18/03/2026
ĐAU VAI GÁY THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
Bài viết mang tính chất tham khảo, vui lòng không tự chẩn đoán - tự điều trị bệnh. Cần thăm khám và điều trị bởi các chuyên khoa.
Tất cả vì sức khỏe của cả nhà, xin cám ơn!
I. BỆNH DANH
Trong Y học cổ truyền, đau vai gáy thường thuộc các phạm trù:
• Lạc chẩm: đau, không lan xuống tay
• Kiên thống: đau vùng vai tay
• Chứng Tý: đau, có lan xuống tay – thường là bệnh mãn tính, lâu năm.
II. NGUYÊN NHÂN, CƠ CHẾ BỆNH SINH:
1. Ngoại nhân (Nguyên nhân từ bên ngoài)
- Do các yếu tố Phong – Hàn – Nhiệt xâm nhập vào các kinh lạc vùng cổ vai, làm:
• Kinh lạc bế tắc
• Khí huyết không lưu thông
→ gây co cứng/ sưng viêm các cơ vùng cổ vai gáy, mà gây nên đa.u.
2. Nội nhân (Nguyên nhân từ bên trong)
- Nội nhân bao gồm thất tình: nộ (giận), hỉ (vui), ưu (lo lắng), tư (suy nghĩ), bi (buồn), kinh (sợ), khủng (hãi). Khi tình chí hoạt động thái quá sẽ gây tổn thương đến Tinh, Khí, Huyết của Tạng phủ tương ứng. Sách Tố Vấn – thiên Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận, viết: “Vui quá hại Tâm, giận quá hại Can, buồn rầu quá hại Phế, lo nghĩ quá hại Tỳ, sợ hãi quá hại Thận”.
Thất tình ảnh hưởng đến khí của Tạng Phủ, Tố Vấn – Thiện Cử Thống Luận, viết : “Vui làm khí hoãn, giận làm khí thăng, buồn làm khí tiêu, sợ làm khí hạ, kinh hãi làm khí loạn, lo nghĩ làm khí kết…”
- Do Can - Thận hư suy (bệnh mãn tính)
Theo YHCT:
• Can chủ cân,
• Thận chủ cốt tủy
Khi Can Thận hư suy, chức năng giảm đi, cơ xương khớp suy yếu: đ.au cổ vai gáy mạn tính, đa.u lưng mạn tính, tê tay, tê chân, đ.au khớp gối,… → và rất dễ tái phát cơn đa.u mỗi khi: làm việc nhiều, căng thẳng thần kinh, sai tư thế khi hoạt động, mang vác hơi nặng cũng đ.au, trái gió trở trời, tối ngủ không ngon, ngủ trên nệm mềm, ngủ trên võng, nằm đất, nằm máy lạnh, nằm quạt-lạnh,… nhiều khi không có lý do gì rõ rệt cũng đ.au (kiểu như “ta thích thì đa.u” vậy đó ^^)
3. Bất nội ngoại nhân (nguyên nhân không phải từ 2 yếu tố trên)
- Do ăn uống: ăn uống không điều độ tổn thương Tỳ - Vị.
Tỳ sinh huyết, Tỳ - Vị tổn thương không sinh được huyết nuôi dưỡng được cân cơ cốt (cụ thể vùng cổ vai gáy), lâu ngày xương cốt bị thoái hóa sớm.
Tỳ chủ cơ nhục, tứ chi. Tỳ suy yếu, cơ nhục suy yếu theo, không đủ sự vận hành mà đuổi được tà khí.
Tỳ chủ vận hóa, không vận hóa được mà sinh đàm thấp, gây ứ đọng, khiến khí trệ mà gây đa.u.
- Lao động: lao động làm cho khí huyết lưu thông, cơ thể khỏe mạnh, tinh thần thoải mái.
+ Ít lao động, an nhàn, nằm nhiều: khí không lưu thông, khí không thông thì không dẫn huyết đi nuôi dưỡng các cơ quan tạng phủ được mà gây nên bệnh.
+ Lao động quá sức: làm tổn hại cơ nhục, cân cốt, tổn thương khí huyết
Trong Tố Vấn – thiên Tuyên Minh Ngũ Khí, viết: “Năm sự thái quá (lao, nhọc) làm thương đến năm Tàng. Trong lâu làm thương đến huyết, nằm lâu làm thương đến khí, ngồi lâu làm thương đến nhục, đứng lâu làm thương đến cốt, đi lâu làm thương đến Cân”.
- Sang chấn: chấn thương (tai nạn,…) tổn hại đến vùng cổ vai gáy mà gây nên đa.u
- Huyết ứ: là tình trạng khí huyết vận hành không thông suốt, gây ứ tắc, xung huyết, hoặc chảy máu cục bộ (tại chỗ).
Nguyên nhân do: Khí hư, Khí trệ, Chấn thương…
III. PHÂN LOẠI
Phân loại theo thể bệnh lâm sàng:
1. Trúng phong hàn ở kinh lạc
a. Triệu chứng:
• Đột nhiên cứng đ.au, có thể lan lên đầu hoặc xuống tay, co cứng cơ ở cổ vai gáy, cứng cổ, hạn chế vận động.
• Thích chườm ấm, sợ lạnh, gặp gió lạnh thì đa.u tăng.
• Rêu lưỡi trắng, mạch Phù
b. Phép trị: Khu phong, tán hàn, thông kinh lạc
2. Phong nhiệt ở kinh lạc
a. Triệu chứng:
- Đa.u hạn chế vận động, nhìn thấy cột sống cổ và phần mềm xung quanh sưng, sờ nóng, có sốt (hoặc không có sốt, chỉ ngây ngấy muốn sốt)
- Mạch Phù Sác
b. Phép trị: Khu phong, thanh nhiệt, hành khí hoạt huyết.
3. Huyết ứ, khí trệ ở kinh lạc
a. Triệu chứng:
- Thường có tính chất đa.u cố định 1 chỗ, đ,au cự án, có thể có xuất huyết dưới da.
- Chất lưỡi tím hoặc có ban điểm ứ huyết. Mạch Tế Sáp.
b. Phép trị: Hoạt huyết hành khí, thông kinh hoạt lạc.
4. Can Thận hư + phong – hàn – thấp
a. Triệu chứng:
• Hay đ.au mỏi vùng cổ, hay tái phát, đa.u dữ dội hoặc âm ỉ, khó giữ tư thế lâu, thường kèm với triệu chứng đ.au lưng mỏi gối, hoa mắt chóng mặt, nhìn mờ, người nóng, hay ra mồ hôi trộm, khô khát, lưỡi đỏ
• Thường xuất hiện đợt cấp với triệu chứng của thể phong hàn hoặc thể huyết ứ.
b. Phép trị: khu phong, tán hàn, trừ thấp, bổ Can Thận, thông kinh lạc
IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN (YHCT):
1. Châm cứu
Châm và cứu đều là các kích thích vào huyệt gây ra các phản ứng nhằm điều hòa các rối loạn chức năng và giảm đau.
Châm là một kích thích cơ giới, dùng kim kích thích vào huyệt.
Cứu là một kích thích về nhiệt, dùng sức nóng kích thích vào huyệt (thường dùng ngải cứu).
Cơ chế tác dụng:
- Theo YHCT:
+ Châm cứu có tác dụng điều khí tức điều hòa sự vận hành của kinh khí trong kinh mạch, do đó có khả năng điều hòa khí huyết và chức năng của kinh lạc - tạng phủ.
+ Đau là do kinh lạc bị bế tắc, khí huyết bị ứ trệ gây ra. "Thống tắc bất thông, thông tắc bất thống". Châm cứu có tác dụng hành khí, hoạt huyết, thông kinh hoạt lạc, nên có tác dụng giảm đau (chỉ thống).
- Theo Tây y:
Châm cứu là một kích thích cảm giác chuyên biệt, được phân tích thông qua các đường dẫn truyền thần kinh cảm giác. Châm cứu các điểm cụ thể (hoặc các vùng) của cơ thể hoạt hóa các đường dẫn truyền thần kinh trên 3 cấp độ khác nhau, gây ra phản ứng tại chỗ, vùng và toàn thân.
+ Phản ứng tại chỗ:
Tại vị trí châm kim có sự hiện diện và tổng hợp các chất dẫn truyền thần kinh như các peptide opiod (giảm đau), chất P (co cơ, dẫn truyền cảm giác đau), bradikinin (giãn mạch, lợi niệu, chống oxy hóa, tiêu sợi huyết (chống đông), serotonin (gây co thắt mạch, co cơ), enzym thủy phân protein (giảm viêm, phảm phủ mô mềm, lỏng các dịch tiết), ACTH (hormon corticotropin, kiểm soát bài tiết cortíol tại vỏ thượng thận) và các chất chống histamine.
Vận dụng phản ứng tại chố, sử dụng huyệt tại chỗ, huyệt lân cận hoặc A thị huyệt (thống điểm) để điều trị bệnh chứng tại chỗ hoặc xung quanh thương tổn.
+ Phản ứng vùng (tiết đoạn thần kinh):
Có 31 đôi dây thần kinh tủy, chi phổi cảm giác và vận động một vùng cơ thể gọi là một tiết đoạn.
Phản ứng vùng liên quan đến việc kích hoạt một vùng rộng (2-3 đốt da/ tiết đoạn), thông qua các cung phản xạ:
* Phản xạ tạng-da (phản xạ phát sinh khi kích thích các cơ quan nội tạng thì phản ứng xuất hiện ở da),
* Phản xạ da-tạng (phản xạ phát sinh khi kích thích da thì phản ứng xuất hiện ở cơ quan nội tạng hoặc gây ra phản ứng ở mạch máu),
* Phản xạ da-cơ,
* Phản xạ tạng-cơ,
* Phản xạ kéo căng,
* Phản xạ tiêt đoạn đa synap,
* Các phản xạ thực vật khác,...
Vận dụng phản ứng vùng hay phản ứng tiết đoạn, sử dụng cá huyệt Du (huyệt Bối du) ơ rvùng lưng, huyệt Mộ ở ngực bụng, huyệt Giáp tích để chẩn đoán và điều trị bệnh lý tạng phủ hoặc vùng tương ứng.
+ Phản ứng toàn thân:
Phản ứng chủ yếu kích hoạt cơ chế trung ương não bộ đối với sự điều hòa cân băng nội mô (nguyên lý về hiện tượng chiếm ưu thế vỏ não của Utomski, về cơ năng linh hoạt của hệ thần kinh của Wedensky, về cơ chế thần kinh-thể dịch-nội tiết)
* Theo nguyên lý về hiện tượng chiếm ưu thế vỏ não của Utomski: châm cứu sẽ gây ra một cung phản xạ mới, nếu đủ cường độ kích thích sẽ có tác dụng ức chế ổ hưng phấn do tổn thương bệnh lý gây ra, và làm phá vỡ/ làm mất cung phản xạ bệnh lý.
* Về cơ năng linh hoạt của hệ thần kinh của Wedensky thì khi thần kinh ở trạng thái yên tĩnh, một kích thích nhẹ thường gây ra một phản ứng hưng phấn nhẹ, một kích thích mạnh thường gây ra một phản ứng hưng phấn mạnh.
Nhưng nếu thần kinh ở trạng thái hưng phấn do bệnh lý, thì một kích thích mạnh chẳng những không gây ra phản ứng hưng phấn mạnh mà trái lại làm cho hoạt động thần kinh chuyển sang trạng thái ức chế, nên có tác dụng giảm đ.au.
Trong châm cứu, áp dụng thủ thuật "bổ" (kích thích nhẹ), "tả" (kích thích mạnh) tùy theo trạng thái của người bệnh và tác nhân gây bệnh để điều trị hiệu quả hoặc nhằm mục đích giảm đ.au.
* Về cơ chế thần kinh-thể dịch-nội tiết:
Các chất peptide opioid nội sinh (EOPs) được xem là có vai trò chính yếu trong tác dụng giảm đa.u. Thời gian 15-20 phút cho châm cứu là cần thiết cho sự tham gia của các chất hoá học để tạo ra được tác dụng giảm đ.au. Nghiên cứu cho thấy điện châm với tần số (2Hz), kích thích giải phóng enkephelin, beta-endorphin, endomorphin.
Châm cứu còn kích thích tuyến yên tiết ra các hormon làm tăng hoạt động tuyến thượng thận bài tiết corticosteroid giúp giảm đau, giảm stress,...
Vận dụng phản ứng toàn thân, thường sử dụng các huyệt xa vùng/ tạng phủ thương tổn, thuộc/ không thuộc tiết đoạn thần kinh liên quan (như các huyệt đặc hiệu, huyệt Tổng, huyệt Hội, huyệt Ngũ du, huyệt Nguyên, Bát mạch giao hội huyệt,...), hoặc kỹ thuật "bổ" "tả" để điều trị hoặc tăng cường hiệu quả điều trị.
2. Cấy chỉ:
Cấy chỉ là phương pháp châm cứu kết hợp YHCT và YH hiện đại, được tiến hành bằng cách dùng một loại protein tự tiêu (chỉ catgut ngày xưa) vùi vào trong Huyệt để phòng và chữa bệnh. Trong quá trình tự tiêu chỉ luôn tạo ra kích thích lên huyệt, phát huy tác dụng chữa bệnh của huyệt đó.
So với châm cứu kinh điển cấy chỉ có những ưu điểm là tiện lợi, tiết kiệm thời gian hơn, chỉ được cấy vào huyệt sẽ liên tục tạo ra kích thích. Do đó, cấy chỉ hiện nay được sử dụng là phương pháp điều trị nhiều trên lâm sàng và thực tiễn.
3. Xoa bóp trị liệu:
Xoa bóp trị liệu là phương pháp điều trị bằng xử dụng lực tác động từ bàn tay của người thầy thuốc lên cơ thể người bệnh, làm thay đổi cấu trúc của da, cơ, khớp, mạch máu và hệ thống bạch huyết của người bệnh. Theo Y học cổ truyền, xoa bóp giúp đả thông kinh mạch, lưu thông khí huyết, điều chỉnh lại cấu trúc của vùng đau, từ đó đạt đến hiệu quả giảm đau, ngăn ngừa tái phát.
4. Bó thuốc/ chườm nóng:
Bó thuốc là phương pháp sử dụng túi thuốc được làm nóng chườm vào vùng đau, mục đích ngoài tác dụng nhiệt làm giảm đau mỏi, co thắt, hơi thuốc từ túi thuốc làm trừ đi các yếu tố tà khí, ứ trệ tại vùng đau, kích thích tuần hoàn, qua đó giảm đau.
5. Dưỡng sinh tập luyện:
• Dưỡng sinh tập luyện là giải pháp tối ưu nhất trong ngăn ngừa sự tái phát của cơn đau mỏi vai gáy. Tập dưỡng sinh hằng ngày ngoài cải thiện tình trạng sức khoẻ tổng quát của cơ thể, còn tập thói quen tư thế đúng, điều chỉnh lại các mất cân bằng của hệ cơ xương khớp gây ra do tư thế sai, đồng thời tăng tính dẻo dai của cơ, dây chằng và mô liên kết vùng cổ vai, từ đó tăng tính đề kháng đối với những yếu tố gây đau mỏi vai gáy thường gặp.
6. Các bài thuốc y học cổ truyền
• Đối với tình trạng đau mỏi cổ vai gáy diễn ra lâu năm, hoặc do tuổi tác, các bài thuốc y học cổ truyền đảm bảo đầy đủ tính “bổ” “tả”, giúp tăng cường sức khoẻ miễn dịch và làm chậm quá trình lão hoá của hệ xương khớp, đồng thời xử lý các yếu tố cấp tính (do phong, hàn,…) gây đau vai gáy, từ đó đảm bảo kết quả điều trị được lâu dài, hiệu quả.
7. Giác hơi:
Giác hơi là một phương pháp điều trị cổ xưa đã được sử dụng để phòng và chữa một số chứng bệnh thông qua dụng cụ là ống giác, thường được làm bằng các chất liệu như: tre trúc, sành sứ, thủy tinh.
Có nhiều loại giác, tuy nhiên giác khô và giác ướt là hai loại chính.
8. Chích lể:
Chích (còn gọi là Trích) là dùng kim tam lăng hoặc kim hào châm đâm nhẹ vào huyệt hoặc chỗ đậm nhất của vùng da ứ đọng huyết hoặc vùng đọng huyết (nơi có máu độc ứ đọng), khi rút kim – m.áu tự vọt chảy ra ngoài.
Lể (còn gọi là Nhể) là véo da lên, dùng kim châm nhẹ vào đúng điểm tụ huyết hoặc xuất huyết, máu không tự chảy ra mà phải dùng tay nặn cho m.áu ra.
Đây là phương pháp trực tiếp loại bỏ các chất độc và má.u độc ra khỏi cơ thể để khai thông các kinh mạch, giúp cho khí huyết được điều hòa. Tuy nhiên cần cẩn trọng tránh nhiễm khuẩn, những người có vấn đề về m.áu, tâm lý,…
👉Lưu ý quan trọng:
- Bài viết mang tính chất tham khảo, vui lòng không tự chẩn đoán - tự điều trị bệnh. Cần thăm khám và điều trị bởi các chuyên khoa.
- Sau khi thăm khám cụ thể, tùy vào tình hình thực tế, tình trạng người bệnh mà người điều trị sẽ cho phác đồ phù hợp (cá nhân hóa cho từng người bệnh), có thể có hoặc không kết hợp thêm các phương pháp Vật lý trị liệu/ Phục hồi chức năng (Đông – Tây y kết hợp) để đạt hiệu quả hơn!
✅Bài viết hơi dài, mang tính học thuật nhiều, nếu đọc có chỗ nào không hiểu, mọi người cứ comment, nhắn tin Thủy sẽ giải thích thêm ạ.
Cám ơn cả nhà đã chịu khó đọc bài đến đây. Xin cảm ơn tất cả những ủng hộ của cả nhà!!!
Chúc cả nhà luôn An - Khỏe!🍀