27/06/2022
Chủ đề: Y HỌC SINH SẢN ĐẠI CƯƠNG
Bài viết được dịch bởi Bs Lê Giang dựa trên "Speroff’s Clinical gynecologic Endocrinology and infertility, 8th Edition" .
Rất mong những ý kiến đóng góp của mọi người!
Link full text và tài liệu tham khảo ở cuối bài ạ!
PHẦN 1: TRỤC HẠ ĐỒI - TUYẾN YÊN"
I. Hạ đồi
Vùng hạ đồi có thể được coi là trung tâm điều phối của hệ thống nội tiết
Hạ đồi và tuyến yên giao tiếp được với nhau thông qua hệ tĩnh mạch cửa (portal system). Hạ đồi không chi phối trực tiếp tuyến yên mà thông qua các chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmiter)
Hạ đồi chi phối thông qua neurohormone, Neuroendocrine từ hạ đồi có tác dụng dương trên GH, TSH, ACTH, LH và FSH. Tuy nhiên prolactin thì chi phối bởi prolactin inhibiting hormone và Dopamine.
Trong hạ đồi có nền của não thất 3. Các tế bào trong hạ đồi có chứa chất dẫn truyền thần kinh và tuyến nội tiết. Neurotransmiter hay neurohormone được đóng gói ở golgi truyền qua synapse và được đưa vào trong máu.
Sự tiết GnRH
GnRH là peptide có thời gian bán huỷ là 2-4 phút. Do đó GnRH không thể thoát ra khỏi hệ tĩnh mạch cửa (ở não). Tuỳ vào sự phối hợp giữa các nhóm hormone mà feedback âm hay dương có thể xảy ra. GnRH được tiết theo dạng xung, cũng như LH, FSH và các steroid buồng trứng. Tỉ lệ giữa nồng độ LH và FSH được tiết ra dựa trên tần số và biên độ của GnRH. Đồng thời các xung steroid buồng trứng cũng ảnh hưởng tới xung của GnRH. Nếu không có steroid buồng trứng thì nhịp GnRH là 1 nhịp /giờ.
Xung GnRH
Xung GnRH khá tương đồng với LH do thời gian bán huỷ của LH (20 phút ) thấp hơn FSH rất nhiều (3 - 6 giờ) từ đó dựa vào xung LH để phán đoán xung của GnRH, đặc tính xung GnRH:
- Giai đoạn follicular: tần số cao, biên độ thấp
- Giữa chu kì: tần số và biên độ tăng
- Giai đoạn hoàng thể: tần số giảm và biên độ tăng.
Với tần số và biên độ ở giai đoạn hoàng thể thì FSH được tăng tổng hợp dự trữ và phóng thích lượng ít. Do đó nguồn dự tữ FSH được tái tạo cho chu kì sau(51). Tuy nhiên sự thay đổi giữa biên độ của GnRH là thấp nên sự thay đổi tần số mới là yếu tố quyết định. Trong giai đoạn chuyển tiếp sang pha hoàng thể thì tần số tăng 4.5 lần (50).
Chi phối xung GnRH: 4 thành phần chính:
- Đường dẫn truyền dopamine
- Đường dẫn norepinephrine
- Neuropeptide Y
- Kisseptin
Dẫn truyền dopamine
Dopamine không ảnh hưởng trực tiếp tới thuỳ trước tuyến yên mà thông qua điều phối GnRH. Dopamine đc tiết vào tĩnh mạch cửa do đó nó như 1 neuralhormone. Dopamine ức chế trực tiếp nhân cung và phần tiết prolactin của tuyến yên —> dopamine ức chế tiết GnRH và prolactin
Dẫn truyền norepinephrine
Catecholamine chi phối xung GnRH. NE kích thích tiết GnRH. Dopamine và serotonin (serotonin là tiền chất của NE) ức chế GnRH ( tất cả chi phối chính là tần số ).
Neuropeptide Y
Được chi phối bởi leptin và insuline. Tiết ra rất nhiều khi thiếu dinh dưỡng. NY được tiết ra ở hạ đồi và bị chi phối bởi hormone sinh dục. NY kích thích vị giác và xung GnRH. Ở tuyến yên thì tăng nhạy với GnRH. Nếu thiếu estrogen thì NY ức chế tiết gonadotropin. NY là sự kết nối giữa dinh dưỡng và sinh sản
Kisseptin.
Được tiết bởi 2 nhóm chính là nhân cung ( ARC ) và phần quanh não thất 3 ( RP3V ). Kisseptin hoạt hoá và kích thích GnRH neuron thông qua Kiss-1 receptor dẫn tới tăng xung và cường độ tiết GnRH. Hormone sinh dục kích thích RP3V nhưng ức chế ARC dẫn tới cơ chế điều hoà âm và dương. ARC được coi là yếu tố chính điều hoà về xung nhịp của GnRH .
Điều hoà âm và dương phụ thuộc sự phối hợp giữa ER A ở RP3V và ARC. Trong đó estrogen tác động qua gene tại RP3V là histone acetylation (hoạt hoá) ARC là deacetylation ( bất hoạt ) [ Tomikawa et al. 2012 ] . Tuy nhiên ở chuột tại ARC không có ER A thì sử dụng estrogen dẫn tới LH vẫn bị ức chế [ Dubois et al. 2015 ] —> LH được chi phối bởi nhiều yếu tố không chỉ có ức chế đơn thuần của kisseptin.
II. Tuyến yên
LH, FSH giống nhau ở chuỗi alpha và khác ở beta. LH và FSH đều được sản xuất bởi gonadotrope ở tuyến yên. LH và FSH được chi phối chính bởi sự điều hoà gene của chuỗi beta.
Trên tuyến yên có GnRH receptor là nhóm G couple protein ( GnRHR ). Sự điều hoà GnRHR phụ thuộc GnRH, inhibin, activin và hormone sinh dục. Xung GnRH cũng quyết định số lượng GnRHR. Nếu xung GnRH ngắn và nhiều sẽ dẫn tới tăng số lượng GnRHR còn GnRH trong thời gian dài thì sẽ giảm số lượng GnRHR.
Sự tổng hợp LH, FSH ở RER ( rough endoplasmic reticulum ) được chuyên qua golgi và đưa vào các hạt chế tiết. Sự bám của GnRH gây nên 2 cơ chế chính:
- Thứ nhất gonadotropin được tiết ngay lập tức từ các hạt chế tiết.
- Thứ 2 là tăng tổng hợp các gonadotropin để chuẩn bị cho lần chế tiết tiếp theo và tăng số lượng các GnRHR để đáp ứng cho lần kích thích tiếp theo. Điều này quan trọng bởi số lượng GnRHR cần rất nhiều để kích thích đỉnh LH giữa chu kì. Estrogen cũng cần thiết để tạo nên PR ( progesterone receptor ) ở tuyến yên. Với nồng độ thấp của progesterone thì có tác dụng kích thích tiết LH mạnh ở tuyến yên.
Activin, inhibin, follisatin là TGF beta family
Activin, inhibin tiết ra từ tế bào hạt.
Activin tăng tiết FSH và ức chế prolactin, ACTH và GH. Activin tăng số lượng GnRHR. Activin bị ức chế bởi inhibin và follistatin.
Inhibin ức chế tiết FSH nhưng không ức chế LH. Inhibin có thể tăng họat động LH . Tế bào đang tổng hợp LH dưới tác động của inhibin sẽ tăng số thụ thể GnRH và FSH bị ức chế.
Sự ức chế FSH có thể là do ức chế không cạnh tranh giữa activin và inhibin. Follistatin tiết bởi nhiều tế bào của tuyến yên bao gồm cả gonadotropes.
Follistatin bám vào activin và giảm tổng hợp cũng như bài tiết FSH.
Activin làm tăng tiết follistatin tuy nhiên inhibin ức chế quá trình này.
III. Liên quan giữa não và phóng noãn
Có 2 nhóm phản hồi là phản hồi âm và dương. Trong đó phản hồi âm là phản hồi của estradiol với FSH và LH tại tuyến yên. Phản hồi dương là của estradiol với LH tại tuyến yên. Trong đó hạ đồi không thuộc cơ chế chính mà chỉ ở vai trò hỗ trợ. Khi tách bỏ hạ đồi khỏi chu trình tuyến yên buồng trứng nhưng vẫn cung cấp xung GnRH cho tuyến yên thì khi estradiol được đưa vào thì xảy ra cả 2 cơ chế feedback âm và dương với LH. Từ đó chức năng của GnRH được xác định: dự trữ, kích hoạt chế tiết và tổng hợp gonadotropin. Trong đó estrogen đóng vai trò tăng dự trữ FSH và LH nhưng ức chế chế tiết FSH và LH.
Liên quan tới chu kì. Khi ở đầu chu kì estrogen thấp thì dự trữ và chế tiết đều thấp. Nhưng khi estrogen tăng lên thì lượng dự trữ tăng dần và chế tiết thay đổi rất ít. Nhưng khi estrogen tăng lên 1 lượng lớn thì có tác dụng dương lên sự tích trữ gonadotropin. Tuy nhiên lại ngăn chặn sự chế tiết trực tiếp của tuyến yên do đó ngăn chặn sự chế tiết gonadotropine sớm của GnRH. Khi estrogen tăng cũng gây ảnh hưởng tới sự tăng GnRH receptor tại tuyến yên. Khi estrogen tác động lên tuyến yên 1 lượng lớn estrogen trong thời gian đủ lâu thì xảy ra phản hồi dương với LH do chuyển từ ức chế sang kích thích.
Phản hồi âm của estrogen tại tuyến yên là giảm sản xuất activin thông qua gen. E2 trực tiếp ức chế phiên mã nhóm gen để tạo ra chuỗi beta FSH. ER A và B đều có ở hạ đồi và tham gia về sự thay đổi có chu kì của GnRH. E2 luôn chi phối GnRH. Xung GnRH nhanh hơn hay chậm hơn đều gây giảm GnRH receptor
Progesterone nồng độ thấp và estrogen cao cộng với xung GnRH tạo nên đỉnh LH và FSH ở giữa chu kì. Chất lượng và khả năng sinh học của FSH và LH ở giai đoạn này có chất lượng cao hơn. Sự tăng đỉnh FSH dẫn tới giúp tăng lượng LH receptor ở tế bào hạt giúp cho quá trình hoàng thể hoá sau này. Progesterone tác động lên tuyến yên và hạ đồi. Làm tăng FSH ở pha hoàng thể thông qua xung GnRH. Progesterone nồng độ cao ngăn cản estrogen tác động dương lên tuyến yên dưới sự tác động của GnRH.
LINK FULL TEXT:
https://drive.google.com/file/d/1cV8-do8ze2mG5SP94qf7o3EPy4mLFuuM/view?usp=sharing