Tử Vi Tarot

Tử Vi Tarot Tâm linh không đùa được nha

CÁCH HÓA GIẢI CÁC CUNG XẤU TRONG LÁ SỐ TỬ VI ( PHẦN 2)( CÁCH GIẢI HỌA, NHỮNG SAO GIẢI )1. Cách hóa giải cho cung Mệ...
07/28/2025

CÁCH HÓA GIẢI CÁC CUNG XẤU TRONG LÁ SỐ TỬ VI ( PHẦN 2)

( CÁCH GIẢI HỌA, NHỮNG SAO GIẢI )
1. Cách hóa giải cho cung Mệnh xấu
– Mệnh có sát tinh thì thuở nhỏ khó cực, cuộc sống thân tâm vất vả, hay đau ốm, t.a.i n.ạ.n. Lúc này cung phúc hoặc phụ mẫu cũng không được tốt cho đương số nương vào. Cung mệnh xấu, nhiều sát bại tinh dội về cần nhất rời xa quê hương bản quán để lập nghiệp. Nên nương theo lá số Tử Vi để chọn phương hướng phù hợp khi định cư.
Ngoài ra, đương số có thể chọn những ngành nghề mang tính “sát” như quân đội, công an, bác sĩ, kim khí….để hóa cái sát của hung tinh thành đặc trưng nghề nghiệp.Đặc biệt mệnh hội sát tinh thì nhìn nhận theo phương diện khác chính là hoàn cảnh khó khăn, môi trường khắc nghiệt. Đẩy bản mệnh thêm nghị lực vượt lên nghịch cảnh tạo cơ đồ. Khi có thành tựu ắt sẽ vững chắc hơn. Đương số cũng không nên vì thế và thoái chí nản lòng. Nếu đương số hiểu được điều này và chấp nhận thì đời sống tin thần ắt có sự an yên.
2. Hóa giải cung Quan Lộc xấu
Cung quan lộc là công danh sự nghiệp, ước vọng tham vọng trong đời của đương số. Cung Quan Lộc còn là kỹ năng chuyên môn, trình độ học vấn, khoa bảng, học thức…Cung Quan xấu gặp nhiều bại tinh hoặc tuần triệt chắn đóng. Đương số hay thay đổi công việc, công danh trắc trở, thăng tiến bị cản trở, mối quan hệ với đồng nghiệp kém.
Phu thê chính chiếu quan Lộc nên khi 1 trong 2 cung xấu ắt ảnh hưởng xấu đến cung còn lại. Trường hợp này không nên theo đuổi danh chức, tiếng tăm (môi trường nhà nước) mà chủ yếu chú trọng kinh doanh kiếm tiền. Hoặc có thể theo đuổi một chuyên môn nhất định. Cung quan lộc không phát danh được thì nên chọn hình thức ẩn danh, việc gì ra tiền thì làm hoặc làm phó, phụ tá, cố vấn, không hợp đứng ra đứng mũi chịu sào.
Có thể xem Mệnh/Tài/Quan kết hợp đại vận để biết đương số hợp những công việc gì, vận tốt xấu thế nào để tiến lui cho hợp lý. Vận xấu thì học tập, thu nhặt kiến thức kinh nghiệm. Năm xung tháng hạn thì đừng tập trung quá nhiều vào công việc, nên đi du lịch, giao thiệp mở rộng quan hệ. Vào vận tốt thì xông lên, đầu tư tích lũy ắt có thành tựu.
3. Hóa giải cung tài Bạch xấu
Tài bạch là cường cung, là cung trọng yếu đối với số mệnh con người. Cung Tài Bạch xấu nhiều sát bại tinh thì tài lộc không tụ, kiếm tiền vất vả. Lời khuyên tốt nhất là không nên đầu tư lớn hay cho vay cho mượn. Tránh tổn thất hao tài tốn của. Đương số hạn chế giữ tiền mặt trong người. Xem Song Hao ở đâu thì tiết kiệm chi tiêu nơi đó. Năm xấu hạn xấu thì chủ động tiêu tiền để tránh mất mát. Tài xấu cần xem cung Điền có vượng không rồi tập trung tiền bạc vào đất đai mới giữ được tài sản.
Nếu Mệnh, Thân, Phúc Đức, Quan Lộc và Thiên Di sáng sủa tốt đẹp, thì dù cung Tài Bạch có xấu cũng không đáng lo ngại nhiều về sự thiếu thốn hay túng quẫn. Cung Tài liên hệ khăng khít với Phúc Đức vì Phúc chính chiếu Tài. Phúc Đức là gốc rễ của Tài bạch. Tài kém mà Phúc không dày thì khó nên cơ nghiệp hoặc phải gian nan vất vả vì tiền bạc. Đương số có thể chăm lo phúc đức, hành việc phước thiện để tích Phước vượng Tài.
4. Hóa giải cung Phúc Đức kém
Cung Phúc đức kém, đương số không nhận được hậu thuẫn hỗ trợ của dòng họ. Nên rời xa quê hương bản quán lập nghiệp. Nếu tâm linh có thể chăm lo phúc phần, nhà thờ họ, cầu xin sự gia hộ của tổ tiên hoặc nơi chùa chiền, nhà thờ theo tín ngưỡng của bản thân. Sống tốt đời đẹp đạo, hành thiện tích phước. Nhiều người cứ nghĩ rằng bản thân mình phải tốt đẹp, giàu có đã mới hành thiện, nhận rồi mới cho đi.
Nhưng cuộc sống cho đi nghĩa là bạn đã được nhận. Cho đi một ánh mắt, nụ cười, cử chỉ, trái tim tưởng đơn giản nhưng cũng đủ để bạn thay đổi cuộc đời một ai đó và cả chính bạn.Cung phúc đức cũng là đời sống tinh thần của đương số. Vì vậy phúc xấu, đương số cả đời tâm chẳng an. Nếu hiểu được Tử Vi, hiểu được cái số mệnh đã an sẵn thì nên chấp nhận và sống vui vẻ. Hướng tới lối sống lạc quan tích cực, buông bỏ chuyện sầu não. Sinh ra phước báu có thể không tốt, nhưng sống được tốt hay không là do chính mình chọn lựa.
5. Hóa giải cung Phu Thê xấu
Cung phu thê xấu, đương số nên xác định vợ chồng việc ai nấy làm, không can dự vào công việc của nhau. Cũng không nên hùn hạp chung vốn làm ăn… Nếu lá số hội từ ngũ sát tinh trở lên về cung Phu thê thì đương số có thể cân nhắc về chung sống với nhau mà không làm thủ tục kết hôn. Kết hôn với người ngoại quốc, người đã lỡ một lần đò,…cũng là cách rất hay để cải thiện hôn nhân gia đạo, giảm hình khắc sinh ly tử biệt.Năm xung tháng hạn có thể tạm tách nhau ra không ở chung, hoặc đi công tác, ít gặp nhau. Cưới hỏi cũng không nên quá rình rang phô trương. Quan trọng nhất vợ chồng gắng nhường nhịn nhau. “Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi bớt lửa bao đời nào khê”.
6. Hóa giải cung Thiên Di xấu
Cung Di xấu, ra ngoài dễ gặp tai nạn, hoặc kẻ xấu hãm hại, không thuận lợi trong các mối quan hệ xã giao. Đường xuất ngoại cũng dễ gặp trục trặc. Đương số không nên ra ngoài nhiều, tận dụng cung mệnh xem có các sao cứu giải không. Nên có khuynh hướng ít di chuyển, ngồi một nơi phát triển chuyên môn.
7. Hóa giải cung Phụ Mẫu Xấu
Cung Phụ mẫu xấu, cha mẹ con khắc khẩu, cự kỵ lẫn nhau. Không khí trong nhà hay nặng nề hoặc phụ mẫu và con cái ở chung hay gặp ốm đau, làm ăn không thuận lợi. Trong trường hợp này không nên sống gần hoặc ở chung với nhau. Nếu thương yêu và muốn hiếu thuận thì có thể chu cấp tài chính, thường xuyên thăm hỏi, động viên.Nếu cung Tử Tức xấu nghĩa là đương số có thể bỏ đốt hoặc muộn con, có con nhiều dòng…Đương số cần chú ý các mối quan hệ với người khác phái, chăm lo sức khỏe trong thai kỳ. Nếu muộn con hoặc con nhiều dòng thì nên nghĩ đến việc nhận con nuôi, con đỡ đầu. Hàng tháng cấp dưỡng, thăm nuôi không nhất thiết phải mang về nhà. Phương pháp này nhiều người áp dụng và kết quả rất tích cực.
8. Hóa giải giải Cung Huynh đệ xấu
Cung Huynh đệ (bao gồm anh chị em ruột và họ hàng) hoặc Nô Bộc không tốt thì không nên ở gần hoặc chung. Không nên hợp tác tiền bạc mà không xem xét kỹ lưỡng. Xung đột tài chính sẽ dễ ảnh hưởng đến mối quan hệ
9. Hóa giải cung Điền Trạch kém
Cung Điền xấu đương số chật vật vì nhà cửa, hay lao lực vì chuyện đất cát. Cung điền có nhiều sao xấu và đại vận đi qua không tốt thì đương số không nên đầu tư, đầu cơ hùn hạp đất đai nhiều. Cẩn thận hợp tác mua bán đất cát, nhà cửa, không nên đứng tên trên mặt pháp lý giấy tờ. Đương số có thể dựa vào lá số Tử Vi chọn hướng nhà cửa đất cát ở phương vị phù hợp. Có thể điều chỉnh thêm phong thủy nếu cần. Ngoài ra việc chọn tuổi hợp khi hùn hạp đầu tư cũng vô cùng quan trọng đối với lá số cung Điền xấu. Đặc biệt, thay đổi môi trường sống, nhà cửa đến nơi khác cũng là cách hiệu quả để hóa giải cung Điền. Giúp đương số đổi vận, cải thiện gia đạo, sức khỏe, tài lộc và tử tức.
10. Hóa giải cung Tật Ách xấu
Tật ách là các tai nạn tai ách mà đương số gặp phải trong đời. Cung Tật ách còn là bản mệnh thứ 2 của mỗi người. Các sao tọa thủ tại cung ách ứng với một bộ phận trên cơ thể. Khoa Tử Vi cũng thật tài tình khi đúc kết, ghi chép lại cẩn thận và chính xác những tai ách, bệnh tật mà con người có thể mắc phải chỉ thông qua sao số kết hợp ngũ hành.
Thông qua luận đoán cung Tật Ách, người ta có phương hướng phòng ngừa, hỗ trợ điều trị và chữa bệnh.
2. Cách giải họa qua các sao
a. Chính tinh:
Có thể nói tất cả chính tinh đắc địa trở lên đều có ý nghĩa phúc đức, từ đó có ý nghĩa giải họa. Càng đắc địa, hiệu lực càng mạnh. ở vị trí đắc địa, chính tinh phải tránh hai sao Tuần, Triệt.
Nếu chính tinh đắc địa bị hung sát tinh đi kèm thì may rủi thường đi liền nhau, hoặc có lúc được phúc, lúc bị họa. Trong số chính tinh miếu, vượng và đắc địa, có vài sao có hiệu lực giải họa mạnh: Vũ Khúc, Thiên Tướng, Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Lương, Thiên Đồng, Thái Dương, Thái Âm, Thiên Cơ. Nếu hãm địa, khả năng cứu giải kém hẳn. Cho dù hãm địa mà bị Tuần, Triệt thì hiệu lực cứu giải cũng không được phục hồi như ở miếu, vượng địa mà chỉ tương đương với sao đắc địa.
Vũ Khúc: là sao giải họa mạnh nhất. Nếu Vũ Khúc miếu, vượng và đắc địa gặp Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa, Linh thì không đáng lo ngại trong khi Tử Vi chỉ chế được Hỏa, Linh. Nếu Vũ Khúc đồng cung với Thiên Tướng thì khả năng chống đỡ với sát tinh càng mạnh thêm, cho dù sát tinh đó đắc địa hay hãm địa.
Thiên Tướng: khắc chế được sát tinh. Có võ tinh khác đi kèm, Tướng được thêm uy, thêm quân. Được Vũ Khúc đồng cung, hiệu lực của Thiên Tướng càng được tăng cường: tiêu trừ hay giảm thiểu tai họa, bệnh tật một cách đáng kể. Thiên Tướng chỉ e ngại Kình Dương, Thiên Hình và hai sao Tuần, Triệt. Với Kình Dương, hung nguy dễ gặp. Với Tuần Triệt và Thiên Hình, Thiên Tướng không những mất uy lực cứu giải mà còn báo hiệu bệnh, tật, họa nặng nề hơn nữa.Tử Vi: là cách giải họa gián tiếp vì
(i) Tử Vi che chở con người chống lại bệnh tật và họa nhưng Tử Vi chỉ ban phúc chứ không giải họa mạnh như Vũ Khúc hay Thiên Tướng. Đối chọi với sát tinh, Tử Vi chỉ khắc được Hỏa, Linh mà thôi. Gặp sát tinh khác như Kình, Đà, Không, Kiếp, Tử Vi ví như bị vây hãm một cách hiểm nghèo: tuy không c.h.ế.t nhưng gặp hung họa dẫy đầy, đấu tranh chật vật;
(ii) Tử Vi mang lại tiền bạc, của cải giúp con người tránh được cảnh nghèo, đồng thời giúp con người tạo phúc cho mình bằng tiền bạc;
(iii) Tử Vi ban cho công danh, quyền thế trong xã hội, không bị đè nén bởi sự cạnh tranh giai cấp.Thiên Phủ: cũng có đặc tính như Tử Vi nhưng hiệu lực kém hơn.
Tuy nhiên, Phủ mạnh hơn Tử trong việc đối chọi với sát tinh: có tác dụng khắc phục được cả Kình Đà nhưng hiệu lực này chỉ có đối với từng sao riêng lẻ hoặc nhiều lắm là hai hoặc ba sao phối hợp. Lẽ dĩ nhiên, Phủ chưa phải là địch thủ của Địa Không, Địa Kiếp và Phủ còn chịu thua Thiên Không nữa. Mặt khác, gặp Tuần Không và Triệt Không, Phủ bị giảm hẳn khả năng cứu giải.
Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung: chế hòa được Kình, Đà, Hỏa, Linh phối hợp nhưng đây là cuộc đọ sức giữa các địch thủ hạng nặng, hẳn sẽ gây biến động lớn cho cuộc đời.
Bản Mệnh chỉ vững chãi nếu được đắc cách Mệnh Cục tương sinh, Âm Dương thuận lý cùng với Tử Phủ đắc địa đồng cung. Bằng không, cuộc đời sẽ gặp nhiều sóng gió, hiểm tai nghiêm trọng. Phối cách này cũng tạm thời cầm chân được từng sao Địa Không, Địa Kiếp.Tử, Phủ, Vũ, Tướng cách: cách hay nhất vì giải họa thập toàn nhất.
Thiên Lương: nếu đóng ở cung Phúc thì đức của ông bà di truyền được cho mình, nếu đóng ở Mệnh, Thân thì tự mình tu nhân, tích đức, gây được hậu thuẫn cho người đời. Nhưng Thiên Lương chỉ kìm chế được hung tinh mà thôi.
Thiên Đồng: ý nghĩa tương tự như Thiên Lương nhưng hiệu lực cứu giải kém hơn. Gặp hung tinh, Thiên Đồng ắt phải lận đận nhiều và chỉ kìm chế được nếu có thêm giải tinh trợ lực. Đối với bệnh tật, Thiên Đồng ắt phải lận đận nhiều và chỉ bệnh về bộ máy tiêu hóa vì Thiên Đồng giải bệnh tương đồng kém.
Thái Dương, Thái Âm sáng sủa: chỉ sự thông minh quán thế, khả năng nhận thức thời cuộc, sự am hiểu lẽ trời, tình người từ đó Nhật Nguyệt giúp con người thích nghi dễ dàng với nghịch cảnh với nhiều may mắn.
Tuy nhiên, đối với bệnh tật, Nhật Nguyệt không mấy hiệu lực: chỉ bệnh căng thẳng tinh thần, bệnh thần kinh, bệnh tâm trí và nhất là bệnh mắt. Nhật Nguyệt có hiệu lực như Thiên Phủ đối với Kình, Đà, Hỏa, Linh nhưng bị Không, Kiếp lấn át. Nếu Nhật Nguyệt đồng cung ở Sửu Mùi có Tuần Triệt án ngữ, thêm Hóa Kỵ càng tốt, khả năng giải họa tất phải mạnh hơn, chống được hung và sát tinh đơn lẻ. Giá trị của Nhật Nguyệt trong trường hợp này tương đương với Tử Phủ đồng cung hay ít ra cũng bằng Đồng Lương hội tụ.
Thiên Cơ: chỉ người vừa hiền vừa khôn (tương tự như Nhật Nguyệt) nên có hiệu lực cứu giải. Nhưng về mặt bệnh lý, Thiên Cơ chỉ bệnh ngoài da hay tê thấp cho nên ít giải bệnh.
b. Phụ tinh:
+ Những giải tinh bắt nguồn từ linh thiêng: được cụ thể hóa qua: những hên may đặc biệt giúp cho con người thoát hay giảm được bệnh tật, tai họa; những vận hội tốt đẹp của thời thế, của hoàn cảnh, những diễn biến bất ngờ có lợi đặc biệt cho riêng mình. Gồm các sao: Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần, Thiên Quan, Thiên Phúc
+ Những giải tinh bắt nguồn từ sự giúp đỡ của người đời:
Tả Phù, Hữu Bật khi đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và có kèm theo nhiều cát tinh khác. Tả Hữu tượng trưng cho sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, thượng cấp, hạ cấp nhưng chỉ cứu họa chứ không giải bệnh. Tả Hữu còn có nghĩa là chính mình hay giúp đỡ kẻ khác nhờ đó được sự hỗ tương. Có hai sao này ở Mệnh, đương số dễ dàng thành đạt nhưng cần đi chung với chính tinh đắc địa.
+ Những giải tinh bắt nguồn ở chính năng đức con người:
Hóa Khoa: là giải tinh rất mạnh bao trùm cả bệnh, tật, họa.
Tam Hóa (Khoa, Quyền, Lộc): càng mạnh nghĩa hơn nữa. ý nghĩa đó càng mạnh nếu cả ba hội chiếu hoặc liên châu (Mệnh, Thân ở giữa có một Hóa, hai Hóa kia tiếp giáp hai bên). Thủ Mệnh hay Thân, Tam Hóa có hiệu lực mạnh hơn thế liên châu, nhất là không bị sát tinh xâm phạm. Tam Hóa sẽ tăng hiệu lực nếu đóng ở cung ban ngày và cung dương. Tam Hóa giải họa nhiều hơn giải bệnh,tật.
Nếu bị sát tinh đi kèm, Hóa nào bị thì nguồn cứu giải của Hóa đó bị giảm sút hoặc bị họa về mặt đó. Cụ thể, Quyền gặp Không Kiếp thì quý cách bị giảm, Lộc gặp Không Kiếp thì hao tán tiền bạc, Khoa gặp Không Kiếp thì khoa bảng lận đận.
Tứ Đức (Long Đức, Nguyệt Đức, Thiên Đức và Phúc Đức): chỉ phẩm cách tốt, sự nhân hậu, khoan hòa của cá nhân, nết hạnh đó báo hiệu sự vô tai họa hay ít tai họa. Hiệu lực giải bệnh của Tứ Đức không có gì đáng kể.
Thiếu Âm, Thiếu Dương: ý nghĩa giống như Tứ Đức nhưng hiệu lực kém hơn và không có nghĩa giải bệnh.
+ Những giải tinh khác: Thiên Tài: ý nghĩa giải họa của Thiên Tài chỉ có khi nào sao này gặp sao xấu vì nó làm giảm bớt tác hại của sao xấu. Do đó Thiên Tài có tác dụng như Tuần, Triệt tuy không mạnh bằng.
Tuy nhiên, Thiên Tài gặp sao tốt sẽ làm giảm bớt cái hay.
Thiên La, Địa Võng: có tác dụng làm cho sao xấu thành tốt lên ít nhiều, do đó góp phần giảm họa riêng trong các hạn nhỏ.
Đại Hao, Tiểu Hao: nếu đóng ở cung Tật, Đại Tiểu Hao có hiệu lực giải họa đáng kể, cụ thể như làm họa, bệnh tiêu tán mau kiểu như bệnh chóng lành, người bị họa mau khôi phục thế quân bình. Vì la sao hao nên kỵ đóng ở cung Tài.

( fb tuệ tâm chia sẻ)

TAROT VÀ CHUYỆN THỰC HÀNH----------Nhắc lại câu chuyện cũ rích mà thâm nho về nhà thông thái và lão lái đò. Đại khái là ...
04/30/2025

TAROT VÀ CHUYỆN THỰC HÀNH

----------

Nhắc lại câu chuyện cũ rích mà thâm nho về nhà thông thái và lão lái đò. Đại khái là vào một ngày xấu trời, một nhà thông thái đang ngao du thì gặp một con sông lớn chắn ngang. Cực chẳng đã, ông phải nhờ đến lão lái đò quê mùa chở qua sông. Trên chuyến đò định mệnh, nhà thông thái giở thói tự cao, liên tục kiểm tra độ hiểu biết của lão lái đò bằng những câu hỏi hóc búa mang tính triết học. Lão già chỉ im lặng. Cho đến khi một cơn giông ập tới, làm con thuyền chao đảo và sắp sửa lộn sòng, lão mới cười lớn hỏi nhà thông thái biết bơi không. Thực tình nhà thông thái không biết. Ông ta nhìn xuống mặt sông dợn sóng điên đảo, mặt tái xanh như tàu lá chuối vì biết mình tới số.

Rốt cuộc, học nhiều để làm gì, nếu những thứ đó không có ứng dụng thực tế, mà chỉ để thỏa mãn cơn đói tri thức. Ngày xưa dân tình kháo nhau hai câu thơ chế như này, hơi thô nhưng rất hợp tình hợp cảnh:

“Học hành như cá kho tiêu

Kho nhiều thì mặn, học nhiều thì ng...”

Hai câu này rất đúng nếu bạn chỉ chắm chúi học lý thuyết mà không nhấc mông đi thực hành. Tất nhiên, Tarot cũng không ngoại lệ. Đa phần mọi người chỉ hiểu bề nổi là chăm hay không bằng tay quen, nhưng đây mới là những lợi ích khi mọi người chịu khó thực hành trải bài.

1. Hiểu cách Tarot vận hành trong thực tế.

Bản chất cuộc sống là sự đan xen bất tận của những biến số, theo ngôn ngữ nhà Phật là trùng trùng duyên khởi. Đôi khi, một sự thay đổi nhỏ cũng có thể tạo ra một thay đổi lớn. Điều này khoa học đã chứng minh qua hiệu ứng cánh bướm: “Một con bướm đập cánh ở Mão có thể gây ra một cơn bão ở Tung Của”.

Ví dụ, để xảy ra sự kiện một mối quan hệ bắt đầu chớm nở, ngày này giờ này cả hai phải có mặt cùng một địa điểm, chưa kể họ phải ngồi ở vị trí thuận lợi để tia nhau, chàng trai phải vượt qua cơn nhát gái để tiến tới xin info, gái cũng đang ế và muốn có bồ,...Giả sử hôm đó kẹt xe, chàng trai đến muộn 10p, cô gái cùng hội chị em đi tăng hai, thì coi như “trăm năng lỡ hẹn một giờ”.

Về bản chất, lý thuyết chỉ đúng trong điều kiện lý tưởng, tức là gần như loại bỏ hoàn toàn những yếu tố râu ria, vụn vặt. Trong thưc tế, những thứ râu ria đó mới làm nên tính phức tạp, độ khó đoán của câu chuyện. Vậy nên bạn luận theo ý nghĩa lá bài một cách máy móc, sách vở, thì cũng chỉ nhận lại một câu chuyện chung chung, vô thưởng vô phạt. Do đó, việc thực hành thường xuyên giúp ta tích lũy một kho dữ liệu đủ lớn, giúp phân biệt từng kiểu câu chuyện, tìm ra điểm khác biệt tinh tế giữa chúng.

Giả sử, trong một mqh lâu dài, lá 10 kiếm có thể báo hiệu sự chấm dứt và gây ra cảm giác tuyệt vọng. Với một mqh mới bắt đầu, 10 kiếm có thể ám chỉ phương án tiếp cận đối phương đã thất bại, cần thay đổi chiến lược và chả có cảm giác đau khổ nào ở đây hết.

Một vấn đề quan trọng khác cần lưu tâm là tương lai trong Tarot. Không phải cứ hỏi gì rút nấy thì Tarot cho bạn câu trả lời chính xác. Đôi khi, chỉ cần một biến số chen ngang cũng làm thay đổi diễn biến câu chuyện. Bạn cảm tưởng mình đã lập luận, phân tích trải bài chặt chẽ như Shelock Holmes phá án, thì chắc chắn tương lai sẽ xảy ra như vậy. Rốt cuộc, lời tiên đoán của bạn trật lất, bạn vỡ mộng, hoài nghi vào năng lực bản thân. Thực tế, bạn đang đối mặt với kiểu câu chuyện mình chưa từng trải nghiệm hay biết đến, cũng như không có trong bất kỳ cuốn sách dạy xem Tarot nào. Đây là lúc bạn cần chiêm nghiệm, thay đổi tư duy, đón nhận cách tiếp cận mới về Tarot. Quá trính này sẽ thường xuyên diễn ra, nhờ đó bạn mới lên trình.

2. Nhận ra mình phù hợp với cách xem nào.

Một số người cố gắng chuẩn hóa cách xem Tarot như toán học và nghĩ rằng ai cũng có thể dùng phương pháp đó. Tuy nhiên, bản chất Tarot là giả khoa học – mang tính định tính (không thể đo đếm chính xác) và nền tảng cốt lõi dựa trên niềm tin. Theo góc nhìn duy tâm, mỗi cá nhân, mỗi bộ Tarot là một vũ trụ thu nhỏ, và việc tương tác giữa R và bộ bài giống như hai vũ trụ giao nhau, với sự phức tạp và độc nhất.

Vậy nên, chỉ thông qua việc thử nghiệm nhiều phương pháp khác nhau, bạn mới biết mình hợp cái nào. Kể cả bạn theo thầy xịn, làm theo phương pháp chân truyền (được đúc kết và kiểm chứng), nhưng qua quá trình trải vận dụng đủ lâu, một cách tự nhiên, bạn sẽ tự điều chỉnh phương pháp đó sao cho phù hợp với bản thân, hoặc chắt lọc những tư duy phù hợp để xây dựng phương pháp riêng. Hãy giữ phương châm: không phương pháp nào hoàn toàn đúng hoặc sai, mà chỉ có hợp hay không hợp.

3. Tìm ra nét nghĩa mới của lá bài.

Đôi khi trong quá trình trải bài, nhìn vào một lá bài quen thuộc, đầu bạn nảy ra những nét nghĩa rất lạ, không theo lý thuyết, nhưng chính xác đến khó tin trong câu chuyện của Q. Bạn nên ghi nhận nét nghĩa đó, rồi thử ứng dụng trong những bài khác, nếu đúng cỡ 40/50 case, thì có thể coi đó bạn đã thành công trong việc tạo ra một nét nghĩa mới. Đây cũng chính là thứ làm nên chất riêng của bạn, vì hiếm khi có chuyện người khác áp dụng nét nghĩa riêng của bạn mà mang lại lời giải chính xác trong trải bài họ rút.

4. Tìm ra sự khác biệt của một lá bài với 2 bộ khác nhau.

Khi so sánh ý nghĩa của một lá bài thuộc 2 bộ khác nhau, một số người cố gắng mang lý thuyết trong cuốn booklet/companion book ra phân tích, mổ xẻ câu chữ để đối chứng. Đây là một cách tiếp cận hết sức máy móc và nhàm chán. Hãy dùng từng bộ bài cỡ một năm, bạn sẽ thấy ngay sự khác nhau giữa chúng một cách chân thực nhất, sau đó mới mang lý thuyết trong booklet/companion book ra so sánh, chắc chắn bạn sẽ hiểu những gì tác giả viết sâu hơn rất nhiều.

Ví dụ, theo trải nghiệm của mình, lá The Devil của bộ Deviant Moon không gây ra cảm giác ám ảnh, ràng buộc bằng The Devil của bộ RWS. Lá Lust (Strength) của bộ Thoth không mang tính kiềm chế, nhẫn nhịn như lá Strength của bộ RWS, mà cho thấy sự giải phóng năng lượng dưới dạng cảm hứng, đam mê mãnh liệt. Hoặc những cơn sóng ngầm trong cảm xúc của King cốc bộ Shadowscape “hiền hòa” hơn của King cốc bộ RWS.

Nếu chỉ dựa trên câu chữ tác giả viết trong sách hương dẫn, chắc chắn mình không thể tìm ra những điểm khác biệt vi tế như vậy.

Nam Cao từng nói về nghề nhà văn là “Hãy sống rồi mới viết”. Tarot cũng vậy, để thành tài bạn cần thực hành và nghiệm lý rất nhiều. Đừng để câu chữ lý thuyết dắt bạn vào mê cung của những thứ cao siêu trừu tượng, hãy đem Tarot áp dụng vào đời sống, và bạn sẽ học hỏi được nhiều hơn thế.

----------

Ảnh: Pinterest

Tarot và Tree Of Life:Cấu trúc Tree of Life gồm 10 Sephiroth và 22 Path. Sephiroth là các nút hình tròn trên sơ đồ. Còn ...
04/30/2025

Tarot và Tree Of Life:

Cấu trúc Tree of Life gồm 10 Sephiroth và 22 Path. Sephiroth là các nút hình tròn trên sơ đồ. Còn Path là các đường nối giữa các nút tròn với nhau. Có 5 biên giới gọi là Veils: Ain, Ain Soph, Ain Soph Aur, Abyss, Paroket. Có 5 trạng thái chính trùng với Sephiroth gọi là Soul: Jechidah, Neshamah, Chiah, Ruach, Nefesh.. Có 4 thế giới : Atziluth Briah Yetzirah Assiah. Tương ứng mỗi giá trị này là một giá trị ngoài thực tế: 12 cung hoàng đạo, các khái niệm tâm linh, các vị thần cổ , 4 nguyên tố ...
Sephiroth:

Chúng ta có mười Sephiroth trên Cây Sự Sống bao gồm:

Kether: Tối Thượng, vương miện của cây – khởi nguồn thiêng liêng của vạn vật.

Chockmah: Thông Thái, lực lượng của cây –liên kết với nguồn năng lượng nam tính.

Binah: Thấu Hiểu, hình dạng của cây –liên kết với nguồn năng lượng nữ tính.

Chesed: Bao Dung, mang theo sự phát triển tự nhiên, với ánh sáng; tình yêu; lòng yêu thương.

Geburah: Nghiêm Khắc, mang theo sự hạn chế tự nhiên, cùng với nỗi sợ hãi; giới hạn sáng tạo, kỷ luật.

Tiphareth: Vẻ Đẹp, nơi kết hợp hài hòa của vạn vật.

Netzach: Chiến Thắng, sự sáng tạo đầy quyền lực; mang theo sự tượng trưng của cảm giác và cảm xúc.

Hod: Huy Hoàng, trí tuệ; mang theo lý luận định nghĩa những sự vật bắt đầu được hình thành. Cấu trúc của tâm thức.

Yesod: Tạo Lập, nền tảng của sự tồn tại, vô thức và ý thức, mơ ước và hiện hữu.

Malkuth: Vương Quốc, thế giới hiện thực nơi con người hiện hữu giữa thời gian và không gian.

-Path:

Hãy hình dung về một bào thai, từ hư không kết hợp giữa cha và mẹ để tạo thành một tế bào đầu tiên. Thì Path tương tự như quá trình tạo dựng đó, 22 con đường đi từ khởi đầu đến hiện thế chính là quá trình tạo dựng nên thế giới.

Đi từ hư không đến hiện hữu.

Quá trình tạo dựng thế giới vũ trụ hệt như quá trình thai nghén con người, có một sự tương quan giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ. Nguồn năng lượng được vận chuyển theo những con đường nhất định thường được diễn tả như một thanh kiếm sấm chớp hay một con rắn trí tuệ.
Và khi đến với vương quốc trần thế, con người đã quên mất bản chất thiêng liêng bên trong. Hệt như tổ tông đánh mất thiên đàng.

Con người trở nên vật chất hóa và sống một đời sống hữu hạn. Song, những con đường trên Cây Sự Sống chính là những mức độ nhập định, để thoát thai từ cái phàm đến cái thiêng. Con đường tâm linh quay vào bên trong để tìm kiếm sự tự tri, để tìm kiếm thiên đường đã mất chính là con đường của sự thông thái.

22 con đường, ứng với 22 lá ẩn chính trong cỗ Tarot, tương ứng với quá trình thụ pháp cho đến hành pháp, và cuối cùng là đạt đạo.

-Veils:

Năm biên giới, là hay năm màng bao bọc xung quanh Cây Sự Sống. Với ba màng bao bọc bên ngoài và hai màng phân cách bên trong.

Chúng là sự ngăn cách giữa thiên đàng ở tam giác khởi tạo, địa đàng ở tam giác tinh thần và trần gian ở tam giác vật chất. Hệt như sự ngăn cách giữa ý thức – vô thức –siêu thức, hay giữa cơ thể - tinh thần –linh hồn vậy. Có thể hiểu một cách đơn giản về các biên giới này, Ain –vùng tối hư vô và bất tận, Ain Soph – vùng tối sâu thẳm hơn vùng đầu tiên, kéo dài đến vô tận và ánh sáng không chiếu rọi đến, Ain Soph Aur –vùng mờ ảo và vô biên, nơi mà ánh sáng quyện vào bóng tối; không tồn tại bất kì điều gì nhưng lại chứa đựng tất cả, Abyss –vực thẳm hay hố thẳm của tri thức bị lãng quên; cách ngăn giữa địa đàng và thiên đàng, Paroket –là nơi mà ý thức con người vượt qua để liên kết với linh hồn của bản thân; đạt đến sự mặc khải.

Bốn Thế Giới:

Atziluth: nguyên giới/ thế giới bản nguyên, chứa đựng nguồn năng lượng nguyên thủy, thôi thúc cho sự sáng tạo, gắn kết với bộ Wands – tượng trưng cho tư tưởng, ý tưởng, nhiệt huyết.

Briah: sinh giới/ thế giới của sự sinh sôi nảy nở và nuôi dưỡng, gắn kết với bộ Cups – nơi nguồn nước nuôi dưỡng, chăm sóc nguồn năng lượng nguyên thủy.

Yetzirah: tạo giới/thế giới của sự đa dạng, khi bắt đầu có sự phân chia, tạo hình, phát triển, gắn kết với bộ Swords – nơi ngôn ngữ, ánh sáng, những thiết kế hình thành và chứa đựng thông tin.

Assiah: chân giới/ thế giới thực tại, gắn kết với bộ Pentacles – nơi mà các nguồn năng lượng được cố định, trở nên hữu hình hữu thể trong không gian và thời gian.

Mô Hình Tarot Theo Tree of Life:

10 Sephiroth tương ứng từ Ách đến 10. 22 Path tương ứng 22 lá ẩn chính, 5 trạng thái tương từng 4 đầu hình: Cúp; Gậy; Kiếm; Tiền và Linh hồn.

4 thế giới tương ứng với 4 lá mặt: King Queen Knight Page.

Mối quan hệ giữa các lá bài trở thành mối quan hệ giữa các biểu tượng của Tree of Life. Từ đó, suy luận ra các biểu tượng của cuộc sống, về hành trình tìm kiếm chân lý của con người. Mô hình này dựa chủ yếu vào Liber 777 của Crowley, ngoài ra còn một số mô hình khác đến từ Papus trong cuốn The Tarot Of Bohemians, hay từ S.L. MacGregor Mathers trong cuốn The Kabbalah Unveiled, và Book T. Và The Doctrine And Literature Of The Kabalah của Waite. Các mô hình về tính chất chung vẫn giống nhau, điểm khác biệt là cách các tác giả gán những giá trị trên Tree Of Life với các quân bài trong cỗ Tarot có sự khác biệt. Thí dụ như sự thay đổi giá trị lá VIII và XI của Mathers hay Waite so với Crowley là một minh chứng cho sự khác biệt này. Hay sự khác biệt về giá trị nguyên tố của Papus với Mathers hay Crowley là do Papus sử dụng sơ đồ Cây Sự Sống cổ còn hai người kia sử dụng sơ đồ được phát triển bởi hội Bình Minh Ánh Kim.

Và khi giải đoán dựa vào phương pháp Cây Sự Sống, chúng ta có những bước như sau:

- Mỗi lá bài được rút có mối quan hệ với nhau theo cách bố trí khi rút bài.
- Mỗi lá bài này còn có mối quan hệ với cấu trúc Tree of Life. Mỗi lá bài có một biểu tượng trong Tree of Life.
- Mỗi biểu tượng trong Tree of Life lại có quan hệ với nhau theo sơ đồ huyền học.
- Mỗi biểu tượng trong Tree of Life lại có ý nghĩa biểu tượng tương đương trong đời sống.
- Tổng hợp các yếu tố này lại chính là ý nghĩa của toàn bộ giải đoán.

Sử dụng Liber 777, sẽ giúp chúng ta có thể tra cứu một cách thuận tiện. Cuốn này là bảng tra cứu tất cả các biểu tượng trong cuộc sống tương ứng ra sao với Tree of Life. Trong đó bạn có thể giải đáp, chẳng hạn, bạn sẽ biết màu vàng tương ứng Binah, cung Ta**us trong hoàng đạo tương ứng với Vau, trái tim trong cơ thể con người tương ứng với Teth ...

Bộ Ẩn Chính Và Tree Of Life:

Bảng này dựa vào hệ thống của hội Bình Minh Ánh Kim. So với hệ thống ở Liber 777 của Crowley có điểm khác biệt ở các lá số VIII và XI, nên có sự thay đổi thứ tự của kí tự Do Thái ở vị trí này là VIII –Lamed ứng với lá Adjustment ( Justice) và XI –Teth ứng với lá Lust ( Strength). Và hoán đổi tiếp theo ở lá IV, Hoàng Đế ứng với Tzaddi thay vì Heh như của hội Bình Minh Ánh Kim. Ngược lại, lá XVII, Ngôi Sao thì với Crowley sẽ ứng với Heh thay vì Tzaddi. Điều này dẫn đến vị trí trên Cây Sự Sống cũng như đường nối sẽ có sự khác biệt.
Vì vậy, nếu bạn tìm hiểu hệ thống Tarot được xây dựng bởi Crowley cần chú ý sự khác biệt này trong các lá bài. Bởi vì các hệ thống thông dụng hiện tại thường dựa căn bản trên lý thuyết về Cây Sự Sống của hội Bình Minh Ánh Kim. Vì việc nắm giữ vị trí và đường dẫn sẽ cho chúng ta biết được nguồn năng lượng đang đi ở tại vị trí nào trên Cây Sự Sống, để từ đó mới có thể có được luận giải phù hợp.

Trong quá trình nghiên cứu về những bí ẩn của Cây Sự Sống, Mathers –người sáng lập hội Bình Minh Ánh Kim đã có những khám phá quan trọng. Ông liên kết cỗ Tarot 78 với thuyết vũ trụ trong huyền học Do Thái Cổ. Gắn kết 4 bộ đầu hình trong bộ ẩn phụ với 10 điểm trên Cây Sự Sống. Sắp đặt 16 hoàng gia của cỗ Tarot gắn với Tứ Tự Thánh Danh là YHVH. Đồng thời, ông đã gắn lá Chàng Khờ với chữ cái Hebrew đầu tiên là Aleph.

Về sau, Waite khi thiết kế nên bộ bài của riêng mình đã khéo léo lồng ghép những biểu tượng liên quan đến Cây Sự Sống vào trong cỗ Tarot của mình. Như ở lá Chàng Khờ, 10 vòng tròn trên áo tượng trưng cho 10 điểm trên Cây Sự Sống; và việc đặt 10 vòng tròn trên áo ám chỉ đến Ain Soph Aur bao quanh Cây Sự Sống, thể hiện lá bài này đứng ngoài sự xuất phát của các con số, và hơn thế nó còn được gán con số 0, con số của hư không. Bên cạnh đó, con chó nhỏ của Chàng Khờ còn tượng trưng cho kí tự Aleph với hình dạng tương tự mẫu tự này. Hay như ở lá Nữ Tu, tấm màn sau lưng bà được thiết kế theo hình dạng của Cây Sự Sống; và vị trí của lá bài này trên Cây được Waite ám chỉ bằng cách đặt trái lựu trên cùng tương ứng với Kether và cây thánh giá trên ngực nữ tu ở vị trí vòng 6 là Tiphereth. Tượng trưng cho lá này nối giữa Tiphereth – Kether.

Bộ Ẩn Phụ Và Tree Of Life

Các Lá Số:

Chúng ta có trong bộ ẩn phụ, gồm có bốn bộ tương ứng với bốn nguyên tố; và bốn thế giới, được thể hiện qua các đầu hình là Gậy –Lửa; ứng với Atziluth, Cúp –Nước; ứng với Briah, Kiếm –Khí; ứng với Yetzirah, Tiền –Đất, ứng với Assiah. Và các con số đi từ điểm số 1 ứng với bốn lá Ách, điểm số 2 ứng với bốn lá 2, cho đến điểm 10 ứng với bốn lá 10.

Con số 1 ứng với nguồn năng lượng thuần túy, cho đến con số 10 ứng với sự hoàn thành trong thực tại. Trên con đường đi, nguồn năng lượng dịch chuyển từ phải sang trái trên Cây Sự Sống; rồi ngưng ở giữa.

Kether – Bốn lá Ace
Chokmah –Bốn lá 2
Binah – Bốn lá 3
Chesed – Bốn lá 4
Geburah – Bốn lá 5
Tiphareth – Bốn lá 6
Netzach – Bốn lá 7
Hod – Bốn lá 8
Yesod – Bốn lá 9
Malkuth – Bốn lá 10

Thí dụ, chúng ta khi kết hợp những sự phân bố trên thì có thể biết được các lá số 2 thuộc về Chokmah. Song khi ở các bộ khác nhau thì lại ở trong thế giới khác nhau, như lá Hai Gậy sẽ là Chokmah trong Atziluth; và điều này mang lại cho lá bài nguồn năng lượng của lửa ở trạng thái tuyệt vời, mãnh liệt. Hay như lá Ba Gậy sẽ là Binah trong Atziluth. Tương tự, lá Hai Cúp là Chokmah trong Briah, lá Hai Kiếm là Chokmah trong Yetzirah, lá Hai Tiền là Chokmah trong Assiah.

Đi từ con đường khởi đầu tới hoàn thành, từ năng lượng thuần túy đến định hình trong đời sống thực tại, thì khi đạt đến trạng thái hoàn hảo ở thực tại nhưng mức độ năng lượng chứa đựng lại yếu nhất. Hệt như khi con người đi từ tuổi trẻ đầy nhiệt huyết đến tuổi già trầm mặc, thì các lá số 10 đại diện cho sự hoàn thành và chuyển đổi cho hành trình tiếp theo của đời sống bất tận.

Các Lá Mặt:

Các lá mặt sẽ tương ứng như sau: Knight – Yod, lửa. Queen – Heh, nước. King – Vav, khí. Page – Heh, đất. Thứ tự này theo hệ thống của hội Bình Mnh Ánh Kim, tiên phong là lý thuyết trong cuốn Book T của Mathers. Nó trái ngược với lý thuyết của Papus trong cuốn Tarot of the Bohemians. Ghép King với Yod và Knight với Vav.

Sự kết hợp này dựa trên triết học bốn nguyên tố cũng như kết hợp tứ tự thánh danh của thượng đế. Tứ tự này gọi là YHVH, Yod Heh Vav Heh, gọi là Tetragrammaton. Bốn bộ ẩn phụ được gán với các mẫu tự này, mặt khác Yod gán với lửa, tượng trưng cho yếu tố đầu tiên, là ánh sáng trong các thần thoại cổ. Không chỉ vậy, mà còn nhiều tôn giáo tôn thờ lửa, hỏa thần như Hỏa Giáo, Minh Giáo… Ngọn lửa, mang lại sự sống, là khởi nguyên của nền văn minh con người nhưng đồng thời cũng mang đến sự hủy diệt, phán xét quá các hình ảnh của Hỏa Ngục/ Luyện Ngục. Đồng thời, trong nhiều trường phái huyền học thì việc vượt qua lửa chính là vượt qua thân phận con người, hệt như việc luyện chì thành vàng, tự thân thành thần.

Tiếp đó, kí tự Heh đầu tiên, ứng với nước. Đại diện cho sự nuôi dưỡng sự sống, nguồn cội của vô thức tập thể. Mặt khác lại có ý nghĩa của việc lắng đọng, trật tự sau khi ngọn lửa hỗn mang qua đi. Sự sống bắt đầu nảy mầm. Tiếp theo, là kí tự Vav kết nối với khí, yếu tố đại diện cho ngôn ngữ, tinh thần, sự sống bắt đầu nảy nở trong một giai đoạn khó khăn. Sự chuyển luân bắt đầu. Yếu tố khí có liên quan nhiều đến ánh sáng, được nhắc đến trong Sáng Thế Ký. Điều này có thể thấy trong bộ ẩn chính, với bộ ba Nhật Nguyệt Tinh – The Sun The Moon The Star. Chúng không phải là ánh sáng đến từ các vì tinh tú, mà chúng là ý nghĩa thâm ảo của tinh thần con người. Chúng là ánh sáng bên trong tiểu vũ trụ của mỗi chúng ta.

Kí tự Heh thứ hai, kết nối với đất. Tượng trưng cho sự sáng tạo đã hoàn tất. Thế gian được tạo thành. Đất tượng trưng cho vật chất, thế giới hiện hữu, cơ thể của con người. Trong quan niệm của nhiều tôn giáo các thi sĩ, thì cõi trần là cõi sầu, bể khổ. Mà con người sinh ra đã mang nguyên tội thâm tím vai. Và thân xác của con người là thành lũy của lòng ham muốn vô độ, nơi trú ngụ của lũ quái vật trong chiếc hộp của Pandora, bệnh tật, cái chết, hy vọng. Sự tích lũy của đất dần dần sinh ra ngọn lửa hủy diệt. Và con người muốn vượt qua thân phận của mình thì phải dấn thân vào hành trình chạy, chảy, cháy, vượt qua hố thẳm bên trong tâm trí, để có thể tìm thấy con người chân thật của mình. Đây chính là sự thấu hiểu/ tự tri. Một trong những con đường để tìm thấy lại cõi niết/ thiên đường đã mất.

Vị trí trên Cây Sự Sống của các lá mặt như sau:

Kether - Ace
Chokmah -2 - King
Binah - 3 - Queen
Chesed - 4
Geburah - 5
Tiphareth - 6 - Prince
Netzach - 7
Hod - 8
Yesod - 9
Malkuth - 10 - Princess

King – Queen –Prince –Princess tuân theo danh pháp trong hệ thống gốc của Mathers. Mà khi chuyển đổi qua hệ thống của Waite, chúng ta sẽ có thứ tự: Knight –Queen –King –Page.

Ngoài ra, 16 lá mặt còn được đại diện bởi 16 vạch ẩn nằm trên Cây Sự Sống.

Trích sách Tarot Căn Bản

Address

Vancouver, WA

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tử Vi Tarot posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram