Family & Child Psychology with Nguyen Minh Thanh

Family & Child Psychology with Nguyen Minh Thanh NCS Tiến sĩ Tâm lý học lâm sàng
Thạc sĩ Tâm lý học Phát triển
Chuyên gia Tâm lý học Gia đình & Trẻ em

VÌ SAO TRẺ CẦN ĐƯỢC TỰ DO VÀ TỰ DO KHÁC GÌ VỚI NUÔNG CHIỀU?“Chỉ cần nhìn thôi cũng thấy Matilda thực sự cảm thấy tự do”....
28/01/2026

VÌ SAO TRẺ CẦN ĐƯỢC TỰ DO VÀ TỰ DO KHÁC GÌ VỚI NUÔNG CHIỀU?

“Chỉ cần nhìn thôi cũng thấy Matilda thực sự cảm thấy tự do”. Đó là lời một bà cụ lớn tuổi mà chúng tôi gặp trên chuyến tàu ở Đức đã nói với chúng tôi. Với tôi, đó là một trong những lời khen lớn nhất mà chúng tôi có thể nhận được.

Tự do! Vậy tự do là gì?

Với tôi, cảm giác tự do là khi một người được kết nối sâu sắc với con người chân thật, nguyên bản của mình; cảm thấy thoải mái khi thể hiện bản thân; có thể cảm nhận và bộc lộ trọn vẹn cảm xúc; có một trái tim rộng mở để kết nối và giao tiếp với người khác từ trái tim; hiểu rõ ranh giới của mình và có thể đứng lên bảo vệ ranh giới đó; và có niềm tin sâu sắc vào chính mình cũng như vào thế giới.

Hôm đó, trên chuyến tàu, con gái chúng tôi là Matilda, lúc ấy khoảng 17 tháng tuổi, đã cảm thấy tự do. Con chạy lên chạy xuống lối đi giữa các toa, bộc lộ trọn vẹn niềm vui và sự phấn khích, chủ động lại gần mọi người, vẫy tay, nói “chào”, rồi treo người lên một thanh vịn ở giữa lối đi mà hành khách có thể bám vào. Con nắm tay tôi để cùng đi, rồi buông tay và tự chạy một mình. Khi tôi cố hướng con đi theo một hướng nào đó, con kiên quyết phản kháng và chạy theo hướng ngược lại. Có những người con tiến lại gần và tương tác ngay, có những người khác con chỉ đứng ở một khoảng cách rất gần, nhìn chăm chú để “đánh giá” xem con có cảm thấy tin tưởng họ hay không.

Một số người có thể cho rằng hành vi đó là bất lịch sự. Và có thể đã phán xét chúng tôi là những cha mẹ tồi vì cho phép điều đó xảy ra. Nhưng tôi (và cả bà cụ trên tàu) lại thấy điều đó thật đẹp. Con đang tự tin khám phá môi trường xung quanh; con dành thời gian để quan sát kỹ mọi người, tiếp nhận mọi thứ và lắng nghe trực giác của mình; con tìm đến chúng tôi khi cần được hỗ trợ (hoặc đơn giản là muốn chia sẻ niềm vui), và tự đi một mình khi cảm thấy đủ an toàn.

Trong xã hội của chúng ta, chúng ta thường nhầm lẫn giữa tự do và nuông chiều.

Chúng ta lo rằng nếu không liên tục chỉ dẫn con, không bảo con ngồi yên trên tàu, không ngăn con chạy lung tung, không bảo con đừng nhìn người khác quá lâu, không đảm bảo rằng con luôn làm theo lời mình - dù yêu cầu đó có thực sự quan trọng hay không - thì con sẽ trở thành những đứa trẻ hư, được chiều quá mức và rồi sẽ thất bại trong cuộc sống. Và chúng ta cũng lo rằng người khác sẽ đánh giá mình là những cha mẹ nuông chiều, không biết khẳng định bản thân.

Vậy cha mẹ nuông chiều là ai? Cha mẹ nuông chiều thường ấm áp và yêu thương con, nhưng lại để con muốn làm gì thì làm, mà không đặt ra bất kỳ ranh giới nào. Nếu con đánh bạn, họ không can thiệp. Nếu con muốn thức trắng đêm xem TV, họ cho phép. Nếu con chỉ muốn ăn kem cho bữa tối, họ nhượng bộ.

Đó là những “dấu hiệu nhận diện” của cha mẹ nuông chiều. Ở dạng cực đoan nhất, cha mẹ nuông chiều sẽ tránh làm bất cứ điều gì có thể khiến con buồn hay khó chịu.

Không có cha mẹ nào muốn bị gắn mác là cha mẹ nuông chiều. May mắn thay, điều đó hoàn toàn khác với việc cho con được tự do. Cho con tự do không có nghĩa là không đặt giới hạn.

Cha mẹ tôn trọng tự do của con vẫn can thiệp khi cần thiết: khi tình huống nguy hiểm, khi họ biết một hành vi sẽ gây hại cho con về lâu dài (như ăn quá nhiều đường hay không chịu đánh răng), hoặc khi điều đó quan trọng đối với chính sự an lành của cha mẹ (ví dụ như cần đi đúng giờ cho một cuộc hẹn).

Họ chỉ can thiệp khi thật sự cần, chứ không phải vì nỗi sợ bị người khác phán xét, hay vì những khuôn mẫu “mọi thứ phải làm như vậy” vốn chỉ để xoa dịu sự lo âu của chính họ, hoặc đơn giản là vì “xưa nay vẫn thế”.

Khi cần đặt giới hạn, cha mẹ tôn trọng tự do của con sẽ làm điều đó một cách quan tâm và đầy trắc ẩn, đồng thời cho con không gian để trải qua những cảm xúc phát sinh. Họ cho phép con được cảm nhận và bộc lộ cảm xúc theo cách của con.

Họ cũng sẵn sàng thay đổi quyết định nếu nhận ra rằng giới hạn mình định đặt ra có nhiều “cái giá” hơn so với những gì họ nghĩ ban đầu.

Ví dụ, nếu họ muốn rời sân chơi để về nhà nhưng thực ra không có lý do gì thực sự cấp bách, và con phản đối, muốn ở lại chơi thêm, họ có thể thay đổi ý định và ở lại. Họ không đổi ý vì sợ con buồn hay ăn vạ, mà vì họ nhận ra rằng việc con được chơi thêm lúc đó quan trọng hơn mong muốn rời đi của họ.

Để có thể cho con được tự do, chúng ta cần tin vào bản chất con người, tin vào bản chất của trẻ.
- Tin rằng trẻ sinh ra vốn là tốt.
- Tin rằng trẻ xứng đáng được tôn trọng như người lớn.
- Tin rằng trẻ sinh ra đã có sở thích, ý tưởng và cá tính riêng, và trẻ có quyền được sống với những điều đó, ngay cả khi chúng khác với chúng ta.
- Tin rằng những hành vi bị xem là “xấu” ở một thời điểm nào đó (như đánh bạn hay la hét) là một phần bình thường của quá trình phát triển, chứ không phải là thước đo con sẽ trở thành người như thế nào khi trưởng thành.
- Tin rằng khi chúng ta đối xử với trẻ bằng sự tôn trọng, yêu thương và trắc ẩn, trẻ sẽ học cách làm điều tương tự với chính mình, với chúng ta và với người khác.

Vì sao cách nuôi dạy này lại mang lại sự lợi lạc cho trẻ?

Không ai thích bị kiểm soát. Tất cả các loài động vật, khi không có quyền kiểm soát cuộc sống của mình, đều phải chịu khổ. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh điều đó. Con người cũng vậy.

Những người sống trong viện dưỡng lão sẽ khỏe mạnh lâu hơn khi họ được trao quyền kiểm soát môi trường sống của mình, ví dụ như được chịu trách nhiệm tưới cây trong phòng. Điều này cũng đúng với trẻ em, thậm chí là với cả em bé. Nhu cầu được kiểm soát cuộc sống của chính mình, được tự do và tự quyết, là một phần của bản chất tiến hóa của chúng ta.

Chúng ta tiến hóa để có động lực kiểm soát cuộc sống, bởi việc tự quyết định và làm chủ hành động là yếu tố thiết yếu để trở thành một thành viên thành công của loài người.

Nhu cầu kiểm soát này cổ xưa đến mức gần như đồng nghĩa với sự sống. Một sinh vật sống là một sinh vật có khả năng tự kiểm soát. Và dù trẻ, đặc biệt là em bé, phụ thuộc rất nhiều vào người lớn trong đời sống hằng ngày, có nhu cầu gắn bó, được an toàn và được an ủi, thì đồng thời, trẻ cũng có khao khát mạnh mẽ được tự làm những việc mình có thể và được kiểm soát.

Có những người lớn vừa mang lại cho trẻ sự an toàn khi cần, vừa cho trẻ sự tự do mà trẻ mong muốn - chính điều đó giúp trẻ lớn lên thành những người trưởng thành có năng lực và tự tin.

Khi chúng ta hạn chế tự do của con, chúng ta không chỉ làm suy yếu sự phát triển năng lực của con, mà còn làm tổn hại đến sự tự tin của con. Chúng ta cắt đứt sự kết nối của con với con người chân thật bên trong; ngăn con lắng nghe và tin vào trực giác; khiến con khó cảm thấy gắn kết và tin tưởng vào chính mình, vào người khác và vào thế giới. Đồng thời, chúng ta khiến con học cách phớt lờ ranh giới của bản thân và làm giảm cảm giác làm chủ đối với cuộc sống và cơ thể mình.

Vì vậy, cho con được tự do, được cảm thấy tự do, không chỉ là một ý tưởng đẹp. Đó là điều thiết yếu để con trở thành một người trưởng thành có năng lực.

Và để con có được sự an lành. Và tôi tin rằng điều đó cũng tốt cho chính chúng ta. Nó giúp chúng ta kết nối sâu sắc hơn với con. Nó khiến công việc làm cha mẹ nhẹ nhàng hơn, vì chúng ta có thể để con “được là chính mình” nhiều hơn, thay vì luôn cố kiểm soát mọi tình huống. Nó giúp chúng ta soi chiếu lại cảm nhận tự do của chính mình, và nhận ra liệu chúng ta có đang dựng lên những bức tường từ thời thơ ấu hay không. Nó giúp chúng ta hiện diện trọn vẹn hơn với con và cảm thấy nhiều niềm vui hơn.

Và điều đó giúp chính chúng ta cũng cảm thấy tự do hơn.

📚 Nguồn bài viết: growingupconnected
📝 Dịch và tổng hợp: Family & Child Psychology with Nguyen Minh Thanh
------------------
Nguyễn Minh Thành
Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tâm lý học (Bỉ)
Thạc sĩ Khoa học (MS) Tâm lý học Phát triển và Giáo dục (Trung Quốc)
Chuyên gia Tâm lý học Gia đình và Trẻ em

HỆ QUẢ CỦA VIỆC BẢO BỌC CON QUÁ MỨCCó một nghịch lý ở đây: mong muốn bảo vệ con của cha mẹ đôi khi lại có thể làm tổn hạ...
27/01/2026

HỆ QUẢ CỦA VIỆC BẢO BỌC CON QUÁ MỨC

Có một nghịch lý ở đây: mong muốn bảo vệ con của cha mẹ đôi khi lại có thể làm tổn hại đến sức khỏe tâm lý của con trong tương lai. Việc hỗ trợ con là điều cần thiết để con phát triển, nhưng quá nhiều hỗ trợ có thể khiến con chậm "lớn".

Trong sự cân bằng mong manh của quá trình phát triển, nuôi dạy con theo hướng bảo bọc quá mức có thể dẫn đến những hệ quả ngoài ý muốn. Nhiều cha mẹ bảo bọc con với thiện ý nhưng lại khiến con dễ lo âu, lệ thuộc và có lòng tự trọng thấp. Những kiểu nuôi dạy như “cha mẹ trực thăng” (luôn theo sát, can thiệp mọi lúc) có thể kìm hãm khả năng đối diện với thử thách của con, ảnh hưởng đến kỹ năng xã hội và việc hình thành các mối quan hệ bạn bè. Khi cha mẹ quá chú trọng đến an toàn, họ có thể vô tình hạn chế sự trưởng thành của con, khiến con khi lớn lên gặp khó khăn trong việc ra quyết định.

Vì vậy, điều quan trọng là cần nhìn từ góc độ của con và xem xét tác động của hành vi bảo bọc (được đo lường qua thang đánh giá mức độ bảo bọc của cha mẹ) để đảm bảo con phát triển một cách lành mạnh.

CON CÓ THỂ HÌNH THÀNH SỰ LỆ THUỘC

Một hệ quả đáng kể của việc cha mẹ bảo bọc quá mức là con dễ hình thành sự lệ thuộc. Sự lệ thuộc này thể hiện khi con thường xuyên dựa vào người khác để đưa ra quyết định cho chính mình.

- Con cần người khác quyết định các hoạt động ngoại khóa.
- Việc sang nhà bạn chơi trở nên khó khăn nếu không có chỉ dẫn.
- Các mối quan hệ tình cảm có thể bị cản trở do thiếu tính độc lập.
- Một môi trường quá “an toàn” không cho con trải nghiệm những hệ quả tự nhiên.
- Khả năng ra quyết định phù hợp với độ tuổi bị kìm hãm bởi ý định tốt của cha mẹ muốn tránh mọi rủi ro cho con.

Nghiên cứu cho thấy con cần có cơ hội học hỏi từ chính trải nghiệm của mình trong suốt tuổi thơ. Qua đó, con xây dựng sự tự tin và tính độc lập, chuẩn bị cho những thách thức của tuổi trưởng thành.

CON CÓ THỂ PHÁT TRIỂN RỐI LOẠN LO ÂU

Việc con dựa vào cha mẹ để được bảo vệ là điều thường thấy. Hầu hết cha mẹ đều có bản năng mạnh mẽ muốn che chở con khỏi tổn thương. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cha mẹ lại vô tình gây hại cho con khi cố gắng bảo vệ con. Một trong những hệ quả có thể xảy ra của việc bảo bọc quá mức là gia tăng nguy cơ lo âu. Cha mẹ quá bảo vệ có thể gieo vào con nỗi sợ hãi về thế giới xung quanh. Ví dụ, cha mẹ có thể ngăn con thử một môn thể thao mới vì lo con bị thương. Sự lo âu xuất hiện khi con đối diện với điều mới mẻ và sợ những kết quả tiêu cực.

Con lớn lên trong sự bảo bọc quá mức cũng có thể lo sợ bị từ chối, dẫn đến thiếu các kỹ năng xã hội cần thiết để kết bạn. Những con này khi trưởng thành có thể mang theo nỗi lo âu khi giao tiếp và khi thử điều mới. Cha mẹ hãy để ý cách mình phản ứng khi con muốn làm điều mới; hãy khuyến khích con cảm thấy an tâm khi thử sức.

CON CÓ THỂ CÓ LÒNG TỰ TRỌNG THẤP

Cha mẹ bảo bọc quá mức đôi khi trông như đang nuôi dạy những con rất tự tin vì họ dành nhiều sự chú ý cho con. Tuy nhiên, sự chú ý ấy lại có thể ngăn con tự phát triển. Mỗi lần cha mẹ can thiệp quá sâu vào cuộc sống của con, con mất đi cơ hội tự mình đạt được thành tựu. Trên thực tế, con thường sẽ gặp khó khăn ở một số giai đoạn phát triển, rồi tiến bộ và vượt qua. Việc vượt qua thử thách giúp con tin vào bản thân. Con được bảo bọc quá mức có thể không có cơ hội xây dựng sự tự tin đó. Dù xuất phát từ ý tốt, cha mẹ bảo bọc thường vô tình gạt đi cảm xúc của con. Khi bỏ qua ý kiến của con để “quyết thay cho tốt nhất”, cha mẹ khiến con nghi ngờ chính tiếng nói của mình.

Điều này có thể làm lòng tự trọng của con suy giảm. Một hệ quả dài hạn của việc bảo bọc quá mức là con có thể né tránh mục tiêu, cơ hội và thử thách. Để con phát triển sự tự tin và lòng tự trọng, hãy cho con cơ hội tự giải quyết vấn đề. Cha mẹ có thể hỗ trợ ở mức tối thiểu, kèm theo sự khích lệ và lời khen khi con vượt qua thử thách.

CON SẼ CÓ “KHẨU VỊ RỦI RO” CỰC KỲ THẤP

Mục tiêu của cha mẹ bảo bọc là loại bỏ mọi trở ngại khỏi cuộc sống của con. Điều này vô tình tước đi những bài học quý giá mà con có được từ việc đưa ra quyết định, mắc lỗi, thất bại và học hỏi. Một bài học quan trọng con có thể bỏ lỡ là học cách chấp nhận rủi ro. Con được bảo bọc quá mức thường rơi vào hai thái cực: hoặc né tránh rủi ro, hoặc sa đà vào rủi ro. Khi còn nhỏ, con không được trải nghiệm giá trị của việc chấp nhận rủi ro phù hợp. Một hệ quả có thể là con gặp khó khăn với rủi ro khi lớn lên. Con né rủi ro có thể tránh xa những điều chưa rõ tiềm năng. Ngược lại, một số con có thể phản kháng bằng cách chấp nhận rủi ro quá mức.

Khi không có cha mẹ bên cạnh, con có thể đẩy ranh giới rủi ro đến mức nguy hiểm. Kỹ năng chấp nhận rủi ro có liên quan đến tinh thần khởi nghiệp. Thiếu kỹ năng này khiến con bất lợi so với những con khác đã quen với việc thử – sai. Hệ quả dài hạn có thể là cả đời bỏ lỡ cơ hội, hoặc ngược lại là chấp nhận những rủi ro nguy hiểm.

CON CÓ NGUY CƠ BỊ BẮT NẠT CAO HƠN

Việc bị bắt nạt không bao giờ là lỗi của nạn nhân mà là lỗi của kẻ bắt nạt. Tuy nhiên, một hệ quả của việc bảo bọc quá mức là con có nguy cơ trở thành mục tiêu bị bắt nạt cao hơn. Kẻ bắt nạt thường lựa chọn mục tiêu rất kỹ. Con được bảo bọc quá mức có thể gặp khó khăn trong quan hệ xã hội, thiếu tự tin và dễ bị nhắm tới. Con cũng ít khi phản kháng hay đối mặt với kẻ bắt nạt. Khi rời xa sự che chở của cha mẹ, con có thể lúng túng trong việc tự xoay xở cuộc sống. Cha mẹ có thể can thiệp khi con bị bắt nạt ở trường, nhưng sẽ có nhiều tình huống khác khiến con bị áp đảo. Vấn đề là khi con trưởng thành, vẫn sẽ có người gây khó dễ, và lúc đó có thể không còn ai đứng ra can thiệp cho con. Vì vậy, điều quan trọng là cha mẹ cần khuyến khích và nâng đỡ con đúng cách.

VÌ SAO CẦN NHÌN NHẬN NGHIÊM TÚC TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC CHA MẸ BẢO BỌC QUÁ MỨC?

Nuôi dạy con theo hướng bảo bọc quá mức có thể ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển tâm lý và xã hội của con. Kiểu nuôi dạy này, thường gắn với hình ảnh “cha mẹ trực thăng”, có thể dẫn đến nhiều kết quả tiêu cực. Con lớn lên trong môi trường như vậy dễ lệ thuộc, khó ra quyết định và khó thích nghi với cuộc sống ngoài “vùng an toàn”.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kiểu nuôi dạy này có thể làm tăng nguy cơ các rối loạn lo âu, bao gồm lo âu xã hội và hoảng sợ, khi con liên tục bị bao phủ bởi nỗi sợ và lo lắng của cha mẹ.

- Việc bảo bọc quá mức hạn chế trải nghiệm chấp nhận rủi ro – yếu tố thiết yếu cho sự phát triển.
- Con từ gia đình quá bảo vệ thường hình thành cảm xúc tiêu cực và trở nên nhạy cảm quá mức trước thực tế khắc nghiệt của thế giới.
- Con có thể sợ bị bỏ rơi, dẫn đến ám ảnh xã hội và các rối loạn cảm xúc khi bước vào tuổi trưởng thành.
- Sự bảo bọc cản trở khả năng tự giải quyết vấn đề, khiến con cảm thấy bất lực trước thử thách.
- Kiểu nuôi dạy này có thể tạo ra một người trưởng thành gặp nhiều khó khăn khi gánh vác trách nhiệm của người lớn.

Việc nhìn nhận và điều chỉnh tác động của sự bảo bọc quá mức là rất cần thiết để con có đủ kỹ năng và sức bền tâm lý, có thể tự lập và vững vàng trong cuộc sống. Cha mẹ hãy cân bằng giữa bản năng bảo vệ và nhu cầu được độc lập, tự lực của con. Sự lo âu của cha mẹ trong tương tác với con đôi khi có thể tạo ra vấn đề và, trong một số trường hợp, gây hại nhiều hơn là giúp đỡ.

Dù xuất phát từ những ý định tốt đẹp, hành động của cha mẹ vẫn có thể gây ra hệ quả tiêu cực cho sức khỏe tâm thần của con. Hãy nâng đỡ con nhưng cũng cho con không gian. Cần lưu ý những hệ quả của việc bảo bọc quá mức: con dễ lệ thuộc, lo âu, thiếu tự tin và lòng tự trọng, gặp vấn đề với việc chấp nhận rủi ro, và có nguy cơ bị bắt nạt cao hơn.

📚 Nguồn bài viết: overcomewithus
📝 Dịch và tổng hợp: Chat GPT & Family & Child Psychology with Nguyen Minh Thanh
------------------
Nguyễn Minh Thành
Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tâm lý học (Bỉ)
Thạc sĩ Khoa học (MS) Tâm lý học Phát triển và Giáo dục (Trung Quốc)
Chuyên gia Tâm lý học Gia đình và Trẻ em

25/01/2026

5 YẾU TỐ QUAN TRỌNG ĐỂ CHA MẸ ÁP DỤNG KỶ LUẬT HIỆU QUẢ

Khi nhắc đến kỷ luật, nhiều cha mẹ thường nghĩ đến hậu quả hoặc hình phạt. Tuy nhiên, kỷ luật hiệu quả không chỉ dừng lại ở việc áp dụng hình phạt hay tước đoạt đặc quyền. Nếu chỉ tập trung vào những hậu quả tiêu cực, cha mẹ có thể vô tình làm giảm ý nghĩa giáo dục của kỷ luật. Kỷ luật lành mạnh nên bao gồm 5 yếu tố quan trọng sau đây:

1. XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ LÀNH MẠNH VỚI CON

Nếu thiếu đi sự kết nối gần gũi và yêu thương, kỷ luật sẽ khó đạt được hiệu quả. Con cái sẽ có xu hướng lắng nghe và tôn trọng lời dạy bảo hơn khi chúng cảm nhận được rằng cha mẹ thực sự yêu thương và thấu hiểu mình. Một mối quan hệ bền chặt không chỉ giúp bạn dễ dàng hơn trong việc giáo dục con, mà còn là nền tảng để con học cách tin tưởng và sửa đổi hành vi.

2. SỬ DỤNG KỶ LUẬT NHƯ MỘT CÔNG CỤ DẠY DỖ

Kỷ luật không chỉ là việc ngăn chặn những hành vi sai trái, mà còn là cơ hội để trẻ học hỏi. Nếu chỉ tập trung nói: “Đừng làm thế!” hoặc “Con sai rồi!” mà không hướng dẫn trẻ cách làm đúng, trẻ sẽ không thể cải thiện hành vi.

Thay vào đó, hãy coi kỷ luật như một bài học. Ví dụ, thay vì trách mắng khi con đánh em, bạn có thể giúp con hiểu cách xử lý mâu thuẫn một cách ôn hòa. Dạy trẻ biết cách diễn đạt cảm xúc, yêu cầu sự giúp đỡ hoặc nhường nhịn khi cần thiết. Điều này không chỉ giúp con sửa lỗi mà còn phát triển các kỹ năng xã hội quan trọng.

3. GIỮ TÍNH NHẤT QUÁN TRONG KỶ LUẬT
Kỷ luật sẽ không hiệu quả nếu thiếu sự nhất quán. Nếu hôm nay cha mẹ nhắc nhở nhẹ nhàng, nhưng ngày mai lại la mắng gay gắt cho cùng một lỗi, trẻ sẽ cảm thấy bối rối và khó hiểu quy tắc.

Hãy kết hợp việc áp dụng hậu quả với việc dạy con những kỹ năng thay thế. Ví dụ, nếu con không kiểm soát được cảm xúc, hãy dạy con cách hít thở sâu, tạm ngừng hành động hoặc nói ra suy nghĩ thay vì bộc phát. Cha mẹ có thể biến những khoảnh khắc hằng ngày như nấu ăn, đọc sách hay chơi đùa thành cơ hội để thực hành kỹ năng này.

4. ĐƯA RA HẬU QUẢ TỰ NHIÊN HỢP LÝ

Hậu quả càng gần với hành vi, trẻ càng dễ nhận ra mối liên kết giữa hai điều này. Nếu con nói dối nhưng một tuần sau mới bị tước quyền sử dụng điện thoại, trẻ sẽ khó học được bài học cần thiết.

Dẫu vậy, không phải lúc nào cha mẹ cũng có thể áp dụng hậu quả ngay lập tức. Trong những trường hợp này, hãy cố gắng giải thích ngắn gọn cho con hiểu rằng hậu quả sẽ được thực hiện ngay khi có thể. Tránh trì hoãn quá lâu hoặc để tình trạng “đe dọa” như: “Đợi bố về xử con!”. Điều này có thể khiến trẻ cảm thấy lo sợ thay vì nhận thức được ý nghĩa của kỷ luật.

5. ĐẢM BẢO HẬU QUẢ CÔNG BẰNG

Hậu quả quá nghiêm khắc so với mức độ lỗi lầm có thể khiến con cảm thấy bất mãn và phản kháng. Ví dụ, nếu con quên làm bài tập một lần mà bị cấm xem TV cả tháng, trẻ có thể lén lút vi phạm vì cho rằng hình phạt không công bằng.

Một hậu quả hợp lý sẽ giúp trẻ nhận ra lỗi sai và sẵn sàng thay đổi hành vi. Hãy đảm bảo rằng hình phạt đủ để trẻ nhận ra bài học, nhưng không khiến trẻ cảm thấy bị đối xử bất công. Điều này không có nghĩa là cha mẹ phải luôn nhượng bộ, mà là cần đặt ra hậu quả sao cho trẻ vừa nể phục vừa sẵn sàng thực hiện.

Kỷ luật không chỉ là cách “chỉnh sửa” con khi phạm lỗi, mà còn là một nghệ thuật giáo dục. Hãy kết hợp tình yêu thương, sự kiên nhẫn và kỹ năng giảng dạy để mỗi lần kỷ luật trở thành cơ hội giúp con trưởng thành hơn.

📚 Nguồn bài viết: Verywellfamily
📝 Dịch và tổng hợp: Family & Child Psychology with Nguyen Minh Thanh
------------------
Nguyễn Minh Thành
Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tâm lý học (Bỉ)
Thạc sĩ Khoa học (MS) Tâm lý học Phát triển và Giáo dục (Trung Quốc)
Chuyên gia Tâm lý học Gia đình và Trẻ em

Bạn có thường gặp khó khăn trong việc giữ bình tĩnh và tự trách bản thân vì không kiểm soát được cảm xúc với con? Bạn so...
20/01/2026

Bạn có thường gặp khó khăn trong việc giữ bình tĩnh và tự trách bản thân vì không kiểm soát được cảm xúc với con? Bạn so sánh mình với những phụ huynh khác và tự hỏi làm thế nào họ có thể "giữ được mọi thứ trong tầm kiểm soát"? Nếu mỗi ngày bạn tự hứa rằng hôm nay sẽ không nổi nóng, nhưng cuối cùng vẫn “nổi cơn tam bành” khi con làm bạn mất kiên nhẫn, thì hãy yên tâm rằng bạn không cô đơn vì 99% phụ huynh mà tôi làm việc cùng cũng đối mặt với những thử thách này và thường tự chỉ trích bản thân khi rơi vào trạng thái mất kiểm soát.

Nhiều phụ huynh thậm chí không biết cảm giác "điềm tĩnh" là như thế nào. Thay vì cố gắng đạt được sự bình tĩnh, tôi khuyến khích bạn hãy tập trung vào việc xây dựng sự kết nối - với bản thân và với con cái.

Khi mức độ căng thẳng quá cao, việc giữ bình tĩnh là điều gần như không thể. Không ai có thể hoàn toàn bình tĩnh khi đối mặt với những cơn giận dữ, la hét hoặc hành vi gây hấn của con. Khi con cái cảm thấy mất kiểm soát, điều này thường khiến cha mẹ cũng rơi vào trạng thái tương tự, bởi hệ thần kinh của chúng ta có xu hướng đồng điệu với nhau.

Khi một đứa trẻ mất kết nối với chính mình, chúng cũng mất đi sự bình tĩnh. Thay vì hỏi, “Làm thế nào để con tôi bình tĩnh lại?”, hãy thử hỏi, “Làm thế nào để tôi giúp con kết nối lại với chính mình?”. Và để làm được điều đó, trước tiên, cha mẹ cần kết nối với chính bản thân mình.

Trong những khoảnh khắc căng thẳng, cả cha mẹ và con cái đều có thể mất đi sự kết nối, dẫn đến việc khó kiểm soát cảm xúc và hành động. Điều này thường khiến chúng ta cư xử theo cách mà sau này cảm thấy hối hận, do tác động của trạng thái ngập tràn cảm xúc.

Hãy thay đổi mục tiêu của bạn: từ "làm thế nào để luôn bình tĩnh" sang "làm thế nào để kết nối với chính mình", thì đây là cách thực hiện:

1. Nhận biết (Awareness): Hãy nhận diện các phản ứng như chiến đấu, trốn chạy hoặc đóng băng (fight/flight/freeze) trong cơ thể.

2. Thừa nhận (Acknowledge): Hãy nói với chính mình: “Mình đang mất kiểm soát lúc này. Điều này thật khó khăn và gây căng thẳng”.

3. Tự trắc ẩn (Self-Compassion): Nhắc nhở bản thân: “Làm cha mẹ là hành trình không dễ dàng. Mình đang phải xoay sở với rất nhiều trách nhiệm, nhiều vai trò và việc cảm thấy quá tải là điều tự nhiên”.

4. Kết nối với cơ thể (Connect to Your Body): Hãy thử các bài tập thở, uống nước, tập yoga, hát, nhảy múa, hoặc vận động cơ thể.

Bốn bước này sẽ giúp bạn tái kết nối với bản thân trong những khoảnh khắc mất kiểm soát. Quá trình này cần thời gian, sự kiên nhẫn, và thực hành.

Hãy nhớ rằng, mục tiêu không phải là trở thành cha mẹ luôn điềm tĩnh mà là trở thành cha mẹ biết cách kết nối. Bạn hoàn toàn có thể trải qua trạng thái mất kiểm soát một cách lành mạnh, và qua thời gian, bạn sẽ dần trở nên vững vàng hơn để hỗ trợ con cái khi chúng đối diện với những "cơn bão cảm xúc" của mình.

📚 Nguồn tham khảo: happymeparenting
📝 Dịch và tổng hợp: Family & Child Psychology with Nguyen Minh Thanh
-----------------
Nguyễn Minh Thành
Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tâm lý học (Bỉ)
Thạc sĩ Khoa học (MS) Tâm lý học Phát triển và Giáo dục (Trung Quốc)
Chuyên gia Tâm lý học Gia đình và Trẻ em

17/01/2026

LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIÁO VIÊN HIỂU VÀ PHẢN ỨNG HIỆU QUẢ VỚI HÀNH VI CHƯA PHÙ HỢP CỦA HỌC SINH?

Những vấn đề tâm lý khiến các em khó kiểm soát cảm xúc và tập trung học tập. Nhiều em thiếu những kỹ năng cơ bản để điều chỉnh hành vi, thậm chí không thể nhận thức rõ hành động của mình. Các em có thể cư xử cứng nhắc và dễ bùng nổ không rõ lý do, làm gián đoạn lớp học hằng ngày. Có em thì thu mình, có em lại quấn quýt quá mức, buồn ngủ hoặc cáu kỉnh. Một số thường xuyên chống đối, tranh cãi không ngừng. Những học sinh này khiến ban giám hiệu lo lắng mỗi đêm và là nỗi e ngại của nhiều giáo viên. Nhiều câu chuyện của các em thực sự khiến người ta đau lòng.

Trong khi đó, giáo viên ngày nay phải chịu áp lực nặng nề khi được yêu cầu phải chứng minh tiến bộ cho từng học sinh mỗi năm. Nhưng họ cũng rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, chỉ một học sinh gây rối cũng có thể làm trật đường ray cả tiết học. Nhiều khảo sát cho thấy: vấn đề số một của giáo viên là đối phó với học sinh cư xử không phù hợp.

Kinh nghiệm làm việc trong trường học đã dạy chúng tôi rằng: để thực sự hiệu quả và giúp học sinh phát triển, giáo viên cần một cách tiếp cận mới nhằm hiểu rõ động cơ hành vi của học sinh, đồng thời cần có nhiều chiến lược khác nhau để can thiệp hiệu quả trước khi hành vi tiêu cực trở nên cố định.

NHỮNG KHÁI NIỆM QUAN TRỌNG GIÚP GIÁO VIÊN VIÊN HIỂU VÀ PHẢN ỨNG HIỆU QUẢ VỚI HÀNH VI CHƯA PHÙ HỢP CỦA HỌC SINH

1. Hành vi chưa phù hợp là một triệu chứng
Một học sinh sẽ hành xử đúng nếu em có thể. Nếu em thể hiện những hành vi tiêu cực hoặc không thích nghi, điều đó phản ánh một kỹ năng chưa phát triển. Khi học sinh bùng nổ cảm xúc hoặc gây rối, nghĩa là em đang bế tắc và không thể đối mặt với tình huống. Có em phản ứng quá mức với căng thẳng và có hệ thần kinh “chiến hay chạy” hoạt động mạnh. Có em lại thiếu các kỹ năng xã hội cơ bản, sự linh hoạt để làm theo yêu cầu (“dọn dẹp sau khi ăn nhẹ”), hoặc khả năng tự điều chỉnh để đối diện với một nhiệm vụ gây lo lắng.

2. Hành vi là một hình thức giao tiếp
Dù hành vi có vẻ lạ lùng hay gây rối, thì hành động của học sinh luôn có mục đích - đó là cách em cố gắng giải quyết vấn đề. Điều quan trọng là giáo viên cần biết lùi lại và cố gắng hiểu học sinh đang muốn nói gì qua hành vi ấy, và mục đích thật sự của hành vi là gì.

Với sự luyện tập, giáo viên có thể học cách “lắng nghe” thông điệp đằng sau hành vi, giải mã hành vi và đáp lại theo cách hiệu quả hơn.

3. Hành vi luôn có chức năng
Hành vi không bao giờ ngẫu nhiên hay vô nghĩa. Không ai cứ lặp đi lặp lại một hành vi nếu điều đó không mang lại điều gì đó cho họ. Thông thường, chính phản ứng của người xung quanh là yếu tố nuôi dưỡng hành vi không phù hợp.

Ví dụ: mè nheo có thể giúp học sinh thu hút sự chú ý của giáo viên - cũng như chửi thề. Nếu một em thường xuyên nổi cơn thịnh nộ và được rời khỏi lớp, em sẽ học được rằng giận dữ là cách để trốn tránh. Giáo viên cần xác định học sinh nhận được gì từ hành vi sai, để có phản ứng khác nhằm không vô tình củng cố hành vi đó.

4. Hành vi diễn ra theo mô hình
Khi giáo viên cảm thấy “đã thử mọi cách” mà học sinh vẫn tiếp tục cư xử không đúng, bước tiếp theo là phân tích một cách có hệ thống. Chìa khóa để giải mã hành vi là tìm ra mẫu hình (pattern) của nó.

Hành vi có thể liên quan đến thời điểm (em ấy hay ngáp trước giờ ăn nhẹ), hoạt động (em ấy luôn xin ra phòng y tế khi bắt đầu học toán), con người (em ấy tham gia tích cực hơn khi cô A có mặt), và nhiều yếu tố khác. Khi tìm ra mẫu hình, mục đích hành vi thường sẽ tự lộ diện: “À, em ấy luôn im lặng mỗi khi có người lớn lạ vào lớp.”

Mỗi hành vi cũng có hai đầu mút:
- Tiền đề (antecedents): yếu tố môi trường xảy ra trước hành vi.
- Hệ quả: phản ứng của giáo viên và bạn bè sau hành vi.
Giáo viên cần chú ý đến hai yếu tố này, bởi chính chúng duy trì hành vi và khiến nó kéo dài.

5. Hành vi có thể thay đổi
Nhiều người nghĩ rằng “kế hoạch hành vi” là công cụ giúp học sinh thay đổi. Nhưng thực chất, một kế hoạch hành vi hiệu quả là công cụ giúp giáo viên thay đổi cách tiếp cận, tương tác với học sinh gây khó khăn một cách chủ động và tích cực hơn.

Với một số học sinh, nếu việc can thiệp đúng trọng tâm và được hỗ trợ rèn luyện kỹ năng còn yếu, kết quả có thể đến rất nhanh. Ngược lại, nếu hành vi sai đã kéo dài nhiều năm, và học sinh thiếu kỹ năng cần thiết, quá trình thay đổi sẽ chậm hơn.

Chúng tôi từng chứng kiến những học sinh thay đổi chỉ sau 3 tuần, trong khi có em phải mất 3 năm để hành vi tiêu cực giảm dần. Càng được dạy kỹ năng phù hợp và môi trường càng được điều chỉnh tích cực, hành vi học sinh càng thay đổi nhanh hơn.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÓ THỂ THAY ĐỔI BỀN VỮNG?

Dựa trên sự hiểu biết về nguyên nhân của hành vi, chúng tôi đã phát triển khuôn mẫu can thiệp hành vi gọi là FAIR Plan. FAIR là viết tắt của:
- Functional hypothesis (giả thuyết chức năng hành vi)
- Accommodations (điều chỉnh phù hợp)
- Interaction strategies (chiến lược tương tác)
- Response strategies (chiến lược phản hồi)

Mục tiêu của FAIR Plan là giúp chuyển hóa hành vi không phù hợp thành hành vi phù hợp về lâu dài, thay vì chỉ “quản lý” hành vi trong ngắn hạn. Để đạt được điều này, giáo viên cần thực hiện 5 bước cơ bản dựa trên các nguyên lý cốt lõi đã nêu.

Ví dụ: nếu hiểu được tiền đề gây hành vi sai, như việc phải ngồi gần người khác hay đọc to trước lớp, giáo viên có thể chủ động điều chỉnh môi trường lớp học để hạn chế khơi gợi hành vi tiêu cực.

Nếu một học sinh không thể chịu được áp lực học tập mà không bùng nổ, giáo viên có thể bắt đầu bằng một nhiệm vụ chỉ kéo dài 10 phút, sau đó củng cố bằng lời khen và dần xây dựng khả năng chịu đựng của em theo thời gian. Khi học sinh bắt đầu tự điều chỉnh tốt hơn hoặc sử dụng kỹ năng xã hội tích cực, hãy kịp thời công nhận và củng cố hành vi ấy.

HÀNH VI THAY THẾ VÀ VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG CHO HỌC SINH

Học sinh cần được dạy một hành vi thay thế, tức là một hành vi phù hợp mang cùng chức năng với hành vi sai trước đó, để sử dụng trong thời gian em đang rèn kỹ năng mới. Ví dụ: thay vì đập bàn khi thấy việc đọc khó khăn, em có thể học cách nói: “Cô ơi, con có thể nghỉ một chút không?”.

Khi kỹ năng còn thiếu được dạy một cách bài bản, hành vi thay thế cũng sẽ dần không cần thiết nữa. Ví dụ: học sinh hay đập bàn có thể cần hỗ trợ kỹ năng đọc, nhờ đó sẽ ít rơi vào tình huống bùng nổ.

Khi có sự cố xảy ra dù đã phòng ngừa, phản ứng của giáo viên cần hướng đến việc củng cố hành vi mong muốn, đồng thời tránh vô tình củng cố hành vi sai.

📚 Bài viết được trích từ sách “The Behavior Code: A Practical Guide to Understanding and Teaching the Most Challenging”
📝 Dịch và tổng hợp: Family & Child Psychology with Nguyen Minh Thanh
------------------
Nguyễn Minh Thành
Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tâm lý học (Bỉ)
Thạc sĩ Khoa học (MS) Tâm lý học Phát triển và Giáo dục (Trung Quốc)
Chuyên gia Tâm lý học Gia đình và Trẻ em

KỲ VỌNG CỦA CHA MẸ DÀNH CHO CON CÁI: LÀ SỰ NÂNG ĐỠ HAY ÁP LỰC GÂY TỔN THƯƠNG?Trong một buổi học về làm cha mẹ dành cho c...
14/01/2026

KỲ VỌNG CỦA CHA MẸ DÀNH CHO CON CÁI: LÀ SỰ NÂNG ĐỠ HAY ÁP LỰC GÂY TỔN THƯƠNG?

Trong một buổi học về làm cha mẹ dành cho các sinh viên ngành tham vấn tâm lý, có một câu hỏi được đặt ra: Liệu kỳ vọng của cha mẹ có bao giờ là điều tốt không?

Phần lớn các bạn trẻ trong lớp đều cho rằng, kỳ vọng của cha mẹ thường khiến con áp lực, xấu hổ và cản trở quá trình hình thành bản sắc cá nhân.

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, kỳ vọng cũng có thể giúp con được khích lệ, được định hướng và phát triển năng lực của mình.

Vậy đâu là ranh giới? Câu trả lời có lẽ nằm ở một yếu tố rất quan trọng: Kỳ vọng đó có xuất phát từ sự thấu hiểu, lắng nghe và đồng điệu với chính con - với sở thích, xu hướng và tính khí riêng của con - hay không.

Kỳ vọng điều gần như không thể tránh khỏi. Là cha mẹ, chúng ta rất khó, thậm chí không thể không có kỳ vọng. Ngay từ khoảnh khắc biết giới tính của con, trí tưởng tượng đã bắt đầu nảy nở.

Khi biết mình sắp có một bé trai, cha mẹ có thể hình dung cảnh chơi bóng cùng con trong sân nhà, hay ngày con bước lên bục nhận bằng tốt nghiệp.

Khi biết mình sắp có một bé gái, nhiều cha mẹ mơ ước sẽ nuôi dạy con trở thành một người phụ nữ mạnh mẽ, tự tin và độc lập.

Sự thật là, không ít cha mẹ đã thấy lòng mình dâng trào niềm tự hào về con, ngay cả trước khi con mở mắt chào đời. Điều đó gần như là bản năng tự nhiên - và rất con người.

KHI KỲ VỌNG TRỞ THÀNH "CÁNH TAY" NÂNG ĐỠ

Đó là khi con có cảm giác thuộc về - sự khích lệ - và định hướng.

Kỳ vọng gửi đến con một thông điệp rất sâu sắc: “Con quan trọng với cha mẹ. Những gì con làm có ý nghĩa - rất nhiều ý nghĩa.”

Nhờ đó, con cảm nhận mình được cha mẹ gắn bó, được xem như một phần rất thân thương trong cuộc đời cha mẹ.

Cảm giác “mình thuộc về” này là nền tảng cảm xúc vô cùng quan trọng cho sự phát triển của con.

Những hy vọng cha mẹ dành cho con thường gắn liền với chính hy vọng của cha mẹ về tương lai của mình.

Ngược lại, khi cha mẹ quá “chấp nhận tất cả”, không đặt ra bất kỳ kỳ vọng nào, thông điệp mà con có thể cảm nhận là: “Con không thật sự quan trọng.”

Trẻ con rất nhạy cảm với điều này. Khi điều gì đó quan trọng với chúng ta gặp trục trặc, chúng ta buồn, lo lắng, thậm chí giận dữ.
Vì vậy, nếu cha mẹ hoàn toàn không phản ứng, con có thể ngầm hiểu rằng cha mẹ… không thật sự quan tâm.

Kỳ vọng cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển tự nhiên của con.
Khi con mới vài tháng tuổi, cha mẹ đã bế con đứng lên, cho con nhìn thế giới từ một góc cao hơn với niềm tin thầm lặng rằng rồi con sẽ biết đứng, biết đi.

Chúng ta trò chuyện với con từ rất sớm, dù con chưa hiểu lời, bởi chúng ta tin rằng rồi con sẽ nói được. Và chính những kỳ vọng ấy đã góp phần giúp con phát triển.

Kỳ vọng còn giúp con có định hướng, giảm bớt sự choáng ngợp trước quá nhiều lựa chọn. Ví dụ, khi trong gia đình có kỳ vọng con sẽ học đại học, con có thể cảm nhận đó là sự tin tưởng vào khả năng của mình.

Trong những lúc chán nản, khó khăn, việc “không có lựa chọn bỏ cuộc” đôi khi lại trở thành một nguồn động viên rất lớn.

NHỮNG KHOẢNH KHẮC KHIẾN KỲ VỌNG TRỞ THÀNH TỔN THƯƠNG

Đó là khi xuất hiện cảm giác làm cha mẹ thất vọng - tự ti - và xấu hổ.

Kỳ vọng bắt đầu gây hại khi không xuất phát từ sự thấu hiểu con.
Khi những mong muốn, tưởng tượng của cha mẹ không phù hợp với sở thích, năng lực và xu hướng thật sự của con, kỳ vọng ấy có thể làm tổn thương con một cách sâu sắc.

Con hình thành hình ảnh về chính mình thông qua cách con được cha mẹ nhìn nhận. Khi cha mẹ vui mừng, tự hào về con, con cảm thấy mình là người mang lại niềm vui. Ngược lại, khi cha mẹ thất vọng vì con không đáp ứng được kỳ vọng, con dễ nội tâm hóa cảm giác: “Mình là một sự thất vọng.”

Nếu sự thất vọng đó là điều con có thể cải thiện mà không phải đánh đổi con người thật của mình, con có thể nỗ lực hơn.

Nhưng nếu kỳ vọng nằm ngoài năng lực hay không thuộc về thế mạnh của con, sự thất vọng của cha mẹ có thể trở nên rất nặng nề.

Một đứa trẻ không có năng khiếu âm nhạc nhưng bị kỳ vọng phải giỏi âm nhạc có thể lớn lên với cảm giác tự ti kéo dài.

Nghiêm trọng hơn, khi kỳ vọng của cha mẹ mâu thuẫn trực tiếp với cách con cảm nhận về bản thân, con có thể bắt đầu che giấu chính mình. Con khoác lên một “vai diễn” để được chấp nhận.

Ví dụ, những trẻ có xu hướng tính dục hoặc bản dạng giới khác biệt nhưng bị kỳ vọng phải “giống số đông”, phải theo khuôn mẫu truyền thống, có thể chối bỏ phần cốt lõi của mình chỉ để giữ lấy sự công nhận của cha mẹ.

Những đứa trẻ ấy thường lớn lên với cảm giác xấu hổ rất sâu, rất âm thầm.

CHA MẸ CẦN HỌC CÁCH ĐỐI DIỆN VỚI NHỮNG MẤT MÁT

Cha mẹ nào rồi cũng phải đối diện với việc buông bỏ một phần những ước mơ từng dành cho con. Việc chấp nhận và cho phép mình buồn vì những mất mát đó không làm cha mẹ yếu đi - mà giúp cha mẹ mở lòng.

Khi cha mẹ thật sự quan sát, lắng nghe và tôn trọng sở thích, năng lực và tính khí riêng của con, con sẽ được đặt đúng vị trí: ở trung tâm của sự quan tâm và yêu thương.

Và chính từ đó, những kỳ vọng lành mạnh, thực tế và nâng đỡ con mới có thể hình thành.

📚 Nguồn bài viết: Psychology Today
📝 Dịch và tổng hợp: Family & Child Psychology with Nguyen Minh Thanh
------------------
Nguyễn Minh Thành
Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tâm lý học (Bỉ)
Thạc sĩ Khoa học (MS) Tâm lý học Phát triển và Giáo dục (Trung Quốc)
Chuyên gia Tâm lý học Gia đình và Trẻ em

Address

Ho Chi Minh City

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Family & Child Psychology with Nguyen Minh Thanh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Family & Child Psychology with Nguyen Minh Thanh:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram