19/11/2025
HIỂU VỀ KINH LẠC ĐỂ TỰ BẢO VỆ SỨC KHỎE...!
“Kinh lạc tắc nghẽn, vạn bệnh sinh!”.
Cơ thể có 12 đường kinh lạc và hai mạch Nhâm, Đốc vận hành có quy luật theo từng giờ rất rõ ràng. Để hiểu rõ hơn về các đường kinh lạc của từng tạng phủ, bài viết dưới đây giúp mọi người hiểu để tự chăm sóc sức khỏe cho chính mình và gia đình.
1. Thủ thái âm Phế kinh
Đây là kinh khởi nguồn đầu tiên của 12 kinh lạc tuần hành nên còn được gọi là: “Lục phủ ngũ tạng chi hoa cái”.
Tuần hành vào giờ Dần (từ 3-5 giờ sáng): đưa máu mới qua Phế (phổi) trao đổi khí cac bonic lấy oxy rồi về Tâm (tim) để đưa huyết dịch đi nuôi toàn thân. Giờ Dần ngủ tốt thì sắc da hồng, linh hoạt, tinh khí mạnh hay nguyên thần đầy đủ.
Giờ này vệ khí đi sâu bên trong cơ thể không còn bảo vệ và đóng mở lỗ chân lông nữa nên lúc này thân nhiệt hạ xuống, tà khí rất dễ xâm nhập vào bì mao do các lỗ chân lông bị bỏ ngỏ. Tà khí xâm nhập vào trong sẽ theo đường kinh chạy thẳng vào Phế gây bế tắc. Người bị tà khí nhập sẽ phát bệnh mạnh nhất vào giờ Dần, đột ngột ho từng cơn mạnh hay thở khò khè hen suyễn, khó thở… .
Dưỡng sinh: Giờ này nên thức dậy uống một ly nước ấm hoặc ly nước gừng để bổ dương cho cơ thể, thực hành các động tác thể dục giúp máu lưu thông được tốt, khi cơ thể hoạt động thì vệ khí đi ra ngoài điều khiển đóng mở chân lông không cho tà khí xâm nhập, vệ khí đi đến đâu người ấm lên đến đó, Phế sẽ khỏe lại và hết các cơn ho. Giờ này chữa bệnh cho Phế là hiệu quả nhất và người bị bệnh phổi cũng dễ ra đi giờ này nhất. Ban đêm không nên ngủ nơi có gió lùa và phải mặc quần áo để tránh gió là vì vậy.
Chủ trị: ho hắng, hen suyễn, hụt hơi, khái huyết, hầu họng, sưng đau, trúng gió, tức ngực, hố trên xương đòn và cạnh trong phía cánh tay đau, tê, bả vai buốt lạnh.
Kinh gồm có 11 huyệt, hai bên 22 huyệt nhưng khi chữa bệnh chỉ cần dùng các huyệt: Trung phủ, Xích trạch, khổng tối, Liệt khuyết (huyệt lạc), Kinh cử, Thái Uyên (huyệt nguyên), Ngư tế, Thiếu thương.
2. Thủ dương minh Đại tràng kinh
Giờ Mão (5-7 giờ sáng):
Giờ Mão, Đại tràng hoạt động thải chất độc và cặn bã. “Phế và Đại tràng tương quan biểu lý”. Phế mang máu mới đến Đại tràng giúp Đại tràng đi vào trạng thái hưng phấn, hoàn thành quá trình hấp thụ dinh dưỡng trong đồ ăn, thải chất cặn bã, đây là thời gian đại tiện tốt nhất, nên tập thói quen đi đại tiện vào giờ này. Tân dịch của Phế và Đại tràng có quan hệ mật thiết với nhau. Khi tân dịch của Phế giảm thì tân dịch của Đại tràng giảm theo và ngược lại khi tân dịch của Đại tràng giảm thì kéo theo tân dịch của Phế cũng giảm theo nên khi muốn nhuận tràng thì thêm thuốc nhuận Phế hoặc khi muốn nhuận Phế thì phải có thêm thuốc nhuận Tràng.
Nếu khí lực của Đại tràng quá vượng thì phân được truyền tống nhanh, dẫn đến không đủ thời gian tế bí biệt trấp gây tiêu chảy, ngược lại khí lực của Đại tràng kém thì truyền tống chậm, phân lưu lại lâu tại Đại tràng dẫn đến tế bí biệt trấp nhiều hơn, phân khô hơn và gây táo bón.
Dưỡng sinh: Sau khi vận động thể dục xong nghỉ 10-15 phút để ổn định lại huyết mạch rồi đi vệ sinh thải những chất cặn bã tích trữ của ngày hôm trước. Các bệnh của Đại tràng thường trở nặng vào giờ này.
Chủ trị: đau bụng, sôi bụng, ỉa chảy, lỵ, hầu họng sung đau, răng đau, mũi chảy nước trong, đau trước vai, đau ngón tay trỏ, sốt nóng hoặc rét run.
Kinh gồm 20 huyệt, hai bên 40 huyệt nhưng chỉ cần dùng các huyệt: Hợp cốc (huyệt nguyên), Dương khê (huyệt lạc), Thủ tam lý, Khúc trì, Tý nhu, Kiên ngung, Đại chùy, Nghinh hương.
3. Túc dương minh Vị kinh
Giờ Thìn (7- 9 giờ sáng):
Giờ này thủy cốc trong Vị (dạ dày) không còn, Tiểu Tràng và Đại tràng đều sạch sẽ, dinh dưỡng tích trữ của cơ thể đã vơi nên cơ thể cần nạp thêm năng lượng. Đây là thời gian nên ăn sáng để ổn định dinh dưỡng. Ăn sáng vào giờ này dễ tiêu hóa, hấp thu tốt. Vị tính ghét thấp nên thức ăn dạng thấp vị không nghiền nát được,Tỳ (lách) không vận hóa được thức ăn, Vị không truyền tống được thức ăn xuống Tiểu trường nên thức ăn tích lại ở Vị gây vị khí nghịch dẫn đến đầy bụng, nôn ói… Đồ ăn quá khô nóng sẽ làm nóng Vị khiến môi khô nẻ, nhiệt… Còn nhịn ăn sáng sẽ dễ bị bệnh tật.
Dưỡng sinh: Ăn sáng bằng các loại thức ăn ấm nóng. Nếu Vị đói sẽ không ngừng tiết axít, lâu dần sẽ gây loét dạ dày, viêm dạ dày, tá tràng, túi mật… Sau khi ăn khoảng một giờ có thể mát xa kinh Vị giúp điều tiết công năng của Vị. Các bệnh của Vị thường khởi phát và trở nặng vào giờ này.
Chủ trị: sôi bụng, chướng bụng, đau dạ dày, nôn mửa, chảy máu mũi, liệt mặt, hầu họng sung đau, đau ngực bụng, đau trên đường kinh đi qua, sốt đau.
Kinh gồm 45 huyệt, hai bên 90 huyệt khi chữa bệnh chỉ dùng các huyệt thông dụng là: Cự liêu, Địa thương, Giáp xa, Lương khâu, Độc tỵ, Túc tam lý, Phong long( huyệt lạc), Giải khê, Xung dương (huyệt nguyên), Hãm cốc, Nội đình, Lệ đoài.
4. Túc thái âm Tỳ kinh
Giờ Tỵ (9-11 giờ trưa):
Tỳ (Lách) là cơ quan điều hành toàn bộ việc tiêu hóa, hấp thu, bài tiết, lại quản về huyết. Công năng của Tỳ tốt thì việc hấp thu và tiêu hóa tốt, chất lượng huyết tốt, môi sẽ hồng mịn. Môi trắng cho thấy khí huyết không đủ, môi thâm cho thấy khí lạnh nhiễm kinh Tỳ. Tỳ ưa táo mà ghét thấp, vận hóa thức ăn là nhiệm vụ của Tỳ dương và Tỳ khí tuy nhiên để cho vận hóa được Thủy cốc cũng cần phải có sự hỗ trợ của Tỳ âm. Do Tỳ âm được nuôi dưỡng bằng tinh khí từ vận hành của Tỳ dương nên trừ khi chỉ có nguyên nhân làm tổn thương trực tiếp đến Tỳ âm, nếu không thì Tỳ âm chỉ hư khi mà Tỳ khí đã hư trước đó. Vì vậy trên lâm sàng ít khi gặp chứng Tỳ âm hư mà thường hay gặp Tỳ dương hư hoặc Tỳ khí hư.
Dưỡng sinh: Tỳ vị bất hòa, tiêu hóa và hấp thu không tốt, Tỳ hư khiến trí nhớ suy giảm… Đây là thời gian kinh Tỳ vận hành khai huyệt, cũng là thời gian bảo vệ Tỳ tốt nhất, các bệnh của Tỳ thường phát vào giờ này.
Chủ trị: Chướng bụng, đau dạ dày, nôn mửa, ỉa chảy, đầy hơi, vàng da, cứng lưỡi, đau tức cạnh trong đầu gối và đùi
Kinh gồm 21 huyệt, hai bên 42 huyệt nhưng khi chữa bệnh chỉ cần dùng các huyệt: Ẩn bạch, Đại đô, Thái bạch (huyệt nguyên), Công tôn (huyệt lạc), Tam âm giao, Địa cơ, Âm lăng tuyền, Huyết hải, Đại đao.
5. Thủ thiếu âm Tâm kinh
Giờ Ngọ (11-13 giờ):
“Tâm chủ thần minh, khai khiếu ở lưỡi, phát ở mặt”. Tâm chủ huyết mạch gồm 3 chức năng riêng biệt, Tâm dương hóa đỏ dinh thành huyết, Tâm khí thúc đẩy huyết vận hành đều đặn toàn thân, Tâm âm nuôi dưỡng mạch lạc toàn thân. Tâm và Phế phối hợp đưa huyết dịch đi nuôi dưỡng và ôn ấm các cơ quan tạng phủ trong cơ thể. Khi Tâm khí suy huyết hành vô lực dẫn đến huyết ứ trệ gây bệnh lý.
Tâm chủ hành huyết, Tâm tàng thần, huyết dưỡng thần, huyết là nơi trú ngụ của thần. Do đó, có mối quan hệ giữa huyết và thần. Khi có sự rối loạn của huyết đều được phản ảnh đến Tâm thần nên các chứng do huyết ứ cần cần chú ý đến Tâm thần. Tâm âm nuôi dưỡng mạch lạc, khi Tâm âm suy sẽ làm mạch lạc xơ cứng, giòn dễ vỡ gây xuất huyết.
Dưỡng sinh: Giờ Ngọ nên nghỉ ngơi để an thần dưỡng tinh khí. Một giấc ngủ ngắn vào giờ Ngọ có tác dụng dưỡng Tâm rất tốt, giúp buổi chiều tối sinh lực tràn đầy.
Chủ trị: đau tim, miệng khát, mắt vàng, sườn đau, hoặc cạnh trong bàn tay đau, long bàn tay nóng.
Kinh gồm 9 huyệt, hai bên 18 huyệt: Cực tuyền, Thanh linh, Thiếu hải, Linh địa, Thông lý (huyệt lạc), Âm khích, Thần môn (huyệt nguyên), Thiếu phủ, Thiếu xung.
6. Thủ thái dương Tiểu tràng kinh
Giờ Mùi (13-15 giờ):
Giờ Mùi phân trong đục, uống nước giúp hạ hỏa. Tiểu tràng (ruột non) phân biệt thanh trọc, Thủy cốc qua quá trình nghiền nát của Vị và vận hành của Tỳ, được truyền tống xuống Tiểu tràng. mặc dù được Tỳ vận hỏa lấy đi một phần tinh khí, tuy nhiên một số tinh chất vẫn còn tồn tại trong đó, nên khi xuống đến Tiểu tràng thức ăn một lần nữa được hỏa của Tiểu tràng gạn lọc lấy tiếp. Phần tinh khí này cũng được Tỳ vận lên Phế. Nếu dương khí của Tiểu tràng suy yếu, không thể phân thanh giáng trọc được, dẫn đến Đại tràng không thể thực hiện chức năng tế bí biệt trấp mà gây nên tiêu chảy.
Dưỡng sinh: Tiểu tràng kinh vào giờ Mùi điều hòa dinh dưỡng trong ngày. Nếu tiểu tràng kinh nóng sẽ dễ ho khan, trung tiện. Lúc này uống nhiều nước, uống trà có lợi cho tiểu tràng thải độc hạ hỏa. Nếu Tiểu tràng nóng quá hay hàn quá sẽ cảm thấy đầy hơi trong bụng, khó tiêu nếu để lâu sẽ gây nên bệnh Đại tràng.
Chủ trị: tai điếc, mắt vàng, cổ sung, họng đau, bụng dưới đau, vai và phía sau cánh tay đau.
Kinh gồm 19 huyệt, hai bên 38 huyệt, khi chữa bệnh chỉ cần dùng các huyệt: Thiếu trạch, Hậu khê, Dương lão, Tiểu hải, Thiên tông, Kiên trinh, Quyền liêu, Thính cung, Uyền cốt (huyệt nguyên), Chi chính (huyệt lạc)
7. Túc thái dương Bàng quang kinh
Giờ Thân (15-17 giờ): Thủy dịch sau khi được Đại tràng tế bí biệt trấp và Phế thông điều thủy đạo được đưa xuống Bàng quang để Thận khí hóa lấy phần khí thanh gọi là khí trong thủy (đây là thủy thời hóa khí mà Đường Tông Hải nhắc đến), phần còn lại là Thủy trọc. Nếu thận khí hóa Bàng quang tốt thì phần khí trong thủy được hấp thu nhiều thủy trọc ít nên nước tiểu bị cô đặc lại, vàng và ít. Ngược lại thì thủy dịch ứ lại nhiều gây tăng nước tiểu hoặc sẽ tràn ra ngoài bì phu gây phù thũng.
Quá trình truyền tống nước tiểu cần khí lực Bàng quang sung mãn và Thận chủ tiền âm hậu âm bình thường. Bàng quang bị nóng sẽ gây tiểu buốt, tiểu gắt, tiểu lắt nhắt. Nếu Thận không làm chủ đóng mở tiền âm thì đi tiểu không tự chủ.
Khí trong thủy theo kinh Túc thái dương Bàng quang lên Phế hợp với Tông khí hình thành nên Vệ khí đi bảo vệ cơ thể, do đó Phế chủ biểu, Thái dương kinh cũng chủ biểu, nên ngoại tà khi tấn công vào cơ thể trước hết phải qua được Thái dương kinh, đấu tranh với Vệ khí nơi bì mao tấu lý rồi mới vào đến các cơ quan tạng phủ
Trong chứng âm hư, do ban ngày vệ khí đi ở phần dương, giữ gìn đóng mở bì khống, đến đêm vệ khí nhập âm, nếu phần âm đầy đủ thì sẽ tiềm tang được vệ khí, khiến vệ khí yên tĩnh, nếu âm hư không đủ sức tiêm tang vệ khí, lúc đó vệ khí đi ra ngoài gây phát sốt, vệ khí thoát ra ngoài kéo theo tân dịch ra ngoài thành mồ hôi trộm. Gọi là “âm hư sinh đạo hãn”
Dưỡng Sinh: Giờ Thân nhiệt độ cơ thể nóng, do âm hư sinh nội nhiệt. Lúc này vận động sẽ hỗ trợ tuần hoàn nước trong cơ thể, uống nước trà “bổ âm hạ hỏa” hỗ trợ rất tốt cho người âm hư.
Chủ trị: Đau đầu, đau cột sống, đau lưng, đau chân, bắp chân co rút, sốt rét, ra gió chảy nước mắt, tiểu tiện không thông, đái dầm và bệnh trên đường kinh đi qua ở chi dưới.
Kinh gồm 67 huyệt, hai bên 134 huyệt, khi chữa bệnh dùng các huyệt: Tinh minh, Toản trúc, Đại chữ, Phong môn, Phế du, Quyết âm du, Tâm du, Đốc du, Cachs du, Can du, Đởm du, Tỳ du, Vị du, Tam tiêu du, Thận du, Khí hải, Đại trường du, Quan nguyên du, Tiểu trường du, Bàng quang du, Trật biên, Thừa phù, Ủy trung, Thừa sơn, Phi dương (huyệt lạc), Côn lôn, Kinh cốt (huyệt nguyên), Chí âm
8. Túc thiếu âm Thận kinh
Giờ Dậu (17-19 giờ): Thận tàng tinh gồm tinh Tiên thiên là tinh cha huyết mẹ truyền lại và tinh Hậu thiên do Thận khí hóa Bàng quang sinh ra. Thận chủ thủy giờ dậu nạp nguyên khí mạnh. Chức năng chính của khí trong thủy là hình thành tân dịch.
“Thận chứa tinh chất của sinh sản và tinh chất của lục phủ ngũ tạng. Thận là cái gốc tiên thiên”.
Thận chủ thủy duy trì và điều tiết thủy dịch trong cơ thể. Quá trình hấp thu và chuyển hóa tân dịch tại các tạng phủ như Tỳ vận hóa thủy thấp, Tiểu trường phân biệt thanh trọc, Đại trường tế bí biệt trấp, Phế thông điều thủy đạo đến trao đổi bài tiết ở các tạng phủ đều chịu sự chi phối từ tạng Thận. Thận khí hóa Bàng quang làm sản sinh và trao đổi tân dịch nhanh, ngược lại Thận chủ thủy sản sinh và phân bố tân dịch chậm lại, khi hai chức năng này cân bằng thì tân dịch được cân bằng
Dưỡng sinh: Qua giờ thân cơ thể hạ hỏa thải độc, đến giờ dậu thận tích chứa tinh hoa. Lúc này không hợp cho những hoạt động mạnh, cũng không hợp uống nước nhiều, nên giải trí cho não để tàng thần, vận động nhẹ hoặc nghỉ ngơi. Giờ này nếu xúc động mạnh làm Can uất điều tiết huyết không đều sẽ ảnh hưởng đến Thận, phụ nữ kinh nguyệt sẽ không đều, thống kinh, đàn ông sẽ mệt mỏi và sinh khí kém
Chủ trị: Đái dầm, đái són, di tinh, liệt dương, kinh nguyệt không đều, ho ra máu, hen, lưỡi khô, hầu họng sưng đau, đau lưng, phù thũng, xương sống và phía sau cạnh trong đùi đau, mệt mỏi không có sức, lòng bàn tay nóng.
Kinh gồm 27 huyệt, hai bên 54 huyệt, khi chữa bệnh dùng các huyệt: Dũng tuyền, Nhiên cốc, Thái khê (huyệt nguyên), Đại chung (huyệt lạc), Thủy tuyền, Phục lưu, Âm cốc.
9. Thủ quyết âm Tâm bào kinh
Giờ Tuất (19-21 giờ): Tâm bào là lớp màng bảo vệ tim, là đường thông khí huyết, có mạch máu để ngăn tà khí không cho vào làm tổn thương Tâm
Dưỡng sinh: Tâm bào kinh vượng vào giờ Tuất, giúp loại bỏ những nhân tố gây bệnh cho tâm để tâm đạt trạng thái tốt nhất. Lúc này cần giữ tâm trạng đặc biệt thoải mái, có thể đọc sách, nghe nhạc, đi spa, khiêu vũ… để thả lỏng tâm trạng, giải tỏa áp lực.
Chủ trị: Lòng bàn tay nóng, cẳng tay và khớp khuỷu co rút, hố nách sưng, sườn ngực đầy tức, Tâm đập mạnh, mặt đỏ.
Kinh gồm 9 huyệt, hai bên 18 huyệt, khi chữa bệnh dùng các huyệt: Trung xung, Lao cung, Đại lăng (huyệt nguyên), Nội quan (huyệt lạc), khúc trạch.
10. Thủ thiếu dương Tam tiêu kinh
Giờ Hợi (21-23 giờ): Tam tiêu là tạng phủ lớn nhất trong lục phủ ngũ tạng, được chia làm ba phần. Cơ hoành trở lên là Thượng tiêu bao gồm Tâm, Phế, đầu mặt, chủ sự thăng phát, tuyên phát vệ khí, phân bố thủy cốc tinh vi nuôi dưỡng cơ thể. Từ cơ hoành xuống rốn là trung tiêu bao gồm Tỳ, Vị, nhiệm vụ tiêu hóa, hấp thu đồng thời phân bố thủy cốc tinh vi và hóa sinh huyết dịch. Tù rốn trở vuống là hạ tiêu, công năng chủ yếu bài tiết chất cặn bã, nước tiêu chủ về khí và có công dụng thông nước.
Dưỡng sinh: Giờ hợi tam tiêu có thể thông bách mạch, vì thế ngủ vào giờ này là cách dưỡng sinh rất tốt, có lợi cho sức khỏe và giữ cho dung nhan trẻ mãi. Đặc điểm chung của người già là ngủ vào giờ Hợi. Người bận rộn không thể ngủ vào giờ này thì nên nghe nhạc, đọc sách, xem phim, luyện yoga. Tuy nhiên tốt nhất là không ngủ sau giờ này.
Chủ trị: Bụng chướng, ăn không tiêu, phù nề, đái dầm, tiểu tiện khó, đau đầu, ù tai, đau họng.
Kinh gồm 23 huyệt, hai bên 46 huyệt, khi chữa bệnh dùng các huyệt: Quan xung, Trung chử, Dương trì (huyệt nguyên), Chi câu, Ngoại quan (huyệt lạc), Kiên liêu, Ế phong
11. Túc thiếu dương Đởm kinh
Giờ Tý (23-1 giờ): Đởm cũng thuộc phủ kỳ hằng, tồn trữ dịch mật do Can hóa sinh và bài tiết dịch mật ra Tiểu trường để tiêu hóa thức ăn, là điều kiện trọng yếu để công năng vận hóa của Tỳ Vị hoạt động tốt.
Lý luận Trung y cho rằng: “Khí dư của Can tiết vào Đởm, tụ lại thành tinh (dịch mật)”.
Dưỡng sinh: Ngủ trước giờ Tý giúp mật trao đổi chất tốt, dịch mật sung túc thì não bộ tỉnh táo. Người ngủ trước giờ Tý sáng dậy đầu óc minh mẫn, khí sắc hồng hào, không bị thâm quầng mắt. Ngược lại, trong giờ Tý không ngủ thì khí sắc nhợt nhạt, thâm vành mắt. Ngoài ra vì dịch mật thải độc không tốt nên dễ kéo theo kết tinh, kết thạch (sỏi mật).
Chủ trị: Bụng chướng, phù nề, đái dầm, tiểu tiện khó, đau đầu, ù tai, đau họng, đau góc ngoài mắt, cạnh ngoài vai và cánh tay đau.
Kinh gồm 44 huyệt, hai bên 88 huyệt, khi chữa bệnh dùng các huyệt: Đồng tử liêu, Thính cung, Dương bạch, Phong trì, Kiên tĩnh, Nhật nguyệt, Kinh môn, Hoàn khiêu, Phong thị, Dương lăng tuyền, Ngoại khâu, Quang minh ( huyệt lạc), Huyên chung, Khâu khư ( huyệt nguyên), Túc lâm khấp, Túc khiếu âm.
12. Túc quyết âm Can kinh
Giờ Sửu (1-3 giờ): Can tàng huyết là lưu trữ và phân phối huyết đến nơi cơ thể cần, Ví dụ ban ngày mắt cần quan sát, tay chân cần hoạt động thì Can điều tiết huyết đến, hoặc sau khi ăn no thì Can sẽ cho dừng cung cấp huyết đến mắt và chân tay chuyển qua cung cấp cho Tỳ Vị nên lúc này mắt muốn ngủ chân tay không muốn hoạt động, nên có câu: “Căng da bụng chùng da mắt” hay “chưa ăn cha rìu con rạ, ăn rồi cha ngả con nghiêng” là vì vậy
Ban đêm nếu Can hưng phấn mà cung cấp nhiều huyết cho mắt và chân tay thì mắt không muốn ngủ, huyết không tang thì thần không tang nên khó ngủ. Can huyết kém thì Xung Nhâm thất dưỡng dẫn đến kinh nguyệt bị rối loạn, hoặc khó thụ thai ở nữ
Nếu giờ Sửu không ngủ thì can tiếp tục phải chuyển vận năng lượng kích thích tư duy và hành động, việc trao đổi chất bị ảnh hưởng. Vì thế trước giờ Sửu không đi vào giấc ngủ thì sắc mặt xanh xám, tâm trạng uể oải, dễ bị bệnh gan và mặt đốm rỗ. Khi Can bị bệnh lý thì không tiết mật cho Vị tiêu hóa được, thức ăn tích lại ở Vị gây vị khí nghịch dẫn đến đầy bụng, nôn óí vào giờ này.
Chứng hư: Khả năng miễn nhiễm của da suy giảm, trời lạnh tay chân dễ tê lạnh, cổ họng khô, ho khan…
Chứng thực: Hơi thở không thông, cổ họng khó chịu, tức ngực, thở khò khè, viêm amidan, ho, đau mỏi vai, dễ bị bệnh trĩ…
Dưỡng sinh: Lúc này cơ thể cần nhiều dưỡng khí, cần thở sâu, vì thế phải ngủ sâu. Lúc này không thể ngủ thì tốt nhất hãy uống ly nước ấm cho cơ thể dễ chịu và để phổi không bị khô.
Chủ trị: Đái dầm, tiểu tiện khó, đàn bà đau bụng dưới, đau lưng, ỉa chảy, sán khí, bệnh thần kinh. Kinh này trị bệnh ở âm vật, dương vật là chính, cũng trị các bệnh về mắt và sườn.
Kinh gồm 14 huyệt, hai bên 28 huyệt, khi chữa bệnh dùng các huyệt: Đại đôn, Hành gian, Thái xung (huyệt nguyên), Trung phong, Lãi câu (huyệt lạc), Trung đỗ, Khúc tuyền, Chương môn, Kỳ môn
Hiểu rõ giờ tuần hành của 12 đường kinh sẽ giúp cho việc chẩn bệnh và chữa trị được hiệu quả hơn, đoán được giờ nguy cấp của người bệnh.
Để dễ nhớ các giờ tuần hành, các bậc tiền bối đã lưu lại bài thơ và cách bấm trên bàn tay như sau:
"Phế dần, đại mão, vị thìn cung
Tỳ tị, tâm ngọ, tiểu mùi trung
Thân bàng, thận dậu, tâm bào tuất
Hợi tam, tý đởm, sửu can thông...!"
Sưu tầm.