05/05/2026
✨BÀN VỀ TÍNH, VỊ, QUY KINH CỦA ĐÔNG DƯỢC - Phần 2 - Bàn về Quy kinh✨
Khi cơ thể xuất hiện một vấn đề thông thường đều do chức năng của một tạng phủ hay kinh lạc nào đó bị quá độ, quá nóng hoặc suy yếu, quá lạnh, từ đó dẫn đến sự mất cân bằng, sự mất hòa hợp của toàn thân.
Lý luận Quy kinh của đông dược chính là nghiên cứu tác dụng và ảnh hưởng của dược liệu lên tạng phủ, kinh lạc. Làm rõ được Quy kinh, người thầy thuốc sẽ có thể trên cơ sở biện chứng, chẩn đoán chính xác, lựa chọn dược liệu tương ứng, để đưa ra phác đồ trị liệu đúng, điều tiết cân bằng lại tạng phủ, kinh lạc, phục hồi hòa khí cho toàn cơ thể.
Như vậy mới có thể chữa lành được bệnh tật, lại không bắt người bệnh phải chịu những tác dụng phụ không mong muốn trong quá trình trị liệu.
Chúng ta thường có câu “Đồng khí tương cầu”, do tính chất, khí vị, liều lượng, bào chế, đun nấu khác nhau của dược vật sẽ tạo ra sự tác động và ảnh hưởng lên tạng phủ, kinh lạc tương ứng.
Tính - đặc tính hàn nhiệt ôn lương, nói đơn giản ôn nhiệt sẽ có xu hướng đi ra ngoài biểu, ảnh hưởng đến phủ và kinh mạch chạy ở phần dương của cơ thể ví dụ đầu mặt, cổ vai gáy và lưng, mu bàn tay, mặt ngoài của chân…; hàn lương có xu hướng đi vào trong, ảnh hưởng tạng và kinh mạch chạy ở phần âm của cơ thể như ngực bụng, lòng bàn tay bàn chân, nách, mặt trong cánh tay, mặt trong chân, bộ phận sinh dục…
Chất - vật chất cấu thành nên dược liệu như thực vật, khoáng vật, vỏ côn trùng…, với những loại dược liệu như từ thạch, thiết lạc, long cốt, mẫu lệ…chất cứng, nặng sẽ chủ giáng xuống, đi vào trong an định tâm thần, giáng Tâm hỏa, liễm Can dương. Những loại dược liệu mỏng nhẹ như thiền thoái, mộc hồ điệp, xà thoái… có thể giải biểu tán phong.
Những loại dược liệu có nguồn gốc từ máu thịt động vật, đa số đều đi vào Tâm bào và Tâm, ví dụ như a giao, lộc giác giao, kê tử hoàng, tử hà sa, có thể bổ ích tâm khí tâm huyết.
Có học thuyết ăn gì bổ nấy, ăn tạng nào bổ tạng nấy, ví dụ như chứng khô mắt, quáng gà, kinh huyết thiếu thì có thể ăn thêm gan lợn, gan dê. Tâm huyết tâm khí bất túc, tim nhanh hồi hộp thì co thể dùng Thạch xương bồ hầm với tim gà hoặc tim lợn. Đi tiểu nhiều lần, tiểu đêm nhiều, khí hư ra quá nhiều, yếu sinh lý có thể ăn cật lợn, cật dê, mật dê, thậm chí có thể ăn ống dẫn tinh của lợn, của hươu, của chó… Các loại dược liệu như toàn yết, ngô công, bạch hoa xà có thể nhập huyết sưu phong, hoạt huyết hóa ứ, giải độc.
Còn những bệnh nhân bị gout thì không nên ăn những loại thịt tính hàn âm, cần ăn thêm các loại thực phẩm có tính ôn mùi thơm vị cay, đắng để hóa giải được hàn độc, ví dụ như trà phổ nhĩ, gừng tươi, tía tô…
Dược liệu nguồn gốc từ rễ thực vật cắm sâu vào đất thì tính trầm giáng, đi vào tạng.
Nhân sâm, đảng sâm, hoàng kỳ, cam thảo tính ấm đi vào Tỳ; sinh địa, huyền sâm, ngẫu cân vào Thận; hoài sơn, sa sâm, mạch môn, hà thủ ô đi vào Phế; ô đầu, phụ tử, đương quy đi vào Can; bán hạ, thiên nam tinh, giới bạch, qua lâu căn đi vào Tâm. Dược liệu từ hoa, lá thường nhẹ, nổi lên trên vì vậy đi lên thượng tiêu, ra biểu, ví dụ như cúc hoa, bạc hà, ma hoàng, tô diệp, hà hoa, hà diệp…
Các loại cành, vỏ cây cũng đi ra biểu, nhập lục phủ như quế chi, kinh giới, cát cánh, tô cành, hoắc hương… Các loại quả, hạt thường đi và trong, bổ ích tinh khí, như ngũ cốc, hạch đào nhân, hồ đào nhân…
Hình dáng, màu sắc của dược liệu cũng có mối quan hệ nhất định tới quy kinh, ví dụ những loại dược liệu có g*i nhọn thường đi vào Can, như bạch tật lê, tạo giác thích, mai khôi, thương nhĩ tử… có thể sơ thông khí huyết, khu phong trừ tý; câu đằng có hình như móc câu, có thể thu liễm Can khí, an thần định kinh; ty qua lạc, quýt lạc có thể hóa đàm thông lạc; bạch mao căn, vĩ kinh rỗng ở trục giữa thì có thể lợi thấp bài niệu. Đan sâm, chu sa, đại giả thạch màu đỏ đi vào Tâm; hoài sơn, bạch cập, bạch quả màu trắng thì đi vào Phế; sinh địa, huyền sâm, từ thạch màu đen đi vào thận; ma hoàng, thanh bì, thanh đại màu xanh vào Can; đảng sâm, hoàng kỳ, táo tam thổ màu vàng đi vào Tỳ.
Ảnh hưởng đến quy kinh của dược liệu chủ yếu đến từ khí vị, thông thường vị tanh đi vào Tâm, như các loại cá, tôm, cua…; mùi thơm giúp tỉnh Tỳ, như sa nhân, bạch đậu khấu, quế bì; mùi hôi đi vào Can, như thịt các loại động vật như dê, bò, ngựa, lạc đà…; mùi thối lên men đi vào Phế, như các loại mắm, chao, tương; mùi hôi thối của đồng tiện, nước tiểu ngựa, cật lợn… đi vào Thận.
Vị cay nóng đi vào Can, Tỳ, Phế; vị nhạt ngọt đi vào Tỳ, Thận, Can; vị mặn đi vào Tâm, Phế, Thận; vị chua chát đi vào Phế, Can, Tâm; vị đắng đi vào Tâm, Thận, Tỳ.
Có rất nhiều loại dược liệu có thể thay đổi tính vị, tăng cường hoặc giảm nhẹ đi thông qua quá trình gia công bào chế, như vậy có thể thay đổi được quy kinh của nỏ. Ví dụ hậu phác, hoàng bá, trạch tả, phụ tử chế muối thì tăng cường đi vào Tâm Thận; sài hồ, bạch thược, đương quy khi chế rượu thì tăng cường đi vào Can, tăng cường hiệu quả thăng tán; kinh giới, thiến thảo, tông lữ, tam tiên khi sao cháy thành than thì tác dụng đi nhiều vào Tâm, chỉ huyết, tiêu thực; hương phụ, sài hồ, nguyên hồ mà đem chế dấm thì tác dụng sẽ chuyển từ thăng tán sang ôn hòa hơn; cam thảo, hoàng kỳ, thục địa qua chích mật thì sẽ đi vào Tỳ, bổ khí, vào Thận lợi thủy nhiều hơn…
Cách đun nấu, chế dược cũng cảnh hưởng đến quy kinh. Ví dụ như các loại dược liệu có mùi thơm như bạc hà, tế tân, khi đun lâu sẽ mất đi hiệu quả khai khiếu. Bán hạ mà để lâu ngày cũng bay bớt tính cay nóng, đi vào Tâm hóa đàm trừ bĩ hiệu quả sẽ tốt hơn. Đại hoàng đun lâu sẽ đi vào Tâm hóa ứ huyết thông tiểu tiện tốt, còn đun thời gian ngắn có thể đi vào đại trường thông đại tiện.
Đun thuốc thời gian ngắn rồi uống được gọi là ẩm, có thể đi lên thượng tiêu, thanh Tâm hỏa, tuyên Phế khí. Ví dụ như Tang cúc ẩm, Đại hoàng hoàng liên tả tâm thang… Đun lâu cho thuốc đặc bớt lại đi vào trung hạ tiêu, như tiểu sài hồ thang, tiểu kiện trung thang.
Dược liệu xay thành dạng bột gọi là tán, có thể kiện Tỳ táo thấp, như Bình vị tán, Sâm linh bạch truật tán. Dược liệu làm thành hoàn thì dùng có thể hoãn bổ Tỳ khí, hoặc lợi tiểu, ví dụ như nhân sâm quy tỳ hoàn, ô kê bạch phượng hoàn.
Nếu nấu thành cao, đa phần thuốc sẽ đi nhiều hơn vào Tâm, Thận, bổ ích kinh huyết, ví dụ như Quy lộc nhị tiên cao, quy bản cao. Sinh tố hoa quả khi xay ra có thể đi vào phế như Ngũ chấp ẩm, thu lê chấp…
Còn loại kim đan mà phải luyện qua lửa thì có thể bổ mệnh môn chi hỏa, như Nữ kim đan, Tiểu kim đan (mấy loại này mình chỉ nghe thôi chưa thấy). Dược liệu đem ngâm rượu thì tác dung thư cân hoạt huyết sẽ tốt hơn, như rượu hổ cốt, rượu rắn, rượu rết…
Xin chia sẻ sơ lược về cách tư duy về quy kinh của dược liệu cho các bạn đọc hứng thú với nội dung này. Dụng dược như dụng binh, hiểu về quy kinh của dược vật thì giống như hiểu về tính cách, hoàn cảnh, sở trường của từng người lính để sắp xếp vị trí thích hợp, như vậy mới có thể thắng trận mà không hao quân, người bệnh mới phục hồi khỏe mạnh nhanh chóng.
— Bác sĩ Thương Yêu —