi.
Trái lại, đây là những hình thức tư duy phức tạp - thường được những người có kỹ năng xã hội tốt nhất vận dụng - nhằm giúp xây dựng và duy trì các mối quan hệ xã hội. Dù đóng vai trò quan trọng, lối tư duy này không phải bẩm sinh; đó là một kỹ năng tinh vi và thiết yếu được chúng ta rèn luyện trong suốt cuộc đời.
Khi còn là trẻ nhỏ, chúng ta chưa cân nhắc đến tác động của mình đối với người khác. Trẻ thường đòi hỏi, khóc lóc và ăn vạ một cách vị kỷ, chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà không quan tâm đến người xung quanh. Chỉ khi lớn hơn và phát triển cái gọi là “thuyết tâm trí” trong khoảng từ ba đến năm tuổi, chúng ta mới bắt đầu nhận thức rằng người khác cũng có suy nghĩ và cảm xúc, và rằng hành động của mình có thể ảnh hưởng đến họ. Theo định nghĩa, thuyết tâm trí là khả năng hiểu rằng cả bản thân và người khác đều có các trạng thái tinh thần riêng, và những trạng thái ấy có thể khác với của mình, thậm chí khác với thực tế khách quan.
Sự thấu hiểu về trạng thái tinh thần của chính mình trao cho con người một sức mạnh lớn, bởi khi nhận ra mình có suy nghĩ và cảm xúc, ta có thể học cách kiểm soát chúng. Một câu chuyện tôi đặc biệt yêu thích về sức mạnh của kỹ năng này đến từ một đồng nghiệp đại học của tôi, qua cuộc trò chuyện ông có với con gái khi đang chở bé đến trường mẫu giáo:
“Bố có biết con đang nghĩ gì không?”
“Không, Claire, con đang nghĩ gì vậy?”
“Con đang nghĩ về Giáng sinh.”
“Hay lắm, Claire.”
Vài phút sau…
“Bố biết bây giờ con đang nghĩ gì không?”
“Không, Claire, con đang nghĩ gì vậy?”
“Bây giờ con đang nghĩ về Halloween,” Claire mỉm cười đáp.
Khi còn ở độ tuổi mẫu giáo, Claire không chỉ cho thấy mình đã phát triển thuyết tâm trí mà còn thể hiện khả năng đáng chú ý trong việc định hướng suy nghĩ để điều chỉnh thế giới nội tâm của chính mình.
Tôi cho rằng đây chính là kỹ năng mà những người đưa ra lời khuyên đang muốn bạn phát triển. Về bản chất, họ không nói rằng: “Đừng nghĩ đến việc người khác nghĩ gì,” bởi điều đó gần như không thể đối với những ai trên năm tuổi và có dù chỉ một chút đồng cảm. Thay vào đó, họ muốn nói rằng: “Khi bạn nghĩ về điều người khác nghĩ, hãy sử dụng nó vì những giá trị tích cực tiềm năng của nó, rồi sau đó loại bỏ nó,” theo một cách tương tự phương pháp của Marie Kondo.
Xét rằng trung bình mỗi người có hơn 6.000 suy nghĩ mỗi ngày, kiểu “thanh lọc nhận thức” này có thể mang lại lợi ích, giúp giải phóng nguồn lực tinh thần cho những suy nghĩ tích cực hơn. Tuy nhiên, cũng giống như việc loại bỏ những vật dụng không mong muốn khỏi ngôi nhà của mình là điều khó khăn với nhiều người, việc loại bỏ những suy nghĩ và cảm xúc không mong muốn khỏi tâm trí cũng không hề dễ dàng. Đặc biệt với những người dễ lo âu và trầm cảm, sự lo lắng và suy tưởng lặp đi lặp lại - tức việc nghiền ngẫm các suy nghĩ tiêu cực liên quan đến những sự kiện trong quá khứ - là phổ biến và mang tính không thích nghi.
Lo lắng và suy tưởng cũng được dự báo bởi trí tuệ ngôn ngữ, nghĩa là xét về mặt ngôn ngữ, chúng ta càng thông minh thì càng có xu hướng lo lắng và suy ngẫm nhiều hơn. Đây là lý do vì sao nhiều người trong chúng ta gặp khó khăn trong việc chuyển hướng năng lượng nhận thức khỏi những sự kiện quá khứ gây phiền muộn để hướng đến những điều mang lại niềm vui. Làm cho vòng xoáy lo lắng và suy tưởng thêm nghiêm trọng, bối cảnh giao tiếp xã hội qua công nghệ hiện nay khiến mọi việc trở nên đặc biệt khó khăn do tính lưu giữ gần như vĩnh viễn của các dấu vết kỹ thuật số.
Ba mươi năm trước, khi tự đánh giá tác động của mình đối với người khác, chúng ta dựa vào những ký ức không hoàn hảo và nhanh chóng phai nhạt để lấp đầy những khoảng trống trong nhận thức. May mắn thay, tâm trí có thể “khoan dung” với bản thân, quên đi một số chi tiết bất lợi của quá khứ và ghi nhớ những điều hứa hẹn hơn thông qua một thiên lệch tích cực rõ rệt - một cơ chế của trí nhớ giúp chúng ta duy trì lòng tự trọng, cái tôi và cái nhìn tích cực về cuộc sống.
Xu hướng ghi nhớ các chi tiết tích cực nhiều hơn tiêu cực có thể đặc biệt rõ rệt ở những người mang khuynh hướng “Pollyanna”. Theo nguyên tắc Pollyanna, con người nói chung có xu hướng hồi tưởng nhiều chi tiết dễ chịu hơn là khó chịu. Và những ai thể hiện xu hướng này mạnh nhất cũng thường tự đánh giá mình ở mức cao về hạnh phúc và sự lạc quan.
Vì vậy, những người hạnh phúc và lạc quan có xu hướng ghi nhớ các chi tiết hạnh phúc và lạc quan. Nhưng điều gì xảy ra khi họ không còn phải chỉ dựa vào trí nhớ của mình? Khi đó sẽ ra sao?
Đáng tiếc, thế giới tương tác qua trung gian máy tính ngày nay ít “khoan dung” hơn nhiều, và sự lạc quan không thể giúp bạn xóa bỏ những thực tế rõ ràng. Các tương tác xã hội thường được lưu giữ vĩnh viễn trong tin nhắn và hình ảnh, cho phép người ta quay lại xem và xem lại nhiều lần.
Khác với tương tác trực tiếp hoặc qua điện thoại, nhiều kênh giao tiếp kỹ thuật số - như tin nhắn văn bản hoặc email - được đánh giá cao về một đặc tính gọi là “tính bền vững” (persistence), nghĩa là nội dung giao tiếp qua các kênh này được xem là tương đối lâu dài.
Bạn đã bao nhiêu lần xem lại email hoặc tin nhắn mình gửi, đọc lại để kiểm tra xem mình đã diễn đạt đúng điều muốn nói theo cách mong muốn hay chưa? Đã bao giờ bạn gửi thêm một tin nhắn khác để đính chính? Rõ ràng, một số người trong chúng ta thường nghiền ngẫm và hối tiếc về những thông điệp mình đã gửi.
Việc buông bỏ suy nghĩ của người khác và những sai sót trực tuyến của chính mình có thể đặc biệt khó khăn nếu những suy nghĩ đó liên quan đến các mối quan hệ thân thiết - vốn thiết yếu đối với cảm giác thuộc về và được yêu thương. Đây cũng là một khuynh hướng tự nhiên của con người và có thể được lý giải rõ nhất trong hai khung lý thuyết lớn.
Thứ nhất là thuyết học tập xã hội của Albert Bandura, cho rằng chúng ta không hình thành bản thân trong sự tách biệt. Ngược lại, chúng ta chịu ảnh hưởng từ những người xung quanh.
Ngay từ khi còn là trẻ sơ sinh, chúng ta quan sát và bắt chước người khác. Chúng ta học gián tiếp thông qua cách người khác được khen thưởng hoặc bị trừng phạt, và điều chỉnh hành vi của mình nhằm tối đa hóa phần thưởng và tránh né trừng phạt. Do đó, bối cảnh xã hội có ý nghĩa quan trọng, và sự chấp thuận hay không chấp thuận từ người khác định hình hành vi tương lai của chúng ta. Đây là một nguyên lý nền tảng của quá trình học tập ở con người.
Trong khi đó, tầm quan trọng mà chúng ta gán cho sự chấp thuận này có liên hệ với một lý thuyết khác - tháp nhu cầu của Abraham Maslow - một mô hình hình kim tự tháp phản ánh động lực của con người hướng tới sự tự hiện thực hóa, với các tầng đại diện cho những nhu cầu cơ bản.
Ngay phía trên các nhu cầu sinh lý (như thức ăn và nước uống) và nhu cầu an toàn (như công việc ổn định và nơi ở), con người có nhu cầu được yêu thương. Khi còn nhỏ, những nhu cầu này thường được đáp ứng bởi một số ít người, chủ yếu là các thành viên gia đình. Tuy nhiên, khi chúng ta dành nhiều thời gian hơn trong không gian công cộng với bạn bè đồng trang lứa và các tác nhân ảnh hưởng xã hội khác, nhu cầu được yêu thương và thuộc về của chúng ta mở rộng để bao phủ các không gian đó.
Đặt trong khuôn khổ lý thuyết này, việc quan tâm đến suy nghĩ của người khác là một cơ chế bảo vệ, được thiết kế nhằm giúp chúng ta xây dựng một “mạng lưới thuộc về”, bao gồm cả những mối liên hệ xa hơn, và bảo vệ chúng ta khỏi nguy cơ mất đi tình yêu từ những người mà ta gắn bó mật thiết nhất.
Giả định rằng đến lúc này bạn đã chấp nhận rằng mình thực sự suy nghĩ về suy nghĩ và cảm xúc của người khác - và đó là điều tích cực - tôi muốn bạn hướng sự chú ý đến những người mà suy nghĩ của họ chiếm phần lớn thời gian trong tâm trí bạn, xét theo mức độ tương đối. Lượng thời gian bạn dành để suy nghĩ về suy nghĩ của một người có thể tỷ lệ nghịch với mức độ gần gũi của họ. Bạn có thể dành nhiều thời gian suy nghĩ về những người không thuộc nhóm kết nối thân thiết nhất của mình. Vì sao lại như vậy?
Lý thuyết giảm bất định (uncertainty reduction theory) - cho rằng cá nhân có nhu cầu giảm bớt sự không chắc chắn về người khác để xây dựng mối quan hệ - có thể lý giải phần lớn hiện tượng này. Thực tế, việc nhận diện suy nghĩ và động cơ của những người có mối liên hệ xa với chúng ta là đặc biệt khó khăn.
Hơn nữa, vì đây là những mối liên hệ lỏng lẻo nhất của chúng ta, chúng ta có thể dành nhiều thời gian hơn để phân tích các tương tác với họ, bởi mức độ bất định về suy nghĩ và cảm xúc của họ là cao nhất. Đây cũng là lý do chúng ta cảm thấy bất an khi tin nhắn của mình bị “xem mà không trả lời” hoặc khi bị “ghost” sau những nỗ lực kết nối xã hội.
Ghosting tác động vào một trong những điểm dễ tổn thương nhất của con người: khát khao được biết. Chúng ta có nhu cầu về sự khép lại (closure). Chúng ta muốn biết mọi việc kết thúc ra sao và muốn hiểu thế giới quanh mình đang vận hành như thế nào.
Khi ai đó phớt lờ chúng ta, điều đó khiến ta rơi vào trạng thái hoài nghi - và sự hoài nghi này có thể trở nên ám ảnh. Chúng ta khao khát câu trả lời về mối quan hệ nhưng lại không thể buộc chúng xuất hiện. Khi mối quan hệ đó có giá trị đối với ta, mức độ lo âu gia tăng theo từng giờ, từng ngày trôi qua.
Tuy nhiên, chính sự bất định liên quan đến ghosting không phải là nguyên nhân cốt lõi gây ra nỗi đau. Dĩ nhiên, chúng ta muốn biết điều gì đang xảy ra, nhưng hơn cả nhu cầu được biết, chúng ta khao khát sự kết nối giữa người với người.
Ghosting là tín hiệu của một mối liên hệ yếu hoặc đang rạn nứt. Vì vậy, ghosting thực sự chạm đến một điểm tổn thương sâu sắc hơn: nhu cầu được thuộc về và được yêu thương. Nó là một dấu hiệu cảnh báo rõ ràng rằng chúng ta có thể đang đánh mất một người mình yêu, hoặc một người mà ta mong muốn được yêu.
Đây là lý do những người bị ghost đôi khi tìm đến các biện pháp tuyệt vọng nhằm lấp đầy khoảng trống bất định. Họ có thể liên lạc nhiều lần với người đã ghost mình, dù liên tục bị phớt lờ. Họ cũng có thể bắt đầu theo dõi người đó trên mạng xã hội. Trong trường hợp này, họ sử dụng internet như một nguồn thông tin để thu thập những mảnh dữ liệu rời rạc về cách người kia đang tiếp tục cuộc sống của mình.
Ghosting gây tổn thương đúng vào điểm dễ tổn thương nhất của chúng ta. Người thực hiện hành vi ghost biết điều đó, nhưng vẫn lựa chọn làm như vậy. Nếu ai đó ghost bạn, hoặc họ đang chơi một trò thao túng, hoặc ở thời điểm đó họ không thực sự quan tâm đến bạn. Dĩ nhiên, cũng có khả năng họ làm mất điện thoại hoặc quá bận rộn.
Nhưng nếu một người thực sự muốn nói chuyện với bạn, họ sẽ tìm cách. Nếu họ không làm vậy, hãy bước tiếp - ngay lập tức.
Đừng theo dõi họ. Đừng ám ảnh. Đừng lãng phí dù chỉ một khoảnh khắc để lục tìm trên internet nhằm tìm câu trả lời xem liệu họ có thực sự quan tâm hay không.
Cuộc đời ngắn ngủi, và thời gian là quý giá.
Bài được dịch bởi HANU Psyche
Nguồn: Ở phần bình luận
--------------------
Thông tin liên hệ:
Fanpage: HANU Psyche - CLB Nâng cao nhận thức về sức khỏe tâm thần
✉️Email: hanupsyche@gmail.com
📱Instagram:
📍Address: Km9 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội