Phòng chẩn trị YHCT Minh Đức

Phòng chẩn trị YHCT Minh Đức Phòng chẩn trị YHCT MINH ĐỨC chuyên bắt mạch, kê đơn, châm cứu, bấm huyệt dư

TRỊ SỐ HUYẾT ÁP KHÔNG PHẢI LÀ CON SỐ HẰNG ĐỊNHTrị số huyết áp thay đổi rất nhiều khi các yếu tố tác động như tâm lý (lo ...
30/11/2015

TRỊ SỐ HUYẾT ÁP KHÔNG PHẢI LÀ CON SỐ HẰNG ĐỊNH
Trị số huyết áp thay đổi rất nhiều khi các yếu tố tác động như tâm lý (lo âu, sợ hãi, mừng vui,…) vận động ( đi lại, chạy nhảy) hoặc môi trường ( nóng lạnh), chất kích thích ( thuốc lá, cà phê, rượu bia) và bệnh lý ( nóng sốt, đau đớn).
Trong trường hợp trên, huyết áp thường tăng cao hơn bình thường. Ví dụ huyết áp lúc nghỉ thường là 130/80 mmHg, khi lên cầu thang lầu 3 nếu đo huyết áp ngay thì trị số huyết áp có thể 150/80- 180/90mmHg . Trong những trường hợp này không thể cho rằng người này bị cao huyết áp.
Do đó tốt nhất phải nghỉ ngơi ổn định trước khi đo huyết áp nếu muốn có trị số huyết áp trung thực và phải đo nhiều lần sau đó tính trung bình sau 3 lần đo. Mọi người cũng đừng thắc mắc nhiều nếu huyết áp trước đó khác với trị số bây giờ.
Nhịp sinh học huyết áp của mỗi người thường dao động rõ rệt, huyết áp thường cao dần từ lúc người đó thức giấc và gia tăng tùy theo người đó có vận động hoặc căng thẳng hay không. Vào chiều tối khi nghỉ ngơi thư giãn huyết áp xuống nhẹ và sẽ xuống thấp nhất khi mình ngủ say vào ban đêm gần tới sáng.
Về các số đo huyết áp gồm có 2 trị số : Huyết áp tối đa hay còn gọi là tâm thu, huyết áp tối thiểu hay còn gọi là tâm trương. Căn cứ vào 2 trị số này để chẩn đoán huyết áp thế nào là bình thường:
+ + Huyết áp bình thường: Đối với người lớn, huyết áp tâm thu dưới 120mmHg và huyết áp tâm trương dưới 80mmHg thì được gọi là huyết áp bình thường.
++ Huyết áp cao: Khi huyết áp tâm thu từ 140 mmHg trở lên hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmHg trở lên thì chần đoán là cao huyết áp.
++Tiền cao huyết áp: Giá trị nằm giữa huyết áp bình thường và cao huyết áp (Huyết áp tâm thu từ 120-139 mmHg hoặc huyết áp tâm trương từ 80-89 mmHg) thì được gọi là tiền cao huyết áp
++ Huyết áp thấp: Hạ huyết áp (huyết áp thấp) được chẩn đoán khi huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg hoặc giảm 25 mmHg so với bình thường.
Tuy nhiên, tùy theo độ tuổi lại có những mức chỉ số huyết áp an toàn riêng.
Theo Hiệp hội tim mạch Mỹ (AHA), huyết áp của người Huyết áp bình thường và an toàn cho mọi người là ở mức thấp hơn 120/80 mm / hg.

KHÍ HUYẾT LÀ NGUỒN GỐC CỦA VẠN BỆNHKhí là danh từ để chỉ phần sinh năng, năng lượng vận hành trong cơ thể, bao gồm khí l...
30/11/2015

KHÍ HUYẾT LÀ NGUỒN GỐC CỦA VẠN BỆNH
Khí là danh từ để chỉ phần sinh năng, năng lượng vận hành trong cơ thể, bao gồm khí lực, sức mạnh, hơi thở, công năng vận hành của các tạng phủ… Chứng Khí hư là tên gọi chung chỉ công năng tạng phủ trong cơ thể bị giảm sút, nguyên khí bất túc dẫn đến chứng trạng suy yếu toàn thân.
Nguyên nhân thường do tuổi cao, mắc các chứng nội thương, bệnh nặng, lao động mệt nhọc, ăn uống kém thiếu dinh dưỡng, mất nhiều máu hay mất máu trong thời gian dài hoặc do cơ địa bẩm thụ tiên thiên từ cha mẹ kém (sinh ra đã yếu do quá trình mang thai ảnh hưởng)… là những nguyên nhân chính gây nên chứng Khí Hư.
Biểu hiện thường gặp của chứng KHÍ HƯ:
+ Mệt mỏi, yếu sức, không muốn làm việc, tinh thần chán nản.
+ Đoản hơi (hơi thở ngắn), vận động nhiều hay thở gấp, tiếng nói nhỏ, hụt hơi biếng nói.
+ Đau nhức vai gáy và đau lưng, thoái hóa cột sống, tê tay tê chân
+ Ăn kém, không thiết ăn, ăn khó tiêu, hay bị tiêu lỏng
+ Sắc mặt trắng bệch, chóng mặt, hoa mắt.
+ Tim đập nhanh loạn xạ, tự ra mồ hôi, sợ gió, sợ lạnh, dễ bị cảm
+ Hay mắc tiểu, không nhịn lâu được.
+Nam giới xuất tinh sớm, di tinh liệt dương.
+ Nữ rối loạn kinh nguyệt, kinh ra nhiều, rong kinh kéo dài
+ Trẻ em chậm lớn, ăn uống kém, xương mềm, răng tóc thưa ít.
**** Huyết là danh từ chỉ chung về máu và các công năng của máu, huyết dịch trong cơ thể. Chứng Huyết hư là tên gọi chung cho các biểu hiện do máu và huyết dịch trong cơ thể bất túc (không đủ), tạng phủ mất sự nuôi dưỡng dẫn đến suy nhược toàn thân. Nguyên nhân phần nhiều do nội thương bệnh lâu ngày, tư lự quá độ, mệt mỏi, ăn uống thiếu thốn kéo dài… ngấm ngầm làm hao tổn ẩm huyết. Chứng Huyết Hư đa phần gặp ở phụ nữ vì kinh nguyệt và thụ thai sinh đẻ đều lấy âm huyết làm gốc.
Biểu hiện thường gặp của chứng HUYẾT HƯ:
+ Sắc mặt xanh sao, không tươi, trắng nhợt hoặc vàng bủng.
+ Chóng mặt, hoa mắt, tối sầm mặt khi ngồi xuống đứng lên
+ Khó ngủ, ngủ chập chờn, hay giật mình, hay mộng mị, nằm mơ linh tinh.
+ Đau đầu, khó tập trung, trí nhớ kém, hay quên vặt.
+ Tinh thần hay bất an, hoảng loạn, sợ sệt, hay lo lắng, hồi hộp không rõ nguyên nhân.
+ Chân tay tê dại, cơ thịt hay mỏi, môi và móng tay nhợt nhạt, tóc rụng, da khô.
+ Người già ngủ ít, táo bón, hay lẫn
+ Phụ nữ hành kinh muộn, kinh ít, sắc nhợt, bụng đau nhiều thậm chí bế kinh.
Qua phân tích các biểu hiện của Khí Hư và Huyết Hư chúng ta thấy các chứng bệnh Huyết áp thấp, Suy nhược, Thiếu máu đều thuộc phạm vi của hai chứng này.
Chính vì vậy việc điều trị chứng bệnh Huyết áp thấp-Thiếu máu và Suy nhược phải lấy việc bổ Khí và Huyết làm gốc.

PHƯƠNG PHÁP ĂN UỐNG CHO NGƯỜI BỆNH HUYẾT ÁP THẤP VÀ SUY NHƯỢCTrong cách điều trị bệnh của các vị danh y ngày xưa thì điề...
29/11/2015

PHƯƠNG PHÁP ĂN UỐNG CHO NGƯỜI BỆNH HUYẾT ÁP THẤP VÀ SUY NHƯỢC

Trong cách điều trị bệnh của các vị danh y ngày xưa thì điều đầu tiên là sử dụng chế độ ăn uống và tập luyện để điều chỉnh sự mất cân bằng Âm Dương - Khí Huyết trong cơ thể. Khi cơ thể lấy lại sự quân bình thì bệnh tật từ đó sẽ thoái lui. Khi không thể hướng dẫn người bệnh điều chỉnh chế độ ăn uống và tập luyện được thì khi đó thầy thuốc mới sử dụng đến phương dược và châm cứu can thiệp vào sự vận hành của lục phủ ngũ tạng.
Đối với chứng bệnh Huyết áp thấp - Thiếu máu và suy nhược cơ thể với nguyên nhân chính là sự thiếu hụt Khí và Huyết trong cơ thể lâu ngày gây nên. Vì vậy điều tiên quyết và quan trọng nhất trong các phương pháp điều trị chứng bệnh này là giúp cơ thể đầy đủ Khí Huyết. V ì thuộc hư chứng lâu ngày, tạng phủ Tỳ Vị (hệ thống tiêu hoá và dạ dày) đã suy yếu nên việc hấp thu và chuyển hoá chất dinh dưỡng vào cơ thể sẽ gặp trở ngại, thường người bệnh thường hay khó tiêu, ăn uống không nhiều và không ngon miệng. Các lông mao hấp thu dinh dưỡng của thành ruột non cũng làm việc không tốt từ đó không thể hấp thụ chất dinh dưỡng từ dạ dày chuyển xuống nên dù có đưa bao nhiêu đồ bổ chất bổ vào cơ thể cũng sẽ không được chuyển hoá rồi đẩy ra ngoài uổng phí. Chính vì vậy người bệnh Huyết áp thấp - Thiếu máu và suy nhược cơ thể lâu ngày cần phải ăn uống phải tuân theo một chế độ riêng biệt.
Đầu tiên là chế độ ăn ít để phục hồi nguyên khí.
Chúng ta ăn thức ăn vào cơ thể, đầu tiên là được chứa ở dạ dày (đông y là gọi là Vị) để dạ dày tiết các dịch tiêu hoá và nhào trộn thức ăn. Quá trình vận hoá của dạ dày cần có sự góp sức của Nguyên khí rất nhiều. Nguyên khí như cái lò lửa đun nóng để nấu chín thức ăn, chúng ta bệnh lâu ngày Nguyên Khí đã suy giảm nên việc dung nạp và tiêu hoá thức ăn gặp trở ngại. Càng đưa nhiều thức ăn đặc biệt là các chất bổ thì cơ thể lại phải "vận khí" để tiêu hoá, Nguyên khí đã suy chưa có thời gian phục hồi lại phải gồng mình làm việc tiếp. Vô tình chúng ta ăn uống không đúng cách lại trở thành một gánh năng cho sự phục hồi của cơ thể.
Cho nên bệnh nhân Huyết áp thấp - Thiếu máu và suy nhược cơ thể không được ăn nhiều, ăn no mà cần phải ăn vừa tới, ăn hơi thiếu chút xíu là no. Tôi gọi đó là phương pháp "Không ăn no nhưng ăn đủ". Chúng ta thường ăn no, ăn nhiều nhưng lại ăn những thứ cơ thể không thật sự cần. Như việc một bữa ăn hơn 2-3 chén cơm, đủ thứ thịt heo, thịt gà, cá mắm… thì trong đó hết 30 -50% là dư thừa đối với cơ thể (ngoại trừ những người làm việc nặng nhọc, vận động viên thể thao, tập tạ hay võ thuật…).Đối với những bệnh nhân hư nhược chúng ta cần tuân thủ chế độ ăn như sau:
• Hạn chế tối đa và mỡ, da, nội tạng đồ lòng vì những thứ này chứa rất nhiều Cholesterol không tốt cho cơ thể, hệ tiêu hoá chúng ta phải điều tiết làm việc rất nhiều mới có thể tiêu hoá được những thứ này.
• Ăn nhiều rau củ quả, tốt nhất là số lượng rau củ trong bữa ăn chiếm khoảng 50% lượng thức ăn đưa vào cơ thể. Trong rau củ quả chứa nhiều chất vi lượng rất tốt cho cơ thể. Tuy nhiên với tình hình chất lượng rau củ quả ngoài thị trường hiện nay đang là một vấn nạn vì lượng thuốc trừ sâu, phân bón hoá học và tăng trưởng đã làm cho rau củ quả không còn "sinh khí" cho nên hãy cố gắng tìm mua rau củ hoặc tự trồng rau củ quả sạch, không có tác động của hoá chất thì cơ thể mới có thể hấp thu và chuyển hoá thành dưỡng chất tốt được.
• Tránh dung nạp các loại thức ăn thức uống chế biến sẵn đóng hộp như mì gói, thịt cá hộp, thịt nguội, tôm cua đông lạnh, nước ngọt, nước trái cây đóng hộp…những loại thức ăn này được chế biến công nghiệp với các chất phụ gia và chất bảo quản để trong thời gian dài thì làm gì còn "sinh khí" để mà bổ cho cơ thể.
• Cần ăn các loại thức tươi sống như các loại tôm cua biển, hàu, sò mai, thịt bò, thịt dê, hột vịt lộn là các loại thức ăn thuộc nhóm bổ dương khí có tác dụng rất tốt cho việc phục hồi khí huyết của cơ thể. Tuy là bổ nhưng cũng không được ăn một lượng lớn một lần hoặc ăn liên tục trong thời gian dài, cần chia nhỏ và ăn luân phiên với các loại thức ăn khác để cơ thể có thể dung nạp tốt được.
• Đối với cơm gạo, hãy ăn những loại gạo đừng trắng quá, chỉ mới chà sơ vỏ để các vitamin và vi chất bổ dưỡng trong hạt gạo vẫn còn, hạt gạo được chà trắng muốt chỉ có tác dụng làm no bụng và cung cấp cabonhydrat (một dạng đường tạo năng lượng), ăn những loại gạo này còn có thể dẫn đến hiện tượng phù chân do thiếu vitamin nhóm B. Nếu có thể nên chuyển hẳn sang dùng gạo lức hoặc gạo mầm để dùng mỗi ngày vì loại gạo này chứa hàm lượng chất dinh dưỡng rất cao.
• Tất cả các loại đậu đều rất tốt cho cơ thể, có thể dùng đậu đen rang nấu nước uống thay trà mỗi ngày, đây là phương thuốc bổ thận khí đơn giản mà hữu hiệu có thể dễ dàng áp dụng.
• Bệnh nhân Huyết áp thấp - Thiếu máu và suy nhược nên hạn chế uống trà đặc vì chất Tanin trong trà làm ảnh hưởng đến quá trình hấp thu dinh dưỡng của cơ thể.
• Đối với các loại rau củ quả nên ăn hạn chế các loại sau: Rau Cần và Chanh Dây, Rau Má, 3 loại rau quả này có tác dụng làm giảm huyết áp, dùng thích hợp cho bệnh nhân bị huyết áp cao nên đối với bệnh nhân Huyết áp thấp không nên dùng. Dưa Leo (còn gọi là dưa chuột) có tính lạnh nhiều nên bệnh nhân hư nhược Tỳ Vị hư hàn (bao tử yếu lạnh) không nên dùng vì gây lạnh bụng khó tiêu. Các loại rau củ có tính mát như Khổ qua (mướp đắng), cải xà lách son, bí đao, rau dền… nên ăn hạn chế (ăn ít và không ăn thường xuyên)

ĐAU ĐẦU- BIỆN CHỨNG VÀ LUẬN TRỊĐầu là nơi các phần dương- khí tụ hội và tinh ba của tạng – phủ đều thượng trú trên ấy. N...
29/11/2015

ĐAU ĐẦU- BIỆN CHỨNG VÀ LUẬN TRỊ
Đầu là nơi các phần dương- khí tụ hội và tinh ba của tạng – phủ đều thượng trú trên ấy. Nếu thanh khí không thăng, thì tà khí thừa hư xăm vào ngăn ác dương – kinh, thanh khí khó lưu thông, thần kinh bị ủng trệ, đau nhức trên đầu và trán.
Nguyên nhân có ngoại cảm phong – hàn và nội – thương khí huyết, khi phát bệnh hiện chứng khác nhau. Ngoại cảm do lục dâm như: phong, hàn, nhiệt thấp và táo. Nội – thương như khí hư, huyết kém, đàm uất và thuỷ suy hỏa viêm; ngoại – cảm chữa mau khỏi, nội – thương rất lâu mạnh.
Phép chữa ngoại cảm phong hàn, như nhức đầu thân mình đau sợ lạnh, phát nóng nên dùng thuốc phát tán như Xuyên – khung trà điều tán.
Thấp nhiệt nhức đầu, thì đầu nặng như treo đá, Y phương trên gia thương – truật và Hoàng – bá, nên bỏ vị tế tân.
Phong – hỏa xông nhức đầu, gần trên đầu nổi lên và rút đau, nhức ra trán mủi nghẹt và chảy nước trong, dùng Thanh không cao.
Huyết hư nhức đầu, ban ngày nhẹ, ban đêm nặng dùng Gia – Vị – Tứ – Vật – Thang.
Thận hư nhức đầu, đầu nặng chân sưng, lưng đau chân ê mỏi, hỏa hư dùng Bát – vị – hoàn, thủy hư dùng Lục vị hoàn.
Dương khí hư, tà khí xăm vào não, đầu nhứt tay chân lạnh và mặt xanh gọi là Chân – đầu – thống, rất khó chữa nên dùng Bổ trung ích khí thang, gia Mạn kinh tử, Xuyên khung và phụ tử, Xen uống với bát vị địa hoàng hoàn.
Cũng có chứng nhức đầu phát sưng to, do thời khí dịch độc truyền nhiễm, bệnh nhẹ chỉ sưng xuống hai bên mép tai, có bệnh phát sưng dưới hàm, gọi là Đại đầu thiên hành, nên dùng Phổ tế tiêu độc ẩm.
PHƯƠNG THUỐC
Xuyên – Khung – Trà – Điều – Tán
Chữa nhức đầu do phong hàn ngoại cảm, đầu nặng mắt mờ, giữa đầu nhức rang 2 bên, mũi nghẹt phát nóng sợ lạnh.
Dược vị
Xuyên khung 1 lạng, Kinh giới tuệ 1 lạng, Bạc hà, Hương phụ đều 2 lạng, Cương hoạt, Bạch chỉ, Phòng phong , Cúc hoa mỗi vị đều 5 đồng, Chích thảo 4 đồng, Tể tân 2 đồng, Sanh cương 2 đồng.
Các vị trên đều tán ra bột, mỗi lần uống 2 đồng với nước trà nấu đậm, uống khi trà nóng.
THANH – KHÔNG CAO
Chữa phong hỏa, nhức đầu nghẹt mũi chảy nước.
Dược vị
Khương – hoạt, Phòng – phong đều 3 đồng, Sài hồ 1 đồng rưỡi, Hoàng cầm ( sao) 2 đồng, Xuyên – khung, Bạc hà, Hoàng liêu (sao rượu ) mỗi vị 1 đồng, Chích thảo 1 đồng rưỡi.
Các vị trên dùng 3 chén nước sắc còn 8 phân uống.
GIA – VỊ – TỨ – VẬT – THANG
Chữa huyết hư, hỏa xông nhức đầu.
Dược- vị
Đương qui, Hoàng bá ( sao rượu ), Tri mẫu (sao rượu), Hoàng cầm (sao rượu) mỗi vị đều 3 đồng, Sanh- địa 4 đồng, Mạn kinh tử, Hoàng lieu, Chí tử ( sao) đều 2 đồng, Xuyên khung 2 đồng.
Các vị trên dùng 3 chén rưỡi nước, sắc còn 1 chén uống 1 lần.
BÁT – VỊ – ĐỊA – HOÀNG – THANG
Tức là Lục vị địa hoàng thang , gia Phụ – tử ( chế) 1 đồng và Nhục quế 7 phân sắc 3 chén rưỡi nước còn 8 phân uống khi còn ấm.
Công dụng ích hỏa bổ chân dương, trừ thủy tà.
Lục vị địa hoàng hoàn đổi thành thang, chỉ bớt trong 10 phần lấy 1, thí dụ 8 lạng, chỉ dùng 8 đồng và 3 lạng, dùng 3 đồng, vv….
PHỔ – TẾ – TIÊU – ĐỘC – ẨM
Dược vị
Cam thảo, Kiết cánh, Hoàng lieu ( sao rượu ) mỗi vị đều 2 đồng, Mã bột 5 đồng, Nguyên sâm 5 đồng, Quí hồng 5 đồng, Sài hồ 5 đồng, Bạc hà 6 phân, Thăng ma 5 phân, Hiên kiều 1 đồng, Ngưu bàn tử ( sao ) 1 đồng.
Các vị trên dùng 4 chén nước, sắc còn 1 chén uống.
Phép gia giảm:
Nếu người hình thể suy yếu, gia nhân sâm 1 đồng, đại tiện bí, gia đại hoàng 2 đồng. Sưng phía hàm, gia đơn bì 1 đồng rưỡi, sưng đau yết hầu, gia Kiết cánh và cam thảo, Độc khí truyền nhiễm, gia Nhân trung hoàng, Bối mẩu, Hà diệp mỗi vị đều 2 đồng.
PHẦN NAM DƯỢC THAM KHẢO.
Công dụng giải tán Phong hàn, chữa nhức đầu do ngoại cảm.
Dược vị
Lá cây ké, ngà voi, mỗi vị 3 đồng, lức cây, cỏ vườn trầu, lá bồ bồ,hoa lài mỗi vị 2 đồng. Trần bì, từ bi, thuốc cứu, cam thảo mỗi vị đều 1 đồng, ngũ tráo lá 1 đồng rưỡi, hành luôn cả củ 3 tép, gừng sống 3 lát.
Các vị trên dùng 4 chén nước sắc còn 1 chén uống.
Phép gia giảm:
Nếu cảm hàn, nhức đầu, sổ mủi, gia ngải cứu 1 đồng rưỡi, lá dầu gió hoặc tế tân 1 đồng.
Nếu cảm thấp nhức đầu và nặng, không muốn ngó lên, gia Đậu săng, rễ cỏ may (sao) đều 2 đồng. Cây cườm gạo và vỏ vông nem đều 2 đồng.
Huyết hư nhức đầu, nặng về ban đêm, bỏ vị lá bồ, ngải cứu và hành, gia tóc tiên, dền tía, nguyệt điều, hoa dành dành đều 2 đồng.
Khí hư nhức đầu, nặng về ban ngày, gia sâm biển, cây dâu, hà thủ ô, đậu săng mỗi vị 2 đồng, rau húng cây 1 đồng.
Nếu táo nhiệt uất bón đau nặng dưới bụng, gia rễ cỏ may 2 đồng, muồn sống 3 đồng, tóc tiên 2 đồng, dền g*i, rau mơ đều 2 đồng.
THẬN – THỦY – SUY, HOẢ VIÊM NHỨC ĐẦU.
Dược vị:
Thục địa ( thuốc tàu) 4 đồng. Dây gùi, rễ gừa, hoa trang trắng, rễ cỏ xước, bồ ngót, thuốc xiêm, khoai mài, rễ dền tía mỗi vị đều 3 đồng, hoa lai 2 đồng, ngủ trảo lá 1 đồng, vỏ con tranh ( Miếc giáp) sao 2 đồng rưỡi.
Các vị trên dùng 4 chén nước, sắc còn một chén uống với nước nóng, có pha 1 ít muối.
THẬN HỎA ( chân dương ) suy, Thủy tà thượng phiếm.
Dược vị
Thuốc xiêm, khoai mài, hột câu kỷ, cao qui bản, rể gừa ( sao) mỗi vị đều 3 đồng, rễ cỏ mai, hoa lài, đổ trọng (sao), đậu săng mỗi vị đều 2 đồng, thục địa ( thuốc tàu) 3 đồng, quế tốt 2 đồng, ngủ trảo 1 đồng, trần bì 1 đồng.
Các vị trên dùng 4 chén nước, còn 1 chén uống khi còn nóng.
Nếu người bệnh có thêm các triệu chứng như hoa mắt, chóng mặt, say sẩm, đau nhức vai gáy đau lưng, mắt mờ tai ù trí nhớ kém, hồi hộp lo lắng tim đập nhanh, mất ngủ, khó ngủ nên gọi trực tiếp vào số 0917 716189 hoặc 0123 585 6789 để được tư vấn điều trị.

HOÀNG KỲ – VỊ THUỐC BỔ KHÍ ĐỨNG ĐẦU TRONG ĐÔNG YHoàng kỳ có vị ngọt, tính nóng (nhiệt), thuộc dương dược. Người xưa cho ...
29/11/2015

HOÀNG KỲ – VỊ THUỐC BỔ KHÍ ĐỨNG ĐẦU TRONG ĐÔNG Y
Hoàng kỳ có vị ngọt, tính nóng (nhiệt), thuộc dương dược. Người xưa cho rằng Hoàng kỳ có tác dụng:
-Thăng đề dương khí, trị các chứng suy nhược cơ thể rất tốt.
-Bổ nguyên khí, tăng cừng các chức năng của tạng phủ.
-Bổ Tỳ – Vị (hệ thống dạ dày, tiêu hóa, chức năng chuyển hóa dinh dưỡng trong cơ thể).
-Có tác dụng giải độc.
-Trị lở loét, giảm đau, hoạt huyết, là vị thuốc hữu hiệu để trị mụn nhọt, lở loét.
-Hoàng kỳ còn có tên khác là Hoàng bô. Bô trong từ Bô lão, tức người già, có nghĩa coi Hoàng kỳ là vị thuốc bổ khí cho những người trung niên và người cao tuổi rất tốt.
-Y học hiệu đại đã nghiên cứu và chứng minh rằng Hoàng kỳ có những tác dụng sau:
+Tác dụng lên hệ miễn dịch giúp tăng sức đề kháng cho cơ thể.
+Làm chậm quá trình lão hóa của tế bào, có tác dụng ngăn ngừa oxy hóa.
+Tác dụng kích thích phát triển cơ thể, giúp tế bào phát triển nhanh hơn.
+ Làm mạnh tim, thể hiện rõ trên tim suy càng rõ.
+Có tác dụng chống viêm, đặc biệt trên viêm loét dạ dày tá tràng.
+Tác dụng bảo vệ gan, ngăn ngừa giảm hàm lương Glycogen gan làm tăng hàm lượng Protein và Albumin toàn phần trong huyết thanh, giúp tái tạo tế bào gan rất tốt. Điều này rất hữu ích cho các bệnh nhân xơ gan.
+Tác dụng nâng các cơ quan nội tạng bị sa xuống như sa dạ dày, trực tràng, tử cung…
***Trong thực tiễn lâm sàng Hoàng kỳ ngoài tác dụng bổ hư nhược còn có nhiều ứng dụng rộng rãi khác như:
+Trị bệnh trúng phong (tai biến mạch máu não), bán thân bất toại
+Thiếu máu lên não, huyết áp thấp, tay chân tê dại.
+Trị bệnh tiêu hóa kém, ăn uống ít, người uể oải, yếu sức, đi ngoài phân lỏng.
+Trị chảy máu cam, tiểu ra máu, băng huyết, ban xuất huyết.
+Trị các chứng tiêu chảy, kiết lỵ, bệnh trĩ, sa nội tạng, thai chằng xuống, sinh non do trung khí hạ hãm.
+ Bổ phổi, trị ho, hen suyễn, ra mồ hôi trộm, người phù thũng
+Trị tiểu đường, các vết thương lở loét.
+Trị cảm cúm do virus
+ Là vị thuốc ngăn ngừa ung thư hữu hiệu.
***HOÀNG KỲ CŨNG LÀ 1 TRONG NHỮNG THÀNH PHẦN CHÍNH CỦA THUỐC TỂ KIỆN TỲ ÍCH VỊ giúp Làm mạnh dương khí của Tỳ vị, điều chỉnh công năng của dạ dày và đường ruột mà tôi đang sử dụng để giải quyết tình trạng hấp thu kém của nhiều người bệnh .

Đối với những cơn đau cấp tính đặc biệt là về cơ xương khớp, phổ biến là những cơn đau cấp tính ở cổ vai gáy mà tên thườ...
29/10/2015

Đối với những cơn đau cấp tính đặc biệt là về cơ xương khớp, phổ biến là những cơn đau cấp tính ở cổ vai gáy mà tên thường gọi là vẹo cổ cấp, những cơn đau ở vùng thắt lưng gây nên những cơn đau lưng cấp, vận động hạn chế, những cơn đau mới xuất hiện sau khi sai tư thế hoặc nhiễm lạnh kéo dài vài ngày đến vài tuần được gọi là cấp tính. Với đội ngũ bác sĩ nhiều kinh nghiệm, đặc biệt được lĩnh hội các phương pháp tinh diệu châm cứu của trung quốc đã đưa ra phương pháp trị liệu tốt cho bệnh nhân bằng liệu pháp châm cứu + xông thuốc của YHCT MINH ĐỨC trong 3 - 5 ngày bệnh nhân đã có thể kết thúc liệu trình.

QUÁ TRÌNH TIẾN TRIỂN BỆNH UNG THƯQuá trình tiến triển bệnh ung thư bao gồm 6 giai đoạn:- Giai đoạn khởi phát, - Giai đoạ...
20/10/2015

QUÁ TRÌNH TIẾN TRIỂN BỆNH UNG THƯ
Quá trình tiến triển bệnh ung thư bao gồm 6 giai đoạn:
- Giai đoạn khởi phát,
- Giai đoạn tăng trưởng,
- Giai đoạn thúc đẩy,
- Giai đoạn chuyển biến,
- Giai đoạn lan tràn,
- Giai đoạn tiến triển – xâm lấn – di căn.
Các nghiên cứu cho thấy cơ chế bệnh sinh của bệnh ung thư liên quan đến cấu trúc phân tử của tế bào. Quá trình này từ lúc khởi đầu đến khi kết cấu tùy theo đặc điểm di truyền của cơ thể chủ, tế bào gốc, mô cư trú, sức đề kháng và các tác nhân liên quan. Ung thư có nhiều yếu tố nguyên nhân và tiến triển qua nhiều giai đoạn.
1. GIAI ĐOẠN KHỞI PHÁT
- Giai đoạn này bắt đầu thường là từ tế bào gốc, do tiếp xúc với chất sinh ung thư gây ra những đột biến. Làm thay đổi không hồi phục của nhân tế bào. Các tế bào đột biến biểu hiện sự đáp ứng kém với môi trường và ưu thế tăng trưởng chọn lọc ngược với tế bào bình thường ở xung quanh. Quá trình này diễn ra rất nhanh và hoàn tất trong khoảng vài phần giây.
- Đặc điểm: Không thể đảo ngược được.
- Hiện nay chưa xác định được ngưỡng gây khởi phát. Những tế bào được khởi phát thường đáp ứng kém với tín hiệu nội bào và gian bào. Các tín hiệu này có tác dụng giữ vững cấu trúc nội mô. Trong cuộc đời của con người thì nhiều tế bào trong cơ thể có thể trải qua quá trình khởi phát, nhưng không phải tất cả các tế bào đều sinh bệnh.
2. GIAI ĐOẠN TĂNG TRƯỞNG
Giai đoạn tăng trưởng (hay bành trướng chọn lọc dòng tế bào khởi phát) có thể tiếp theo quá trình khởi phát và được tạo điều kiện với thay đổi vật lý của vi môi trường bình thường.
3. GIAI ĐOẠN THÚC ĐẨY
- Bao gồm sự thay đổi biểu hiện gen, sự bành trướng đơn dòng có chọn lọc và sự tăng sinh tế bào khởi phát. Giai đoạn này biểu hiện đặc tính phục hồi, kéo dài có thể trải qua nhiều bước phụ thuộc vào ngưỡng của tác nhân.
- Giai đoạn này không có tác dụng liên hợp và đưa đến quan sát ung thư đại thể. Mức độ tiếp xúc của con người với những tác nhân thúc đẩy là khác nhau.
- Sinh ra ung thư gồm 2 giai đoạn: Khởi phát và thúc đẩy, trong đó khởi phát xảy ra trước.
4. GIAI ĐOẠN CHUYỂN BIẾN
Chuyển biến là giai đoạn kế tiếp của quá trình phát triển ung thư, cho phép sự thâm nhập hay xuất hiện những ổ tế bào ung thư nhỏ, có tính phục hồi về hướng ác tính lâm sàng.
5. GIAI ĐOẠN LAN TRÀN
- Sau giai đoạn chuyển biến, ung thư vi thể trải qua giai đoạn lan tràn. Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự tăng trưởng nhóm tế bào cư trú ở một mô nào đó đang bành trướng. Giai đoạn lan tràn có thể trong nhiều năm hoặc có thể ngắn, chỉ kéo dài vài tháng.
- Trong giai đoạn lan tràn có thể ngắn, chỉ kéo dài vài tháng, nhưng cũng có thể trong nhiểu năm. Trong giai đoạn này, khối lượng đang bành trướng gia tăng từ 1.000 - 1.000.000 tế bào, đó còn quá nhỏ để có thể phát hiện bằng những phương pháp phân tích được.
6. GIAI ĐOẠN TIẾN TRIỂN - XÂM LẤN - DI CĂN
a. Giai đoạn tiến triển:
- Giai đoạn này là sự tăng lên về kích thước của khối u do tăng trưởng của nhóm tế bào ung thư cư trú ở một nơi nào đó.
- Ở người trưởng thành bình thường số lượng tế bào mới được tạo ra bằng số lượng tế bào chết đi và luôn giữ ở mức hằng định. Khi ung thư tế bào sinh sản vô độ đã phá vỡ mức hằng định.
b. Giai đoạn xâm lấn:
Tổ chức ung thư xâm lấn nhờ có các đặc tính sau:
- Tính di động của các tế bào ác tính.
- Mất sự ức chế tiếp xúc của các tế bào. U lan rộng tại chỗ có thể bị hạn chế bởi thanh mạc, sụn và xương.
c. Giai đoạn di căn:
Di căn là một hay nhiều tế bào ung thư di chuyển từ vị trí nguyên phát đến vị trí mới và tiếp tục quá trình tăng trưởng tại đó và có một khoảng cách với vị trí nguyên phát . Nó có thể di căn theo các đường sau:
- Theo đường máu: Khi lan bằng đường qua dòng máu, tế bào di căn kết thúc ở mao mạch và tăng trưởng. Số lượng tế bào di căn tỉ lệ với kích thước của khối u.
- Theo đường bạch huyết: Khi lan bằng đường bạch huyết, tế bào ung thư lan tràn vào hệ thống mạch bạch tại chỗ, đôi khi làm tắc chúng và sau này lan vào các hạch lympho tại vùng. Hạch bạch huyết thường bị di căn từ gần đến xa, qua các trạm hạch, có khi nhảy cóc, bỏ qua hạch gần.
- Di căn theo đường kế cận và mắc phải: Di căn hay đi dọc theo mạch máu và thần kinh, theo lối ít bị cản trở như: Ung thư dạ dày lan qua nhanh lớp thanh mạc vào ổ bụng gây di căn ung thư ở buồng trứng.
- Dao mổ, dụng cụ phẫu thuật có thể gây cấy tế bào ung thư ra nơi khác trong phẫu thuật.
- Vị trí của di căn: Vị trí di căn của ung thư khác nhau tùy theo ung thư nguyên phát.
* Cơ quan hay di căn: Phổi, gan, não, xương.
* Cơ quan ít di căn: Cơ, da, tuyến ức.

RICEKỹ Năng Sinh Tồn: Xử lý khi bị b**g gânKhi chơi thể thao, luyện võ thậm chí là đi guốc cao cũng dễ bị b**g gân. Dù l...
14/10/2015

RICE
Kỹ Năng Sinh Tồn: Xử lý khi bị b**g gân
Khi chơi thể thao, luyện võ thậm chí là đi guốc cao cũng dễ bị b**g gân. Dù là một trong những tổn thương rất hay gặp nhưng trong thực tế thì hầu hết người bị b**g gân thường chủ quan và không tuân thủ đúng cách xử lý để điều trị nên dễ để lại hậu quả xấu cho cơ thể. Vậy xử lý thế nào là tốt?
- Gân : một tổ chức mềm, đàn hồi gọi là dây chằng nối liền hai đầu xương hoặc nối cơ với xương. Có chức năng như là những sợi bao bọc, bảo vệ khớp xương.
- B**g gân: là một tổn thương ở dây chằng khớp, xảy ra bởi sự tác động quá mức, sai tư thế, tai nạn lao động, chơi thể thao , hoặc dùng giày, guốc có đế quá cao (phụ nữ). Các chấn thương này sẽ làm khớp xê dịch đột ngột, thậm chí trật khớp ra khỏi vị trí bình thường diễn ra trong khoảnh khắc rồi trở về bình thường hoặc vẫn diễn ra b**g gân hoặc trật khớp gây đau, nhức, sưng nề, bầm tím.
1. Cách nhận biết b**g gân.
- Đau ngay khi bị trật khớp và đau tăng lên khi đi lại, sau 5 – 10 phút sẽ xuất hiện sưng, bầm tím (nếu có tổn thương mạch máu gây xuất huyết bên trong) hoặc chảy máu ra ngoài do tổn thương mạch máu dưới da.
- Đau nhói ở vùng khớp bị tổn thương, sau đó bị tê không còn đau nữa, nhưng cơn đau sẽ lại quay lại sau khoảng 1 giờ.
- Nếu b**g gân ở cổ chân, mắt cá chân, bàn chân bệnh nhân sẽ không thể đi được, phải đặt bàn chân nằm xuống đất.
- Khi bị b**g gân, không được chủ quan , đặc biệt với người già, việc tự chữa trị hoặc nhờ một số người không am hiểu về y học xử trí để rồi trở thành tàn tật.
- Tốt nhất hãy chụp X-quang, và siêu âm khớp để biết tình trạng của khớp, dây chằng và biết được có chảy máu, xuất tiết bao khớp hay không. Phòng các trường hợp chấn thương làm dập, rạn, nứt, b**g hoặc đứt dây chằng hoặc có kèm theo trật khớp, gãy xương.
2. Nên xử lý như thế nào?
Rest (R)- nghỉ ngơi, Ice (I)- đá lạnh, Compression (C) -ép và Elevation (E) -nâng cao.
Như vậy, phương pháp “hạt gạo” là phải nghỉ ngơi (bất động), chườm lạnh, băng ép và nâng cao đầu chi lên. Do đó, ngay sau khi bị b**g gân dù nặng hay nhẹ cũng cần được chườm lạnh ngay lập tức bằng hình cách đá lạnh đập thành cục nhỏ, cho vào túi ni lông, đặt lên vùng b**g gân sau khi đã phủ lên da một lớp khăn, vải mỏng (tránh không cho nước đá tiếp xúc trực tiếp lên da có thể gây bỏng lạnh).
- Tác dụng: Làm dịu đau, co mạch, ngưng chảy máu, và bớt phù nề. Nên kê cao đầu chi bị b**g gân khi nghỉ ngơi và nằm ngủ. Có thể dùng băng thun để băng ép khớp b**g gân, giữ ít nhất 48 giờ nhưng không băng chặt quá sẽ hạn chế lưu thông máu.
- Chú ý:
+ Không xoa bóp để làm nóng bằng các loại dầu, cồn, rượu (ngay cả rượu thuốc, mật gấu), không được chườm nóng, không tiêm bất cứ thuốc gì vào vùng b**g gân vì làm như vậy có nguy cơ làm giãn mạch, chảy máu nhiều hơn và càng phù nề thêm. Nếu dùng băng chun thì không được băng quá chặt vì có thể sẽ gây đau nhức, bầm tím thêm chỗ bị b**g gân.
Đây là phương án tạm thời khi các bạn không kịp thời gian qua cơ sở y tế. Đến với chúng tôi hoàn toàn xử lý b**g gân, trật khớp vô cùng hiệu quả đối với khớp cổ chân, khớp gối, khớp cổ tay đặc biệt là khớp cổ chân thường gặp nhiều nhất với phương pháp y học cổ truyền được kết hợp giữa châm cứu và xoa bóp bấm huyệt nắn chỉnh lại khớp.Với liệu trình 3 châm 2 bấm ( kèm xoa thuốc đặc trị b**g gân của YHCT Minh Đức ) trong 5 ngày bạn hoàn toàn có thể hồi phục nhanh chóng.

Thoái hoá khớp gốiLà sự mòn của sụn che phủ ở đầu xương trong khớp. Hình ảnh điện quang sụn khớp gối bình thường.Khoang ...
22/09/2015

Thoái hoá khớp gối
Là sự mòn của sụn che phủ ở đầu xương trong khớp.

Hình ảnh điện quang sụn khớp gối bình thường.
Khoang giữa xương đùi phía trên và xương chày phía dưới là độ dầy của sụn khớp.(Hình 1)
Ở khớp gối, đầu dưới của xương đùi, đầu trên của xương chày, và mặt sau của xương bánh chè, được che phủ bởi sụn khớp. Vận động của khớp được trượt trên bề mặt của các sụn này.
Mức độ mòn khớp
- Sụn khớp mòn không hoàn toàn, biểu hiện là giảm độ dầy của sụn khớp, làm cho bề mặt của nó trở nên không đều, cản trở tới vận động, gây đau. Trên phim chụp chỉ ra hẹp khe khớp, càng hẹp chứng tỏ thoái hoá càng nặng.
(Hình 2)
- Sụn khớp mòn hoàn toàn , tức là mất hoàn toàn sụn khớp: tiếp xúc của khớp là xương với xương, điều này giải thích tại sao bệnh nhân lại rất đau. Trên phim chụp có sự hẹp khe khớp hoàn toàn cùng với mất đường khớp, thường thấy có cả hiện tượng ăn mòn xương.
- Thoái hoá khớp có thể dẫn tới tổn thương sụn chêm, thường phối hợp với các hình thái khác như xương mọc chồi lên ở rìa ngoài khớp (g*i xương) như trên phim chụp ( Hình 3 )
Vị trí thoái hoá khớp gối
Thoái hoá khớp gối có thể bán phần hay toàn bộ gối, người ta căn cứ vào vị trí giải phẫu của gối mà chia ra như sau: ( Hình 4 )
- (1) Thoái hoá đùi - chày trong (arthrose fémoro-tibiale interne) hẹp khe khớp biểu hiện ở khoang khớp bên trong
- (2) Thoái hoá đùi - chày ngòai (arthrose fémoro-tibial externe) hẹp khe khớp biểu hiện ở khoang khớp bên ngoài
- (3) Thoái hoá đùi - bánh chè (arthrose fémoro-patellaire) hẹp khe khớp biểu hiện ở khớp đùi - bánh chè, ở giữa xương đùi và xương bánh chè.
- Thoái hoá toàn bộ (arthrose globale)hẹp khe khớp thể hiện trên toàn bộ các khớp.
Nguyên nhân thoái hoá
- Trục của chi dưới có thể là một yếu tố thuận lợi cho thoái hoá khớp. Trục của chi dưới khác nhau ở mỗi người: Có thể là gối vẹo trong (khớpgối chữ "O") tức là khi đứng thẳng hai gối tách nhau ra: hình thái này thường gặp. Ngược lại, gối vẹo ngoài (khớpgốichữ "X") hai gối sáp lại gần nhau, nhưng cổ chân thì lại tách xa nhau. Gối vẹo trong thì chuyển trọng tâm của gối vào phía trong làm tăng sức nặng đè lên khoang trong gối nên thường dẫn tới thoái hoá khớp ở bên trong. Với gối vẹo ngoài thì quá trình lại ngược lại.

Khớp gối chữ "O" và khớp gối chữ "X" ( Hình 5 )
-Trọng lượng cơ thể cũng là một yếu tố thuận lợi do khớp liên tục chịu một tải trọng lớn.
- Đôi khi không có bất cứ nguyên nhân nào, khớp gối vẫn bị thoái hoá dần theo thời gian cùng với tuổi già.
- Thoái hoá khớp thứ phát sau chấn thương cũ ở gối :
- Gẫy các xương đùi, xương chày, xương bánh chè nội khớp
- Đứt dây chằng cũ , đặc biệt là dây chằng chéo trước ,
- Thương tổn sụn chêm, đặc biệt nếu sụn chêm bị lấy bỏ. Đây là nguyên nhân thường gặp vì sụn chêm có vai trò như tấm đệm trung gian giữa xương đùi và xương chày.
- Những bệnh ở gối: có thể là nguyên nhân gây thoái khớp :
- Nhiễm khuẩn
- Thấp khớp ( đặc biệt trong viêm đa khớp dạng thấp )
- Hoại tử xương (hoại tử vô khuẩn một phần của xương), đặc biệt hay gặp ở lồi cầu đùi
Các dấu hiệu lâm sàng
• Triệu chứng thường gặp nhất của thoái hoá khớp là đau. Đây là dấu hiệu báo động cho bệnh nhân, chính dấu hiệu đau đưa bệnh nhân tới khám bệnh, trước triệu chứng đau cần phải khám bệnh và chụp điện quang, đồng thời chính dấu hiệu đau quyết định hướng điều trị.
• Cứng khớp gối thường xuất hiện rất muộn, biểu hiện là hạn chế vận động gấp và duỗi gối.
• Muộn hơn nữa, các dấu hiệu của thoái hoá khớp trở nên rõ ràng hơn, có thể làm biến dạng khớp gối: chi dưới bị cong , có thể vẹo vào trong, hoặc ra ngoài một cách rõ ràng.
• Các triệu chứng ngày càng tăng nặng , việc đi lại trở nên hạn chế, có thể phải dùng đến nạng
Điều trị thoái hoá khớp gối
Mục đích chính của điều trị khớp gối là giảm đau. Cho tới nay, chưa có một phương pháp điều trị nào cho phép tái sinh lại sụn khớp đã hỏng: Những thuốc hiện đang có đều chưa có những bằng chứng chứng tỏ tính hiệu quả của nó. Ghép sụn khớp vẫn còn trong giai đoạn thực nghiệm.
Khởi đầu bao giờ cũng điều trị vật lý và điều trị bằng thuốc. Thất bại trong điều trị này cùng với dấu hiệu đau vẫn tiếp tục dai dẳng và tăng nặng lên, xuất hiện thêm những thay đổi về hình thái của chi dưới lúc đó mới cần có can thiệp ngoại khoa.
* Đến với Minh Đức dùng những phương pháp không dùng thuốc như Xoa bóp bấm huyệt, Xoa thuốc đặc trị YHCT Minh Đức kết hợp châm cứu nhằm giảm triệu chứng đau và đánh tan các g*i xương do thoái hóa gối trong quá trình điều trị .

Address

276 Lê Trọng Tấn, Thanh Xuân
Hanoi
0084

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phòng chẩn trị YHCT Minh Đức posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Phòng chẩn trị YHCT Minh Đức:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram