Hiệu thuốc Đông y gia truyền - Lang Ánh

Hiệu thuốc Đông y gia truyền - Lang Ánh Gia truyền Chăm sóc sức khỏe

Can Khương (Gừng khô)Can Khương và Sinh Khương (gừng tươi) đã học trong nhóm thuốc giải biểu đều có nguồn gốc từ cùng mộ...
20/11/2025

Can Khương (Gừng khô)

Can Khương và Sinh Khương (gừng tươi) đã học trong nhóm thuốc giải biểu đều có nguồn gốc từ cùng một loài thực vật, và cùng là bộ phận rễ củ. Tuy nhiên, tôi đã đề cập rằng không phải Sinh Khương phơi khô thì thành Can Khương.

Từ thời Đào Hoằng Cảnh đã cho rằng Sinh Khương phơi khô không phải là Can Khương. Ông nói: "Gừng tốt nhưng không thể làm thành Can Khương." Lý Thời Trân cũng liệt kê gừng tươi phơi khô cùng với Sinh Khương và Can Khương là ba loại thuốc khác nhau.
Nguyên nhân là Can Khương và Sinh Khương là sản phẩm của cùng một loài thực vật nhưng được trồng trọt khác nhau, việc quản lý đồng ruộng có sự khác biệt rõ rệt.

* Sinh Khương: Trong quá trình trồng trọt, phải liên tục bồi đất, che lấp rễ củ. Do có tính hướng quang (muốn thấy ánh sáng), khi bị bồi đất, thân rễ sẽ gắng sức mọc dài ra. Nó được dùng làm rau, ít xơ, non và giòn.

* Can Khương: Trong quá trình trồng trọt không bồi đất, thân rễ được để lộ trực tiếp trên mặt đất. Nó đã thấy ánh sáng, nên không gắng sức mọc dài ra mà dồn sức cho các thành phần bên trong tích lũy.

* Sự khác biệt về vật lý: Sinh Khương do mọc nhanh nên thành phần bên trong tích lũy không đủ, phơi khô thì rất nhẹ, bề mặt nhăn nheo, không thể dùng làm Can Khương. Can Khương vì thành phần bên trong rất phong phú, phơi khô về cơ bản không nhăn nheo nhiều, thể tích không giảm bao nhiêu, chất thuốc rất nặng và chắc.

Nghiên cứu hiện đại phát hiện: Thành phần hóa học của Sinh Khương và Can Khương không hoàn toàn giống nhau, đặc biệt là tỷ lệ của một số thành phần giống nhau cũng có sự khác biệt. Điều này cho thấy trong Đông y, việc Sinh Khương và Can Khương được sử dụng như hai vị thuốc khác nhau không chỉ đơn thuần là có hay không có nước.

Công dụng của Can Khương:

Can Khương là thuốc Ôn Lý (làm ấm bên trong).

1. Ôn trung tán hàn (Làm ấm trung tiêu, tán hàn):
* Đặc điểm: Sách ghi công dụng là Ôn trung tán hàn, không nhấn mạnh chỉ thống (giảm đau), không như Phụ Tử. Do Can Khương không nổi trội về tác dụng giảm đau, nên nó gọi đơn giản là Ôn trung (làm ấm trung tiêu).

* Phạm vi: Tác dụng chủ yếu là ở Trung tiêu (Tỳ Vị). Bất cứ trường hợp Tỳ Vị có hàn (dù hàn thực hay hư hàn), biểu hiện là đau, đầy trướng, ăn kém, tiêu chảy, buồn nôn, nôn mửa, đều có thể dùng.

* Lưu ý: Cần phối hợp thích hợp với các thuốc chỉ ẩu (chống nôn) hoặc giảm đau mạnh hơn. Ôn trung chỉ giới hạn ở trung tiêu (tỳ vị), phân biệt với Ôn Lý (phạm vi rộng hơn).

2. Hồi dương thông mạch (Hồi phục dương khí, làm thông mạch):
* Tên gọi: Cũng có thể gọi là Hồi dương. Không sách nào nói công dụng của Can Khương là Hồi dương cứu nghịch, nhưng Phụ Tử thì có.
* Phân biệt với Phụ Tử: Chứng thoát dương có hai triệu chứng chính, một là tứ chi lạnh buốt do Thận dương suy bại. Can Khương không tác động vào kinh Thận, nên không nhằm vào triệu chứng tứ chi lạnh buốt, vì vậy không gọi là Hồi dương cứu nghịch.
* Cơ chế tác động: Can Khương chủ yếu quy kinh Tâm (Tim), có thể chấn phấn Tâm dương. Nó chủ yếu cải thiện triệu chứng mạch nhỏ sắp ngừng, nên gọi là Hồi dương thông mạch.
* Vị thế: Trong điều trị thoát dương, Can Khương chỉ là thuốc phụ trợ cho Phụ Tử.

3. Ôn Phế hóa ẩm (Làm ấm phổi, hóa đàm ẩm):
* Phạm vi: Dùng trị ho suyễn do hàn ẩm (đàm ẩm do lạnh) ở Phế, tương tự như Sinh Khương, nhưng tính ôn mạnh hơn Sinh Khương.
So sánh với Sinh Khương:
* Tương đồng:
* Cả hai đều Ôn trung, nhưng Can Khương mạnh hơn Sinh Khương.
* Cả hai đều Ôn Phế hóa ẩm, nhưng Can Khương mạnh hơn Sinh Khương.
* Khác biệt:
* Sinh Khương có thể phát tán phong hàn, thường dùng trị biểu chứng phong hàn.
* Can Khương có thể hồi dương thông mạch, thường dùng làm thuốc phụ trợ trị thoát dương chứng.
Sự so sánh giữa Sinh Khương và Can Khương rất dễ dàng, nội dung cũng tương đối đơn giản.
ST

KHÍ HƯ: Sự khác biệt rõ rệt giữa người khí đủ và kẻ khí hưTrên lâm sàng, tôi thường xuyên gặp các bệnh nhân với những bi...
16/11/2025

KHÍ HƯ: Sự khác biệt rõ rệt giữa người khí đủ và kẻ khí hư

Trên lâm sàng, tôi thường xuyên gặp các bệnh nhân với những biểu hiện điển hình của chứng khí hư. Nhìn chung, họ thường có sắc mặt kém tươi sáng, thiếu sức sống, thể lực yếu và dễ rơi vào trạng thái tinh thần mệt mỏi, uể oải. Các triệu chứng phổ biến khác bao gồm sợ lạnh, sợ gió, dễ bị cảm, mỗi khi ăn vào dễ cảm thấy đầy bụng, và đại tiện phân không thành khuôn. Một đặc điểm rất dễ nhận biết nữa ở người khí hư chính là lưỡi của họ thường to và dày hơn bình thường.

Qua thực tế khám chữa, tôi nhận thấy có không ít bệnh nhân đến khám sở hữu những loại lưỡi đặc trưng cho tình trạng này.

Cụ thể, có ba dấu hiệu lưỡi điển hình mà tôi hay gặp nhất:

1. Rìa lưỡi có vết hằn răng: Người thể chất khí hư thường có vết hằn răng ở hai bên rìa lưỡi. Nguyên nhân là do người khí hư dễ tích tụ thấp khí trong người mà không thể đào thải ra ngoài, lâu ngày sẽ dẫn đến sưng phù các cơ quan nội tạng và da. Nếu lớp rêu lưỡi phủ kín toàn bộ bề mặt lưỡi, không hề lộ ra chất lưỡi bên dưới, điều này cho thấy thấp khí (hơi ẩm) trong cơ thể rất nặng. Lớp rêu lưỡi ngày càng dày chứng tỏ thấp khí trong cơ thể ngày càng nhiều. Nếu lưỡi có hình tròn, to bè và có hằn răng, thường khi thè lưỡi ra sẽ thấy hai đường rãnh nước bọt hai bên, điều này cho thấy thấp khí trong cơ thể rất nặng.

2. Giữa lưỡi có vết nứt: Nếu vết răng ở mép lưỡi không rõ ràng, nhưng vết nứt ở chính giữa lưỡi lại rất rõ (thực ra mỗi người đều có một đường rãnh nhẹ ở giữa lưỡi, nhưng ở người bình thường thì đường rãnh này không rõ), thậm chí phân nhánh thành nhiều vết nứt khác nhau, điều này cho thấy chức năng tỳ vị (hệ tiêu hóa) của bạn kém, khí tỳ vị không đủ, không có khả năng làm nổi lớp rêu lưỡi để lấp đầy rãnh giữa lưỡi, vì vậy sẽ xuất hiện các vết nứt rõ rệt.

3. Không có lớp rêu lưỡi: Nếu trên bề mặt lưỡi không có lớp rêu, hoặc lớp rêu cực kỳ mỏng, toàn bộ lưỡi trông trắng bệch, điều này cho thấy thể chất của bạn kém, chính khí hư suy, đặc biệt là khí tỳ vị không đủ. Người có biểu hiện lưỡi như vậy có thể đã mắc bệnh nặng, ảnh hưởng đến tỳ vị, khiến rêu lưỡi bị b**g tróc. Với những người này, việc đầu tiên là điều hòa tỳ vị, chỉ khi khí tỳ vị đầy đủ thì cơ thể mới có cơ hội phục hồi. Biểu hiện lưỡi này cũng có thể do chế độ ăn uống không hợp lý hàng ngày làm tổn thương tỳ vị.

Nếu bạn có những vấn đề này thì hãy kịp thời điều chỉnh.

Bs Mười

PHÂN BIỆT GAN THẬN TÂY Y & CAN THẬN ĐÔNG YĐừng vội “thải độc gan” hay “bổ thận” khi chưa hiểu đúng. Can ≠ Gan, Thận Đông...
13/11/2025

PHÂN BIỆT GAN THẬN TÂY Y & CAN THẬN ĐÔNG Y

Đừng vội “thải độc gan” hay “bổ thận” khi chưa hiểu đúng. Can ≠ Gan, Thận Đông y ≠ Thận Tây y. Nhầm lẫn dễ dẫn đến dùng thuốc sai và tự hại cơ thể.



1. CAN ≠ GAN – Thận Đông y ≠ Thận Tây y

• Gan Tây y: cơ quan sinh học, đo bằng AST, ALT, GGT, bilirubin, siêu âm.
• Can Đông y: hệ thống khí huyết – sơ tiết – cảm xúc; liên quan mắt, gân, móng, khí cơ toàn thân.
• Thận Tây y: cơ quan lọc máu, đo creatinin, ure, eGFR, protein niệu.
• Thận Đông y: hệ tinh – khí – âm – dương; liên quan xương, tủy, não, sinh lực, tai, tóc.

• Khác biệt cốt lõi: Tây y đo tổn thương cơ quan, Đông y đo tính chất khí hoá. Hai hệ thống không thể lấy chỉ số của nhau để đánh giá.



2. Thải độc Can theo Đông y – phải đúng loại độc

• Can nhiệt: miệng đắng, mắt đỏ, cáu gắt → dùng mát Can: diệp hạ châu, cà g*i leo, rau má, linh chi, atiso…
• Can hàn: lạnh bụng, ăn kém, uể oải → dùng ấm Can: gừng, quế, sả…
• Can phong – uất: đau đầu, chóng mặt, căng thẳng → dùng tía tô, kinh giới…
• Can đàm thấp: đầy bụng, nặng đầu, rêu nhớt →
– đàm thấp hàn: giảo cổ lam, vỏ quýt, táo mèo…
– đàm thấp nhiệt: nhân trần, rau má, củ khúc khắc…

• Lưu ý: Men gan cao/bình thường không xác định được Can hàn hay nhiệt.



3. Bổ thận theo Đông y – phải đúng thể hư

• Thận âm hư: lòng bàn tay/chân nóng, triều nhiệt, khô miệng → bổ âm.
• Thận dương hư: lạnh lưng – lạnh chân, tiểu đêm, phù → ôn dương.
• Thận tinh hư: ù tai, tóc rụng, yếu sinh lý → bổ tinh – ích tủy.
• Thận khí hư: mệt, khó thở, tiểu nhiều → bổ khí.
• Thận không thu liễm: hoạt tinh, di tinh, mồ hôi nhiều → cố sáp.

• Lưu ý: Creatinin, ure, eGFR không thể đo âm hư hay dương hư.



4. Nhiều khi không cần “bổ thận”, chỉ cần đừng làm hại thận

• Tránh hàn thấp (nang thận, tích nước).
• Tránh thấp nhiệt (sỏi thận, viêm cầu thận).
• Không nhổ nước bọt bừa bãi (hao tân dịch).
• Không quan hệ quá độ (hao tinh).
• Không bồi bổ quá mức, không lạm dụng rượu – kích thích.
• Không lao động kiệt sức, không ăn uống kham khổ.
• Không uống quá ít hoặc quá nhiều nước.
• Không nằm nền lạnh, giữ ấm khi trời lạnh.
• Kiểm soát huyết áp – đường – gout – mỡ máu.
• Ngủ đủ, làm việc – nghỉ ngơi hợp lý để thận nạp khí.



5. Kết luận

• Gan Tây y ≠ Can Đông y; Thận Tây y ≠ Thận Đông y.
• Thuốc Tây y tác động vào cơ quan, thuốc Đông y điều chỉnh khí – huyết – âm – dương – tinh – tạng phủ.
• Thải độc Can hay bổ thận phải dựa vào thể bệnh Đông y, không dựa vào chỉ số Tây y.
• Hiểu đúng – dùng đúng – mới an toàn và hiệu quả.

(Thầy Rùa Đông Y)
Chuyên cao ban long & cổ phương

NẤU SIRO HO THẢO DƯỢC Vào thu rồi, mấy bệnh hô hấp bắt đầu hoàn hành. Đây là mấy bệnh phổ biến, hay thường gặp kể cả ngư...
04/11/2025

NẤU SIRO HO THẢO DƯỢC

Vào thu rồi, mấy bệnh hô hấp bắt đầu hoàn hành.
Đây là mấy bệnh phổ biến, hay thường gặp kể cả người lớn đến trẻ nhỏ.

Thành phần: chủ yếu là các loại thảo dược quanh nhà, ngoài chợ đều có, các mẹ có thể tùy chỉnh cho phù hợp với mục đích của mình. Thường là: Húng chanh, quất, gừng, hoa đu đủ, lá hẹ,.....

Còn của em thì em chọn những vị thiên về cảm cúm, sổ mũi, ho, đau rát họng, cảm lạnh, đờm,... Nên em dùng: Cam Thảo, cát cánh, gừng, cúc hoa, lê, bạch chỉ, quất, tía tô, đường phèn kết tinh tự nhiên từ mật mía....

Các mẹ rửa sạch các loại thảo dược, cắt lát mỏng hoặc cắt khúc, đổ nước vào nấu sôi kỹ, sôi liu riu, chắt nước cốt ra riêng, nấu lại cho đến khi vừa ý. Sau đó lấy nước cốt đậm đặc đó nấu riêng với đường phèn, cho đến khi thành siro có độ sánh nhẹ là được.

Nên nấu nước cốt thuốc thảo dược trước, sau cùng nấu cùng đường phèn thì sẽ vừa tiết kiệm được đường, vừa lọc nước cốt dễ dàng tiện lợi, bảo quản được lâu hơn.

Khi dùng nên pha với nước ấm cho con uống sẽ tăng thêm công hiệu đấy các mẹ ạ.
Nguồn : Lê Năm

02/11/2025

HÀN VÀ TRỤC HÀN – ĐỪNG ĐƠN GIẢN HÓA MỘT VẤN ĐỀ PHỨC TẠP

Hai chữ "hàn" và "trục hàn" đang trở nên rất quen thuộc trên các nền tảng mạng xã hội và trong các hội nhóm chữa lành hiện nay. Điều đó phần nào cho thấy số lượng người bị ảnh hưởng bởi hàn khí đang rất lớn. Các phương pháp trị liệu, sản phẩm, bài viết hướng dẫn trục hàn mọc lên như nấm. Nhưng càng nhìn sâu, người ta lại thấy rằng: dù nói nhiều, viết nhiều, nhưng hiểu đúng về hàn – thì vẫn còn quá ít.

Nhiều người nghĩ mình bị hàn – nhưng lại không hiểu mình đang bị gì

Chỉ cần cảm thấy tay chân lạnh, người nhức mỏi, bụng hay tiêu chảy, sợ gió, sợ lạnh… là nhiều người vội kết luận: mình bị hàn rồi. Rồi bắt đầu tìm cách trục hàn. Nào là đánh gừng, xông hơi, ngâm chân, cạo gió, giác hơi, uống gừng, uống quế… Thậm chí, sau khi giác hơi thấy da đen sì lại càng khẳng định chắc nịch: “Hàn nặng lắm rồi!”

Không sai – nhưng cũng không đúng trọn vẹn.

Vấn đề nằm ở chỗ: mọi người nghĩ hàn đơn giản chỉ là “lạnh” – và chỉ cần “trục ra” là xong. Nghĩ rằng các phương pháp xông – đánh – uống – cạo – giác không gây tổn hại gì. Nhưng thực tế, cơ thể không phải cái túi để muốn lấy gì ra là lấy. Hàn không nằm lộ thiên như một cái mụn, muốn lấy là nặn. Hàn cũng không phải cái gió lạnh lùa vào rồi có thể “đuổi ra” mà không ảnh hưởng gì đến khí huyết, dương khí, hoặc tổn hao bên trong.

Trước khi trục hàn – cần biết hàn ở đâu, kiểu gì và tại sao xuất hiện
Muốn xử lý đúng, bạn cần trả lời các câu hỏi:
- Hàn nằm ở bên ngoài da thịt hay đã vào sâu bên trong tạng phủ?
- Là hàn do gió lạnh xâm nhập hay hàn do cơ thể yếu, tiêu hóa kém?
- Cơ thể bạn còn đủ khí huyết để trục hàn không?
- Nếu vừa có vùng hàn vừa có vùng nhiệt thì có nên uống gừng không?
- Trục hàn bao lâu? Có thể trục thường xuyên không?
Thử tưởng tượng một người đang mất máu, thân thể yếu mà cứ xông – cứ đánh – cứ giác liên tục thì chẳng khác nào “đào đất rút nước”. Có người còn giác hơi ngoài biển gió lộng, hoặc uống rượu gừng quanh năm bất kể tình trạng khí huyết – hậu quả là cơ thể bị tổn thương, dương khí càng hao hụt, tạng phủ càng suy yếu.

Hiểu sai – hành sai – và hậu quả là: tưởng trục hàn, ai ngờ rút cả nguyên khí.

Hàn có mấy loại? Phân biệt để trị đúng

Nếu phân loại theo nguyên nhân, thì có hai loại hàn chính:

- Thứ nhất là ngoại hàn – tức hàn do các yếu tố bên ngoài xâm nhập, như gió lạnh, ẩm thấp, môi trường thay đổi. Gió lạnh (phong hàn) đi vào qua da, lỗ chân lông, làm cơ thể đau nhức, cảm lạnh, sụt sịt.

- Thứ hai là nội hàn – tức hàn sinh ra từ bên trong cơ thể do chức năng tạng phủ yếu, đặc biệt là tỳ và thận. Nguyên nhân phổ biến là ăn đồ lạnh, uống nước đá, hệ tiêu hóa kém hấp thu, dương khí không đủ.

Nếu phân loại theo vị trí, cũng chia ra làm hàn ở biểu (bên ngoài) và hàn ở lý (bên trong). Hàn ở biểu thường gặp khi mới nhiễm phong hàn – đau đầu, mỏi vai, đau gáy, cảm lạnh. Hàn ở lý thì sâu hơn, ảnh hưởng đến phủ tạng như gan, tỳ, phế, thận, tim.

Thực tế, ngoại hàn không được xử lý kịp thời có thể tiến vào lý, gây nội hàn. Và nội hàn kéo dài sẽ khiến vệ khí yếu, khiến bạn dễ dàng tái nhiễm ngoại tà. Đây chính là vòng xoáy hàn – yếu – lại hàn – lại yếu mà rất nhiều người đang mắc phải.

Nguyên nhân phổ biến khiến người hiện đại dễ bị hàn

- Thứ nhất là do môi trường sống hiện đại – làm việc máy lạnh, tắm đêm, mặc phong phanh, ngủ quạt trực tiếp. Đó là những con đường phong hàn dễ xâm nhập nhất.

- Thứ hai là do ăn uống sai lầm – ăn đồ lạnh quanh năm, uống nước đá, trái cây “mát”, dùng các món sống như sashimi, rau sống, kem, trà sữa… mà không cân bằng với dương ấm. Khi tỳ vị bị tổn thương, tiêu hóa kém thì hàn sẽ tụ lại từ từ bên trong.

Rất nhiều người bị cả hai – vừa ngoại hàn vừa nội hàn. Và điều đáng lo nhất là khí huyết đã yếu mà còn trục hàn sai cách thì càng làm cơ thể suy kiệt.

Trị hàn – phải phân rõ rồi mới hành động

- Nếu bị hàn do nhiễm lạnh bên ngoài, thì các phương pháp như xông hơi, đánh cảm, giác hơi, ngâm chân, uống thuốc giải biểu là hợp lý. Nhưng phải dùng đúng lúc – khi mới cảm lạnh, đau nhức cấp, sổ mũi, nhức vai gáy, rùng mình… Và đặc biệt, không nên xông – giác – đánh gừng quá thường xuyên, vì có thể làm hao dương, tổn khí.

- Nếu bị nội hàn do phủ tạng suy yếu, thì việc quan trọng là ôn bổ – tức làm ấm lại và tăng cường chức năng cho từng tạng phủ đang bị tổn thương. Hàn ở thận khác với hàn ở tỳ, khác với hàn ở phổi. Vì thế không thể dùng một bài thuốc, một cách đánh gừng cho tất cả mọi trường hợp. Muốn chữa đúng – phải xác định đúng tạng bị ảnh hưởng.

Khi tỳ bị hàn, người sẽ dễ tiêu chảy, ăn không tiêu, người mệt, chân tay yếu, ngủ hay chảy nước miếng. Vị hàn thì bụng đầy, trào ngược, ợ hơi lạnh. Gan hàn khiến khí huyết trì trệ, đau xương khớp, dễ nhút nhát, yếu sinh lý. Phổi hàn thì ho đờm trong, khó đại tiện, mệt mỏi. Tâm hàn gây hồi hộp, tức ngực, toát mồ hôi lạnh. Thận hàn khiến lưng đau, lạnh người, tiểu đêm nhiều, sinh lý giảm, phù nhẹ...

Gốc rễ của hàn: khí huyết suy + dương khí kém

Một nguyên tắc quan trọng trong chữa hàn: nơi nào thiếu khí huyết – nơi đó sinh hàn.

Hàn không phải là vật chất cụ thể mà là trạng thái. Hàn xuất hiện khi dương khí không đủ để làm ấm, khi khí huyết yếu không nuôi dưỡng được cơ thể. Vì thế, bất kỳ phương pháp nào “trục hàn” mà không quan tâm đến khí huyết thì sớm muộn cũng gây tổn hại.

Uống gừng, đánh gừng, xông hơi là những cách tốt nếu dùng đúng người, đúng thời điểm. Nhưng nếu dùng cho người hư yếu, mất máu, mới ốm dậy… thì chẳng khác gì thúc ép một con ngựa gầy phải chạy đua – sớm muộn sẽ gục.

Tóm lại:

Hiểu đúng về hàn là bước đầu để bảo vệ sức khỏe. Không thể cứ thấy lạnh là trục, cứ thấy mỏi là đánh. Hàn không phải “đối thủ” đơn giản – mà là biểu hiện của sự mất cân bằng trong cơ thể, đặc biệt là sự suy giảm của khí huyết và dương khí.

Muốn trục hàn – trước tiên phải dưỡng khí, dưỡng huyết. Muốn trị tận gốc – phải hiểu được hàn đến từ đâu, từ trong hay ngoài, từ thức ăn hay thói quen sống, từ thời tiết hay từ chính sự yếu ớt kéo dài của tạng phủ.

Đừng đơn giản hóa một điều phức tạp. Trục hàn sai cách, không chỉ không hết bệnh – mà còn đẩy cơ thể xuống dốc không phanh.
Nguồn ST

THẦY THUỐC TỐT LÀ NGƯỜI BỆNH KHÔNG CẦN ĐẾN MÌNHCó người hỏi tôi: “Thầy chữa bệnh chắc quý nhất là có nhiều bệnh nhân chứ...
29/10/2025

THẦY THUỐC TỐT LÀ NGƯỜI BỆNH KHÔNG CẦN ĐẾN MÌNH

Có người hỏi tôi: “Thầy chữa bệnh chắc quý nhất là có nhiều bệnh nhân chứ gì?”
Tôi cười, lắc đầu mà rằng: “Với tôi, một thầy thuốc tốt không phải là người giữ bệnh nhân lại bên mình, mà là người giúp họ không còn cần đến mình nữa.”
Từ thuở theo nghề, tôi luôn tâm niệm: chữa bệnh là để bệnh nhân khỏe mạnh trở lại, nhưng quan trọng hơn là chỉ họ cách tự bảo vệ sức khỏe lâu dài.
Cái quý của người thầy thuốc không chỉ nằm ở bài thuốc mà ở chỗ giúp bà con hiểu bệnh, hiểu thân, hiểu tâm

Nhiều người đến với tâm thế mỏi mệt không chỉ vì bệnh mà mang nặng tâm bệnh trong lòng

Tôi luôn dành thời gian giải thích: Vì sao bà con lại bị bệnh? Thói quen nào là sai? Nên ăn gì, tránh gì, tập luyện ra sao?

Tôi luôn tin: Người thầy thuốc giỏi không phải là người giấu bí quyết trong tay áo, mà là người dám chia sẻ, dám trao cho bà con quyền hiểu, quyền chủ động chăm sóc thân thể mình.
Đó là lý do tôi hay viết bài chia sẻ cho bà con hiểu 1 phần về nguyên nhân sinh bệnh. Không phải để “làm màu” như vài người nghĩ, mà là thật lòng mong bà con có thể tự chữa lành hoặc ít nhất là phòng được bệnh.
Thầy thuốc tốt, với tôi, không phải là người khiến bà con quay lại hoài mà là người giúp bà con trở về cuộc sống thường nhật khỏe mạnh, hít thở nhẹ nhàng, ăn ngon ngủ yên mà không còn phải lệ thuộc vào ai.

Bà con nào còn thắc mắc về bệnh tình, cần hỏi han gì, tôi luôn sẵn lòng chia sẻ không chỉ là bài thuốc, mà là cách sống thuận tự nhiên, thuận đạo dưỡng sinh.
Nguồn ST

22/09/2025

🌿 ĐƯƠNG QUY BỔ HUYẾT THANG 🌿
👉 Bài thuốc kinh điển của Danh y Lý Đông Nguyên, được giảng dạy trong giáo trình YHCT, nổi bật với nguyên lý “ích khí sinh huyết”.

✨ Thành phần (tỷ lệ 6:1):
• Hoàng kỳ 30g – Đại bổ khí, nâng cao chính khí.
• Đương quy 5g – Bổ huyết, dưỡng huyết.

✨ Công dụng:
• Ích khí, sinh huyết.

✨ Chủ trị:
• Sau bệnh lâu ngày, khí huyết đều hư → sắc mặt vàng nhợt, da khô, mệt mỏi.
• Phụ nữ sau sinh thiếu máu, chóng mặt, hồi hộp.
• Người khí hư, huyết hư, sức đề kháng kém.

✨ Ý nghĩa học thuật:
• Lấy khí làm gốc, khí thịnh thì huyết tự sinh.
• Bài thuốc chỉ gồm 2 vị nhưng được xem là mẫu mực của phép bổ khí để sinh huyết, là nền tảng để phát triển nhiều phương bổ huyết khác.

📌 Lưu ý: Cần dùng theo chỉ định của thầy thuốc, có thể gia giảm thêm các vị khác tùy bệnh cảnh cụ thể.

Address

Quynh Luu
Nghia Ã?An

Telephone

0983808545

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hiệu thuốc Đông y gia truyền - Lang Ánh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Hiệu thuốc Đông y gia truyền - Lang Ánh:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram

Thuốc nam

Thuốc nam gia truyền