Công Ty Liên Doanh ANOVA

Công Ty Liên Doanh ANOVA Anova – Thương hiệu dẫn đầu ngành Thuốc thú y & Thuỷ sản tại Việt Nam.

Với hơn 20 năm phát triển và hệ thống nhà máy đạt chuẩn quốc tế WHO-GMP, chúng tôi cam kết cung cấp giải pháp sức khỏe vật nuôi toàn diện, kiến tạo giá trị bền vững cho ngành chăn nuôi

Để hiện thực hóa mục tiêu mở rộng thị trường và bứt phá doanh thu trong năm 2026, Anova chính thức tìm kiếm những chiến ...
27/02/2026

Để hiện thực hóa mục tiêu mở rộng thị trường và bứt phá doanh thu trong năm 2026, Anova chính thức tìm kiếm những chiến binh Sales thực thụ cho vị trí Nhân viên Kinh doanh – nơi năng lực của bạn được đo lường bằng kết quả và tưởng thưởng xứng đáng bằng thu nhập không giới hạn.
Hãy ứng tuyển với chúng tôi ngay!

🎊 KHAI TRƯƠNG ĐẦU XUÂN – KHỞI ĐẦU THỊNH VƯỢNG 🎊Hòa chung không khí rộn ràng đầu năm mới, Công ty Liên doanh TNHH Anova c...
23/02/2026

🎊 KHAI TRƯƠNG ĐẦU XUÂN – KHỞI ĐẦU THỊNH VƯỢNG 🎊
Hòa chung không khí rộn ràng đầu năm mới, Công ty Liên doanh TNHH Anova chính thức khai trương và hoạt động trở lại!

Nhân dịp năm mới, Anova xin gửi đến Quý khách hàng, Quý đại lý và Quý đối tác lời chúc:

🌸 An Khang – Thịnh Vượng – Vạn Sự Như Ý
🐷 Chăn nuôi thuận lợi – đàn vật nuôi khỏe mạnh
🐟 Nuôi trồng bội thu – mùa vụ thắng lớn
💰 Kinh doanh phát đạt – tài lộc dồi dào

Cảm ơn Quý khách đã luôn tin tưởng và đồng hành cùng Anova trong suốt thời gian qua. Bước sang năm mới, chúng tôi cam kết tiếp tục mang đến những sản phẩm thuốc thú y & thủy sản chất lượng – an toàn – hiệu quả, cùng dịch vụ tư vấn tận tâm, đồng hành cùng bà con trên mọi chặng đường phát triển.

🚀 Anova sẵn sàng phục vụ Quý khách!
Chúc một năm mới thành công rực rỡ!

Ngày 23/2: Giá heo hơi bước vào nhịp tích lũy sau cao điểm TếtGiá heo hơi hôm nay (23/2) duy trì 70.000 - 73.000 đồng/kg...
23/02/2026

Ngày 23/2: Giá heo hơi bước vào nhịp tích lũy sau cao điểm Tết

Giá heo hơi hôm nay (23/2) duy trì 70.000 - 73.000 đồng/kg trên cả nước. Sau cao điểm Tết, thị trường bước vào nhịp tích lũy, giao dịch chậm lại.

Tại miền Bắc, giá heo hơi hôm nay không thay đổi so với phiên trước. Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội và Hưng Yên tiếp tục duy trì mức 73.000 đồng/kg, cao nhất khu vực và cũng là ngưỡng trần hiện tại của thị trường.

Nhóm địa phương Lào Cai, Lai Châu và Phú Thọ giữ mức 71.000 đồng/kg. Các tỉnh còn lại như Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hải Phòng, Ninh Bình, Điện Biên và Sơn La giao dịch phổ biến ở mức 72.000 đồng/kg.

Diễn biến đi ngang cho thấy, thị trường phía Bắc đã qua giai đoạn cao điểm tiêu thụ dịp Tết. Lượng heo xuất chuồng không tăng đột biến, trong khi sức mua giảm nhẹ so với trước Tết nhưng vẫn đủ hấp thụ nguồn cung hiện tại.

Tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên, giá heo hơi sáng nay dao động trong khoảng 71.000 - 73.000 đồng/kg. Đà Nẵng tiếp tục dẫn đầu khu vực với mức 73.000 đồng/kg. Nghệ An, Hà Tĩnh và Đắk Lắk giao dịch quanh 71.000 đồng/kg. Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Gia Lai, Khánh Hòa và Lâm Đồng phổ biến 72.000 đồng/kg.

Sau đợt xuất bán mạnh để đáp ứng nhu cầu giáp Tết, thị trường khu vực này đang trở lại chu kỳ tiêu thụ bình thường. Nguồn cung và sức mua khá cân bằng, khiến giá khó bật tăng mạnh nhưng cũng chưa xuất hiện áp lực giảm sâu.

Tại miền Nam, giá heo hơi sáng nay tiếp tục thấp hơn nhẹ so với hai miền còn lại, phổ biến 70.000 - 72.000 đồng/kg. An Giang, Cà Mau và Cần Thơ giữ mức 70.000 đồng/kg. Vĩnh Long giao dịch 71.000 đồng/kg. Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp và TP. Hồ Chí Minh duy trì 72.000 đồng/kg.

Miền Nam tiếp tục có lợi thế về nguồn cung nhờ hệ thống trang trại chăn nuôi quy mô lớn và chuỗi liên kết khép kín. Nhờ đó, thị trường giữ được sự ổn định ngay cả khi nhu cầu tiêu thụ sau Tết giảm nhẹ.

Trong ngắn hạn, giá heo hơi nhiều khả năng vẫn duy trì vùng 70.000 - 73.000 đồng/kg. Thị trường sẽ cần thêm tín hiệu rõ ràng từ sức mua, tiến độ tái đàn và diễn biến dịch bệnh để xác lập xu hướng mới

Giá heo hơi hôm nay 11/2 ghi nhận xu hướng giảm nhẹ tại một số địa phương, trong khi nhiều khu vực khác vẫn giữ giá ổn đ...
11/02/2026

Giá heo hơi hôm nay 11/2 ghi nhận xu hướng giảm nhẹ tại một số địa phương, trong khi nhiều khu vực khác vẫn giữ giá ổn định. Hiện giá heo hơi dao động trong khoảng 71.000 – 75.000 đồng/kg.

Giá heo hơi miền Bắc

Tại khu vực miền Bắc, thị trường heo hơi sáng nay tiếp tục xuất hiện nhịp điều chỉnh giảm tại Bắc Ninh và Hà Nội, cùng lùi về mức 75.000 đồng/kg.

Ở các địa phương còn lại, giá heo hơi nhìn chung đi ngang. Khảo sát cho thấy, heo hơi tại miền Bắc hiện được thu mua phổ biến trong khoảng 74.000 – 75.000 đồng/kg. Mức giá này vẫn được đánh giá là khá cao so với mặt bằng nhiều tháng trước.

Giá heo hơi miền Trung – Tây Nguyên

Tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên, Lâm Đồng là địa phương duy nhất ghi nhận giá heo hơi giảm 1.000 đồng/kg trong sáng nay, xuống còn 73.000 đồng/kg.

Các tỉnh, thành còn lại trong khu vực tiếp tục giữ giá ổn định. Hiện heo hơi tại miền Trung – Tây Nguyên đang được các thương lái thu mua trong khoảng 73.000 – 75.000 đồng/kg.

Giá heo hơi miền Nam

Thị trường miền Nam tiếp tục ghi nhận đà giảm tại nhiều tỉnh, thành. Sau khi cùng giảm 1.000 đồng/kg, giá heo hơi tại Đồng Nai, Tây Ninh và TP.HCM cùng về mức 73.000 đồng/kg.

Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, An Giang, Cà Mau và Cần Thơ hiện giao dịch ở mức 71.000 đồng/kg. Nhìn chung, giá heo hơi miền Nam hôm nay dao động trong khoảng 71.000 – 74.000 đồng/kg, thấp hơn so với miền Bắc và một số tỉnh Tây Nguyên.

Giá heo hơi hôm nay 9/2/2026 tiếp tục ổn định trên cả nước, dao động 72.000 - 76.000 đồng/kg. Miền Bắc duy trì mức giá c...
09/02/2026

Giá heo hơi hôm nay 9/2/2026 tiếp tục ổn định trên cả nước, dao động 72.000 - 76.000 đồng/kg. Miền Bắc duy trì mức giá cao nhất thị trường.

📢 THÔNG BÁO NGHỈ TẾT NGUYÊN ĐÁN 2025Công ty Liên Doanh TNHH ANOVA trân trọng thông báo đến Quý Khách hàng và Đối tác lịc...
02/02/2026

📢 THÔNG BÁO NGHỈ TẾT NGUYÊN ĐÁN 2025

Công ty Liên Doanh TNHH ANOVA trân trọng thông báo đến Quý Khách hàng và Đối tác lịch nghỉ Tết Nguyên đán như sau:

🗓 Thời gian nghỉ: từ ngày 14/02/2025 đến hết ngày 23/02/2025
📅 Hoạt động trở lại: ngày 23/02/2025

Trong thời gian nghỉ lễ, mọi giao dịch và hỗ trợ sẽ tạm ngưng và được tiếp tục xử lý khi công ty làm việc trở lại.

Kính chúc Quý Khách hàng và Đối tác một năm mới An khang – Thịnh vượng – Vạn sự như ý! 🎉

Giá heo hơi hôm nay 2-2: Diễn biến trái chiều trên cả nướcThị trường heo hơi vẫn tiếp tục diễn biến trái chiều trong sán...
02/02/2026

Giá heo hơi hôm nay 2-2: Diễn biến trái chiều trên cả nước

Thị trường heo hơi vẫn tiếp tục diễn biến trái chiều trong sáng đầu tuần. Theo ghi nhận mới nhất, heo hơi trên cả nước hiện được giao dịch với giá trong khoảng 75.000 – 78.000 đồng/kg.

Thị trường heo hơi miền Bắc hôm nay tiếp tục chịu áp lực điều chỉnh, có nơi giảm đến 2.000 đồng/kg so với hôm trước.

Cụ thể, giá heo hơi tại Tuyên Quang, Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Điện Biên và Hưng Yên cùng giảm 1.000 đồng/kg, hiện giao dịch ở mức 78.000 đồng/kg.

Tại Thái Nguyên, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ và Sơn La, heo hơi cũng giảm 1.000 đồng/kg, xuống còn 77.000 đồng/kg.Đáng chú ý, Lai Châu ghi nhận mức giảm mạnh nhất khu vực khi điều chỉnh 2.000 đồng/kg, hiện thu mua ở mức 76.000 đồng/kg.

Hiện giá heo tại miền Bắc dao động trong khoảng 76.000 – 78.000 đồng/kg.

Tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên, giá heo hơi trong sáng nay tiếp tục ghi nhận xu hướng điều chỉnh giảm, trong khi mặt bằng giá chung tại nhiều địa phương vẫn được giữ ổn định. Cụ thể, giá heo hơi tại Thanh Hóa và Nghệ An ghi nhận giảm trong phiên giao dịch đầu tuần, lần lượt lùi về mức 77.000 đồng/kg và 76.000 đồng/kg.

Trong khi đó, tại các tỉnh, thành còn lại chưa ghi nhận biến động mới, tiếp tục duy trì đi ngang so với phiên trước. Hiện, giá heo hơi tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên dao động trong khoảng 76.000 – 77.000 đồng/kg.

Thị trường heo hơi miền Nam hôm nay ghi nhận tín hiệu tích cực tại một số địa phương.

Theo đó, giá heo hơi tại An Giang và Cần Thơ cùng tăng 1.000 đồng/kg, lần lượt lên mức 76.000 đồng/kg và 77.000 đồng/kg. Trong khi đó, Đồng Nai giữ giá thu mua ở mức 78.000 đồng/kg; Tây Ninh, Đồng Tháp, TP HCM và Vĩnh Long tiếp tục giao dịch ở mức 77.000 đồng/kg. Cà Mau không ghi nhận biến động mới, duy trì mức 75.000 đồng/kg.

Hiện giá heo tại miền Nam dao động trong khoảng 75.000 – 78.000 đồng/kg.

Cách kiểm soát các bệnh hô hấp trên gia cầmNhững căn bệnh truyền nhiễm thường gặp và nguy hiểm nhất trên đàn gia cầm hướ...
30/01/2026

Cách kiểm soát các bệnh hô hấp trên gia cầm

Những căn bệnh truyền nhiễm thường gặp và nguy hiểm nhất trên đàn gia cầm hướng trứng chính là các bệnh trên hệ thống hô hấp. Chúng thường được chia làm hai loại: bệnh do vi khuẩn gây ra như Mycoplasma gallisepticum (MG) và bệnh Coryza(Avibacterium paragallinarum), và bệnh do vi-rút gây ra như bệnh Newcastle (Newcastle Disease: ND), Viêm Phế-quản Truyền nhiễm (Infectious Bronchitis: IB), Viêm Thanh-khí-quản Truyền nhiễm (Infectious Laryngotracheitis: LT), Cúm Gia cầm (Avian Influenza: AI) và Viêm đường Hô-hấp-trên Gia cầm (Avian Metapneumovirus).

Mỗi bệnh đều có đặc điểm riêng, phụ thuộc vào bản chất của vi sinh vật gây bệnh, loài gia cầm bị nhiễm, con đường truyền lây, và phương pháp kiểm soát / biện pháp tiêm phòng đang được áp dụng trong trại.

Các bệnh hô hấp thường gây ra dấu hiệu lâm sàng khá giống nhau, vì thế, sẽ gây khó khăn trong việc phân biệt từng bệnh nếu chỉ dựa vào triệu chứng và bệnh tích. Do đó, nên có biện pháp phù hợp để chuẩn đoán và giúp nhận biết rõ dấu hiệu đặc trưng của mỗi loại bệnh.

Trên thật tế, triệu chứng lâm sàng của các bệnh hô hấp ít khi nào chỉ có một nguyên nhân gây bệnh duy nhất. Chúng thường là sự kết hợp của nhiều bệnh cùng xảy ra trong đàn, vì thế có thể làm cho tình trạng của đàn tồi tệ hơn và gây khó khăn trong việc chuẩn đoán chính xác nguyên nhân gây bệnh. Thông thường, một trong những bệnh do vi khuẩn gây ra (MG hay Coryza) có thể đã hiện diện sẵn trong đàn bị nhiễm bệnh mãn tính, và sau đó tình trạng đàn này sẽ nặng hơn khi có một vi-rút gây bệnh khác xâm nhập vào (như vi-rút gây bệnh IB hay ND). Tác động kết hợp của cả loại này sẽ làm dấu hiệu bệnh xuất hiện trầm trọng hơn và kéo dài hơn khi so với chỉ có một nguyên nhân gây bệnh. Trường hợp này thường được gọi là Bệnh Hô hấp Mãn tính (Chronic Respiratory Disease: CRD).

Dấu hiệu lâm sàng của các bệnh trên đường hô hấp rất dễ quan sát. Điều trị tất cả các bệnh này bằng kháng sinh phổ rộng vẫn còn hiệu quả. Tuy nhiên, để có được một sự kiểm soát tối ưu, người chăn nuôi cần phải áp dụng đúng phương pháp chuẩn đoán để xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh và thiết kế được một chiến lược kiểm soát phù hợp cho từng loại bệnh có thể xảy ra trong trại.

Kiểm tra mổ khám, mô bệnh học, nuôi cấy và xác định vi khuẩn, huyết thanh học và các phương pháp sinh học phân tử (PCR) có thể rất hữu dụng trong việc nhận dạng các bệnh khác nhau trên đường hô hấp.

Kiểm tra mổ khám có thể được dùng để chuẩn đoán một số bệnh, như ký sinh trùng hay viêm ruột, nhưng hầu hết các bệnh trên đường hô hấp sau khi mổ khám lại cho kết quả tương tự nhau. Vì thế, để phân biệt các bệnh này, cần thực hiện thêm một số phương pháp chuẩn đoán khác. Ví dụ như, mẫu mô cố định formalin có thể cho biết bệnh tích trên tế bào, do đó có thể giúp chuẩn đoán được bệnh Đậu Gà (dạng khô hoặc ướt) và bệnh LT.

Đậu khô trên khí quản có thể xuất hiện các dấu hiệu tương tự với LT, nên mô bệnh học là phương pháp nên thực hiện khi đàn gia cầm bị nghi ngờ mắc phải một trong hai bệnh này. Ngoài ra, mô bệnh học chỉ có thể giúp biết được các dấu hiệu bệnh tích chung của các bệnh hô hấp, mà không thể chuẩn đoán phân biệt cụ thể đó là bệnh gì.

QUY TRÌNH CHUẨN ĐOÁN

Phân lập và xác định vi sinh vật gây bệnh là phương pháp chuẩn đoán chính xác nhất, nhưng đây lại là phương pháp không thật tế. Một số vi khuẩn gây bệnh tương đối dễ nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, như E. coli, hay Salmonella, nhưng MG và Coryza - hai bệnh hô hấp do vi khuẩn gây ra lại cần môi trường nuôi cấy và điều kiện phân lập đặc biệt.

Vi-rút cũng tương đối khó phân lập và xác định vì chúng cần các tế bào sống để nhân lên, như trứng gà chứa phôi hay tổ chức tế bào mô. Vì mục tiêu chuẩn đoán, các phương pháp phân tích sinh học mới hơn như PCR đã được sử dụng thay thế nhằm định danh một số vi sinh vật gây bệnh khó nuôi cấy này.

PCR xác định sự hiện diện của gien hay đoạn DNA đặc trưng của vi sinh vật. Đây là phương pháp rất nhạy và chuyên biệt, vì thế, có giá trị tương đương với phương pháp phân lập và xác định vi sinh vật. Bộ kít PCR đang bán ngoài thị trường đã tích hợp một số chuẩn đoán trong phòng thí nghiệm theo hướng thuận tiện sử dụng trong thật tế.

Nên xây dựng một chương trình an toàn sinh học thích hợp trong trại để giúp ngăn ngừa các tác nhân đang trở thành mầm mồng nhiễm bệnh, cũng như các tác nhân gây bệnh mới có khả năng xảy ra. Phải xem xét đặc điểm đặc trưng của các bệnh này như nguồn lây lan bệnh đang hiện diện trong trại, phương thức lan truyền bệnh và những vật thể sống trong môi trường.

Các nguy cơ an toàn sinh học thường gặp có thể đến từ các động vật khác đang sống trong trại (động vật nuôi hay hoang dã), con người đã tiếp xúc với các gia cầm khác, không khí bị nhiễm mầm bệnh từ các trại khác hay nhà cửa xung quanh, dụng cụ sử dụng ở trại khác, đàn mới đang được chuyển vào trại, và các mặt hàng thiết thực khác như nước và thức ăn.

Người quản lý trại cần phải cân nhắc các nguy cơ có thể phá hủy quy trình an toàn sinh học và nên thiết kế một chương trình thích hợp để tất cả nhân viên trong trại và khách tham quan phải tuân theo.

Đối với bệnh đang tồn tại trong trại, nên thiết kế một chương trình tiêm phòng hợp lý với các vắc-xin sống và bất hoạt thích hợp nhằm cung cấp sự miễn dịch cần thiết mà không gây áp lực quá mức cho đàn gia cầm đang nuôi.

Khi thiết kế chương trình tiêm phòng, cần lưu ý đến bệnh đang hoành hành trong trại, mức độ kháng thể mẹ truyền trong gà con, vắc-xin nào còn sử dụng được, dùng vắc-xin sống hay bất hoạt và nên sử dụng phương pháp phun sương hay pha với nước.

Một số vắc-xin phòng bệnh hô hấp chỉ có công hiệu khi ở dạng vắc-xin sống (như LT), một số khác lại ở dạng bất hoạt (như Coryza), nhưng hầu hết các trường hợp còn lại, cả hai dạng đều cho kết quả như nhau. Trong vài trường hợp, chúng ta chỉ cần sử dụng một dạng, hoặc là sống hoặc là bất hoạt, như MG. Nhưng cũng có trường hợp (như ND và IB), chúng ta thường sử dụng vắc-xin sống trước để kích thích sự bảo vệ đầu tiên và để “làm mồi” cho hệ thống miễn dịch hoạt động chống lại kháng nguyên đó. Sau đó, chúng ta tiếp tục tái chủng với vắc-xin bất hoạt, tiêm thẳng vào gà hậu bị để có sự bảo vệ kéo dài hơn với mức kháng thể chuẩn cao hơn.

Thiết kế chương trình tiêm phòng chỉ là bước đầu tiên; kỹ thuật tiêm phòng sau đó mới là bước quan trọng để quyết định khả năng miễn dịch đồng đều của tất cả gà trong đàn.

Phương pháp tốt nhất để chủng ngừa vắc-xin sống trong việc phòng bệnh hô hấp chính là phương pháp nhỏ mắt. Nhưng các phương pháp chủng ngừa hàng loạt khác (phun sương hoặc pha nước uống) thường được áp dụng để tiết kiệm nhân công. Nhược điểm của phương pháp chủng ngừa hàng loạt này trong đàn gia cầm có quy mô lớn là không đảm bảo được sự đồng đều vắc-xin trên tất cả gà trong đàn.

Đối với phương pháp pha nước uống, tốt nhất nên sử dụng khi gà đang khát vì lúc này chúng sẽ tiêu thụ hết nước có pha vắc-xin trong vòng 1 đến 2 giờ; và nên thực hiện vào sáng sớm (khi ánh sáng mặt trời vừa mới xuất hiện). Vì hầu hết vi-rút gây bệnh hô hấp trong các vắc-xin sống sẽ chết đột ngột và bị bất hoạt sau hai giờ tồn tại ở môi trường ngoài. Một điều quan trọng khác cần phải lưu ý chính là số lượng nước dùng để pha vắc-xin. Số lượng này phải vừa đủ để tất cả các gà trong trại tiêu thụ, nhưng không quá nhiều đến mức còn thừa lại và sẽ tồn đọng trong hệ thống cung cấp nước và bị bất hoạt. Chính vì thế, người chăn nuôi phải lập kế hoạch cẩn thận và nên thực hiện thử vài lần trước khi tiến hành chủng ngừa thật sự.

Phương pháp phun sương dễ dàng thực hiện hơn, nhưng cũng phải cân nhắc đến khối lượng nước cần thiết được sử dụng để vắc-xin phân bố đồng đều đến tất cả gà trong trang trại. Trong một số vắc-xin vi-rút như LT, khi vắc-xin không được phân bố đều sẽ làm kết quả tiêm chủng giữa các gà trong trại khác nhau và có thể xuất hiện trường hợp: vi-rút trong vắc-xin khôi phục yếu tố độc lực; và khi đó, việc “nổ dịch” LT hoàn toàn có thể xảy ra và nguyên nhân cho ổ dịch này chính là kỹ thuật chủng ngừa trong trại.

Một điều cần lưu ý: tất cả vắc-xin sống đều rất dễ trở nên bất hoạt bởi các hóa chất dùng trong khâu xử lý nước vẫn còn tồn tại trong nước. Do đó, nên sử dụng thêm chất giúp ổn định vắc-xin như các sản phẩm có nguồn gốc từ sữa hay các sản phẩm mới hơn có tác dụng trung hòa mọi chất chlorine còn hiện diện trong nước.

Sau khi chủng ngừa, xét nghiệm huyết thanh học sẽ giúp kiểm tra tình trạng miễn dịch trong đàn và xác định khu vực thực hiện quy trình chủng ngừa kém. Nên nhớ, kháng thể thường cần 2 đến 4 tuần sau khi chủng ngừa để hình thành và phát triển, và mẫu máu nên được thu thập từ một số gà đại diện trong đàn.

Khi đã có mẫu, nên tiến hành phân tách huyết thanh và bảo quản lạnh để vận chuyển đến phòng thí nghiệm. Kỹ thuật phòng thí nghiệm thường áp dụng, bao gồm phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính hay ELISA dùng cho MG và ELISA cho ND, IB và có thể dùng cho cả LT, AI và pneumovirus.

Thông thường, đàn đã được chủng ngừa sẽ phát hiện được kháng thể; nhưng vẫn có một số vắc-xin không thể kích thích được hệ thống miễn dịch để tạo kháng thể. Vì thế, nên tiến hành đánh giá kết quả huyết thanh học với chương trình chủng ngừa để xác định tính hiệu quả của vắc-xin. Các độ chuẩn trong huyết thanh học không những giúp xác định đó có phải là mức kháng thể thích hợp khi tiến hành chủng ngừa hay không, mà còn biết sự đồng đều trong đáp ứng miễn dịch giữa các cá thể trong đàn.

Khi kết quả là dương tính với kháng thể của một bệnh, có hai trường hợp xảy ra: đàn đã được chủng ngừa hoặc đàn đã tiếp xúc với vi-rút gây bệnh ngoài môi trường (nếu trước đó chưa được chủng ngừa). Vì thế, huyết thanh học chỉ có thể xác nhận sự tồn tại của bệnh, không xác định được nguồn gốc của bệnh. Do đó, các kỹ thuật chuẩn đoán khác cũng phải thực hiện đồng thời để xác định chính xác vấn đề đang tồn tại trong trại.

VẮC-XIN VÉC-TƠ
Một số vắc-xin véc-tơ thế hệ mới đã xuất hiện, có khả năng cung cấp sự miễn dịch mà không làm tổn thương đường hô hấp như các vắc-xin thông thường. Các vắc-xin véc-tơ được cấp phép gần đây đều là các vắc-xin sử dụng “vi-rút mang” (carrier) của một trong hai bệnh: vi-rút thường được dùng để sản xuất vắc-xin phòng ngừa FP hoặc sản xuất vắc-xin HVT phòng bệnh Marek.

Các vi-rút này được biến đổi để mang theo một số gien quan trọng của các vi-rút gây bệnh khác nhằm tạo ra các protein miễn dịch chống lại tất cả các bệnh này. Vì thế, khi vi-rút Đậu hay HVT đã biến đổi này nhân lên trong cơ thể thì protein ngoại lai được cấy thêm cũng được nhân lên và kích thích hệ thống miễn dịch chống lại chúng mà không gây ra phản ứng phụ như khi tiêm vắc-xin chứa toàn bộ vi-rút gây bệnh.

Véc-tơ Đậu thường được cấy thêm gien của vi-rút gây bệnh LT, ND, AI và MG. Véc-tơ HVT thì được sử dụng cho bệnh LT, IBD và ND.

Véc-tơ không được xảy ra phản ứng đào thải với gien ngoại lai được cấy vào, và một điều quan trọng chính là: không những phải kích thích hệ thống miễn dịch chống lại vi-rút véc-tơ mà còn tạo ra đầy đủ kháng thể chống lại các gien của vi-rút ngoại lai được thêm vào.

Vì lý do này, trước khi sử dụng vắc-xin véc-tơ, người chăn nuôi không được sử dụng các vắc-xin phòng bệnh của các vi-rút làm véc-tơ. Ví dụ như, véc-tơ Đậu được sử dụng vào thời điểm 8 - 12 tuần tuổi thì đàn đó không nên tiến hành chủng ngừa với vắc-xin Đậu ở trại ấp hay bất kì thời điểm nào trước khi chủng ngừa vắc-xin véc-tơ. Tương tự như vậy, sản phẩm véc-tơ HVT cũng không nên sử dụng cùng với các vắc-xin thông thường phòng chống HVT hay các vắc-xin véc-tơ HVT khác.

Có lẽ trong tương lai chúng ta sẽ có nhiều loại vắc-xin véc-tơ khác có khả năng mang theo protein ngoại lai, nhưng hiện tại, chúng ta chỉ có thể lựa chọn giữa một vắc-xin véc-tơ HVT duy nhất và một vắc-xin véc-tơ Đậu duy nhất trong số những sản phẩm đang có mặt ở thị trường.

Quy trình kiểm soát bệnh hô hấp cần rất nhiều công sức để thực hiện, nhưng mục đích cuối cùng vẫn là duy trì được sức khỏe của đàn và khả năng sản xuất của đàn gia cầm hướng trứng trên khắp thế giới.

Nguồn : Nguồn tin: Ceva Việt Nam

Quản lý độ ẩm và kiểm soát nấm mốc trong sản xuất thức ăn chăn nuôi: Từ thách thức âm thầm đến lợi thế cạnh tranh của nh...
14/01/2026

Quản lý độ ẩm và kiểm soát nấm mốc trong sản xuất thức ăn chăn nuôi: Từ thách thức âm thầm đến lợi thế cạnh tranh của nhà máy hiện đại

Trong sản xuất thức ăn chăn nuôi, độ ẩm thường chỉ được xem là thông số kỹ thuật phụ trợ. Tuy nhiên, các nghiên cứu khoa học và thực nghiệm thương mại gần đây cho thấy, quản lý độ ẩm hiệu quả có vai trò quyết định đến chất lượng viên cám, khả năng kiểm soát nấm mốc, tiêu hao năng lượng và lợi nhuận tổng thể của nhà máy. Cách tiếp cận mới trong quản lý độ ẩm đang mở ra hướng tối ưu hóa toàn diện cho các nhà máy thức ăn hiện đại.

Độ ẩm – nền tảng của chất lượng viên cám

Độ ẩm là yếu tố vật lý quan trọng quyết định cấu trúc và độ bền của viên thức ăn. Khi độ ẩm được phân bố đồng đều và hấp thụ hiệu quả trong nguyên liệu, các hạt liên kết tốt hơn, viên cám bền chắc, tỷ lệ mảnh vụn thấp và khả năng ổn định trong bảo quản được cải thiện.

Ngược lại, nếu độ ẩm không được kiểm soát tốt, viên cám dễ vỡ, chất lượng không đồng nhất và nguy cơ phát triển vi sinh vật không mong muốn tăng cao. Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ thức ăn chăn nuôi đã chỉ ra rằng, độ ẩm là một trong những yếu tố nền tảng quyết định độ cứng, độ bền và tính toàn vẹn của viên thức ăn, song lại thường bị xem nhẹ trong thực tế sản xuất.

Thách thức trong quản lý độ ẩm tại nhà máy

Trong dây chuyền sản xuất thức ăn chăn nuôi, độ ẩm của nguyên liệu thay đổi liên tục qua các công đoạn như nghiền, trộn, conditioning, ép viên, làm nguội và đóng bao. Ở mỗi công đoạn, độ ẩm đều có thể bị thất thoát hoặc phân bố lại không đồng đều.

Việc thất thoát độ ẩm không kiểm soát dẫn đến nhiều hệ quả: phân bố dinh dưỡng không đồng đều, hao hụt trọng lượng sản phẩm, tăng chi phí sản xuất và giảm năng suất vận hành. Để bù đắp lượng nước mất đi, nhiều nhà máy lựa chọn giải pháp bổ sung nước trực tiếp. Tuy nhiên, giải pháp này thường không mang lại hiệu quả như kỳ vọng.

Nguyên nhân là do nước có sức căng bề mặt cao, khó thấm sâu vào cấu trúc nguyên liệu. Phần lớn lượng nước bổ sung tồn tại ở dạng nước tự do, dễ bốc hơi nhanh trong quá trình conditioning hoặc làm nguội. Phần nước còn lại nếu không được hấp thụ đồng đều sẽ tạo ra sự không nhất quán về độ ẩm trong viên cám, làm tăng nguy cơ nấm mốc trong quá trình bảo quản.

Vai trò then chốt của độ ẩm trong ép viên

Trong quá trình ép viên, độ ẩm đóng vai trò quyết định hiệu quả tạo viên. Khi hàm lượng ẩm phù hợp, các hạt nguyên liệu liên kết tốt hơn, tinh bột được hồ hóa hiệu quả, tạo “chất keo tự nhiên” giúp viên cám bền chắc. Nhờ đó, lực cản khi ép giảm, máy ép vận hành ổn định và tiêu hao năng lượng được tối ưu.

Ngược lại, nguyên liệu quá khô khiến máy ép phải hoạt động với cường độ cao hơn, làm tăng tiêu thụ điện năng, mài mòn thiết bị và giảm tuổi thọ máy móc. Do đó, quản lý độ ẩm hiệu quả không chỉ cải thiện chất lượng viên cám mà còn mang lại lợi ích rõ rệt về hiệu suất vận hành.

Chất lượng viên cám và hiệu quả chăn nuôi

Chất lượng viên thức ăn không chỉ là vấn đề của nhà máy mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chăn nuôi. Nhiều nghiên cứu trong ngành gia cầm cho thấy, viên cám có chất lượng tốt giúp vật nuôi tăng lượng thức ăn thu nhận, giảm năng lượng tiêu hao cho việc chọn lọc mảnh vụn và cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR).

Điều này cho thấy, những cải thiện trong quản lý độ ẩm và chất lượng viên tại nhà máy có thể mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho trang trại, góp phần nâng cao hiệu quả toàn chuỗi sản xuất.(Abdollahi et al., 2013; Amerah et al., 2007)

Nấm mốc – rủi ro gắn liền với độ ẩm

Một trong những mối lo ngại lớn nhất khi tăng độ ẩm trong thức ăn là nguy cơ phát triển nấm mốc, đặc biệt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm. Nấm mốc không chỉ làm giảm chất lượng thức ăn mà còn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi.

Các giải pháp chống mốc truyền thống chủ yếu dựa vào propionic acid, thường chỉ hiệu quả trong việc ức chế nấm ở dạng sinh trưởng. Trong khi đó, bào tử nấm – với khả năng chịu stress cao – vẫn có thể tồn tại và nảy mầm khi gặp điều kiện thuận lợi. Vì vậy, kiểm soát nấm mốc hiệu quả đòi hỏi giải pháp có khả năng tác động sâu và bền vững hơn.

ActiProp – hướng tiếp cận mới trong quản lý độ ẩm

Công nghệ ActiProp được phát triển như một nền tảng giải pháp tích hợp cho quản lý độ ẩm và kiểm soát nấm mốc trong sản xuất thức ăn chăn nuôi. Công nghệ này kết hợp các acid hữu cơ, chất đệm, hợp chất quản lý độ ẩm và các hợp chất có nguồn gốc thực vật, tạo hiệu quả cộng hưởng trong kiểm soát vi sinh vật.

Cơ chế “activated propionates” giúp tăng khả năng thẩm thấu của propionic acid vào tế bào nấm và bào tử, từ đó không chỉ ức chế nấm phát triển mà còn hạn chế khả năng nảy mầm của bào tử trong quá trình bảo quản.

Bên cạnh đó, hợp chất quản lý độ ẩm trong sản phẩm Fylax Forte HC- Liquid của Trouw Nutrition giúp giảm sức căng bề mặt nước, cho phép hỗn hợp nước – dung dịch lan tỏa đều và thấm sâu vào cấu trúc nguyên liệu. Nhờ vậy, độ ẩm được phân bố đồng nhất, giảm lượng nước tự do và hỗ trợ quá trình ép viên hiệu quả hơn.

Thực nghiệm thương mại: hiệu quả trong điều kiện sản xuất

Hiệu quả của giải pháp đã được kiểm chứng trong một thử nghiệm thương mại tại nhà máy thức ăn gà thịt công suất 100.000 tấn/năm. Kết quả cho thấy, việc sử dụng Fylax Forte HC- Liquid giúp tăng độ ẩm cám thành phẩm nhưng không làm gia tăng mật độ nấm mốc sau bảo quản.

Năng lượng ép tại máy ép viên giảm lần lượt 3,8% và 7,7% ở nghiệm thức 1% và 1,5% giải pháp bù ẩm Fylax Forte HC- Liquid, năng suất ép viên cũng tăng 2,1% và 2,9% tương ứng và tốc độ cấp liệu tăng 5.1% đối với cả hai nghiệm thức cũng được ghi nhận cho thử nghiệm này, điều này làm cải thiện hiệu quả vận hành của nhà máy.

Giải pháp Selko MMS & Fylax Forte HC-Liquid – “cặp vệ sĩ” toàn diện cho nhà máy thức ăn chăn nuôi

Bộ giải pháp Hệ thống phun định lượng Selko MMS & Fylax Forte HC-Liquid của Trouw Nutrition mang đến cách tiếp cận chủ động và toàn diện trong kiểm soát độ ẩm, phòng ngừa nấm mốc và tối ưu hóa lợi nhuận ngay từ khâu sản xuất. Trong bối cảnh nguyên liệu đầu vào và điều kiện khí hậu luôn biến động, độ ẩm chính là yếu tố then chốt ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng viên cám, rủi ro mốc – độc tố và chi phí vận hành của nhà máy.

Giải pháp Selko MMS & Fylax Forte HC-Liquid được tích hợp trực tiếp trên dây chuyền sản xuất, đảm bảo phân bố đồng đều nhờ hệ thống vòi phun lắp đặt tại máy trộn. Liều lượng được kiểm soát bằng đồng hồ lưu lượng kỹ thuật số, loại bỏ hoàn toàn sai sót thủ công. Toàn bộ dữ liệu vận hành được ghi nhận và quản lý trên phần mềm MMS, có khả năng tích hợp với hệ thống điều khiển hiện hữu của nhà máy, giúp quy trình định lượng tự động – minh bạch – truy xuất được.

Cảm biến độ ẩm đóng vai trò trung tâm trong việc đảm bảo hiệu quả tổng thể. Việc hiệu chỉnh cảm biến là bắt buộc để cung cấp số liệu theo thời gian thực, từ đó hệ thống tự động điều chỉnh lượng Fylax Forte HC-Liquid phù hợp với độ ẩm thực tế của nguyên liệu và thành phẩm. Nhờ đó, độ ẩm luôn được kiểm soát ổn định, giảm nguy cơ bốc nóng, vón cục, nấm mốc trong suốt quá trình lưu kho và vận chuyển.

Với Selko MMS & Fylax Forte HC-Liquid, nhà máy không chỉ bảo vệ chất lượng thức ăn và an toàn đàn vật nuôi, mà còn giảm thất thoát và rủi ro do mốc – độc tố, tối ưu chi phí bảo quản và vận hành, nâng cao hiệu suất sản xuất và lợi nhuận dài hạn.

Đây là giải pháp công nghệ hiện đại, phù hợp với các nhà máy hướng đến tự động hóa, số hóa và phát triển bền vững trong ngành thức ăn chăn nuôi.

Quản lý độ ẩm trong sản xuất thức ăn chăn nuôi không còn là vấn đề kỹ thuật đơn lẻ, mà là một phần quan trọng trong chiến lược nâng cao hiệu quả và tính bền vững của nhà máy. Cách tiếp cận dựa trên công nghệ, thay vì chỉ bổ sung nước, cho phép kiểm soát tốt hơn chất lượng viên cám, nấm mốc và hiệu suất ép viên.

Nguồn : TROUW NUTRITION

Đồng Tháp: Đẩy mạnh phòng, chống dịch tả heo châu PhiUBND tỉnh Đồng Tháp vừa ban hành Công văn 68 về việc tiêu hủy, khoa...
14/01/2026

Đồng Tháp: Đẩy mạnh phòng, chống dịch tả heo châu Phi

UBND tỉnh Đồng Tháp vừa ban hành Công văn 68 về việc tiêu hủy, khoanh vùng xử lý khi có bệnh dịch tả heo châu Phi (DTHCP).

Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, địa phương căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, tập trung chỉ đạo triển khai các giải pháp phòng, chống bệnh DTHCP trên địa bàn tỉnh, đảm bảo an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026; tiêu hủy, khoanh vùng khi có bệnh DTHCP theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) tại Công văn 11145 ngày 31-12-2025. Đồng thời, tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện một số nội dung.

Cụ thể, Sở NN&MT kịp thời phối hợp, hỗ trợ, hướng dẫn các địa phương thực hiện nghiêm việc phòng, chống bệnh DTHCP đúng theo quy định của pháp luật về thú y. Song song đó là cung ứng đầy đủ thuốc sát trùng theo đề nghị của địa phương nhằm xử lý dứt điểm các ổ dịch DTHCP, không để phát sinh ổ dịch mới và lây lan sang diện rộng.

Sở NN&MT phối hợp với UBND cấp xã rà soát số liệu tổng đàn vật nuôi; tuyên truyền các giải pháp phòng, chống dịch bệnh động vật; kiểm tra công tác phòng, chống dịch bệnh động vật tại các địa phương vừa mới phát sinh ổ dịch DTHCР hoặc có nguy cơ cao xảy ra bệnh DTHCP.

Ngành Nông nghiệp tăng cường kiểm soát vận chuyển heo và các sản phẩm từ heo theo đúng quy định; kiểm soát chặt chẽ hơn nữa tại khu vực biên giới, không để heo và sản phẩm từ heo nhập lậu từ nước ngoài vào địa bàn tỉnh; kiểm soát giết mổ, kiểm tra việc bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm…

UBND các xã, phường tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền sâu rộng bằng nhiều hình thức về tính chất nguy hiểm của bệnh DTHCP, nguy cơ dịch bệnh tái phát, lây lan, các biện pháp phòng dịch bệnh và sử dụng vắc xin DTHCР.

Đồng thời, chỉ đạo, huy động các nguồn lực hợp pháp để triển khai phòng, chống dịch bệnh động vật; tổ chức xử lý triệt để ổ dịch DTHCP khi vừa mới phát sinh, tiêu hủy dứt điểm heo mắc bệnh, nghi mắc bệnh, chết do bệnh DTHCP…

Nguồn : Báo Đồng Tháp

Các tế bào ở gà được chỉnh sửa gien chống lại vi-rút cúm gia cầmCác nhà khoa học đã sử dụng các kỹ thuật chỉnh sửa gien ...
14/01/2026

Các tế bào ở gà được chỉnh sửa gien chống lại vi-rút cúm gia cầm

Các nhà khoa học đã sử dụng các kỹ thuật chỉnh sửa gien để ngăn chặn virus cúm gia cầm lây lan trong các tế bào ở gà được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm. Các phát hiện làm tăng khả năng sản xuất các giống gà chỉnh sửa gien có khả năng kháng bệnh. Các nhà nghiên cứu đã ngăn chặn virus này bằng cách xóa một phần DNA của gà bên trong các tế bào được nuôi trong phòng thí nghiệm.

Bước tiếp theo sẽ là cố gắng sản xuất các giống gà với sự thay đổi di truyền. Các nhà khoa học đã nhằm mục tiêu một phân tử cụ thể bên trong các tế bào gà được gọi là ANP32A. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Hoàng gia Luân Đôn phát hiện ra rằng trong quá trình lây nhiễm, vi-rút cúm chiếm quyền điều khiển phân tử này để giúp tự nhân lên.

Làm việc với các chuyên gia từ Viện Roslin của Đại học Edinburgh, các nhà nghiên cứu đã sử dụng các kỹ thuật chỉnh sửa gien để loại bỏ phần DNA chịu trách nhiệm sản xuất ANP32A. Họ tìm thấy virus không còn có thể phát triển bên trong các tế bào với sự thay đổi di truyền.

Cúm gia cầm là mối đe dọa lớn đối với gà nuôi trên toàn thế giới, với các chủng nghiêm trọng giết chết tới 100% số gà trong một đàn. Trong những trường hợp hiếm hoi, một số biến thể của virus có thể lây nhiễm cho người và gây bệnh nghiêm trọng. Những nỗ lực để kiểm soát sự lây lan của bệnh là rất cần thiết.

Các nhà nghiên cứu tại Viện Roslin trước đây đã làm việc với các chuyên gia từ Đại học Cambridge để sản xuất những con gà không truyền bệnh cúm gà cho những con gà khác sau khi bị nhiễm bệnh với việc sử dụng các kỹ thuật chỉnh sửa gien. Cách tiếp cận mới có sự khác biệt vì nó không liên quan đến việc đưa vật liệu di truyền mới vào DNA của gà.

Nghiên cứu được tài trợ bởi Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Sinh học và Công nghệ Sinh học. Tài trợ cho nghiên cứu là Công ty nghiên cứu gia cầm toàn cầu Cobb-Vantress. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí eLife.

Tiến sĩ Mike McGrew, thuộc Viện Roslin của Đại học Edinburgh, cho biết: “Đây là một tiến bộ quan trọng cho thấy chúng tôi có thể sử dụng các kỹ thuật chỉnh sửa gien để tạo ra những con gà kháng cúm gia cầm. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã xác định được sự thay đổi di truyền nhỏ nhất có thể có đối với những con gà có thể giúp ngăn chặn vi rút”.

Rachel Hawken, Giám đốc cấp cao về Di truyền học và Di truyền định lượng tại Cobb-Vantress, cho biết: “Kháng cúm gia cầm trong sản xuất gà thịt có ý nghĩa toàn cầu và nghiên cứu này là một bước quan trọng đối với mục tiêu đó. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để thúc đẩy chăn nuôi gia cầm trong tương lai”.

Nguồn : Bộ NN&PTNT

Address

36 Đại Lộ Độc Lập, Khu Công Nghiệp Việt Nam/Singapore, Phường Bình Hòa
Ho Chi Minh City

Opening Hours

Monday 08:00 - 17:00
Tuesday 08:00 - 17:00
Wednesday 08:00 - 17:00
Thursday 08:00 - 17:00
Friday 08:00 - 17:00

Telephone

+84908877083

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công Ty Liên Doanh ANOVA posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Công Ty Liên Doanh ANOVA:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram