09/05/2025
CHĂM SÓC KHI TRẺ BỆNH LÚC GIAO MÙA
Giao mùa là lúc trẻ dễ mắc bệnh vì lúc này nguồn bệnh trong không khí gia tăng và có điều kiện thuận lợi phát triển. Theo thống kê, các bệnh đứng đầu liên quan đến những thời điểm này là viêm đường hô hấp trên, tiêu chảy, cảm cúm...
Tuy nhiên, không phải tất cả các vấn đề sức khỏe của trẻ nhỏ đều cần dùng thuốc hay kháng sinh. Việc hỗ trợ chăm sóc của cha mẹ khi trẻ bệnh tại nhà đóng vai trò không nhỏ trong việc giúp trẻ thoải mái và rút ngắn thời gian bệnh. Đây là những lời khuyên dành cho cha mẹ khi chăm sóc trẻ bệnh tại nhà.
KHI TRẺ SỐT…
Sốt chỉ là 1 dấu hiệu để bạn biết cơ thể trẻ đang đáp ứng chống lại sự tấn công của những tác nhân bên ngoài như vi khuẩn, vi rút… Khi cơ thể trẻ bắt đầu chiếm ưu thế hơn, cơn sốt sẽ giảm dần và trẻ hết sốt. Do đó, theo dõi nhiệt độ và quan sát chu kì sốt của trẻ khi trẻ sốt là điều quan trọng.
Cách hỗ trợ hạ sốt được khuyến khích khi trẻ bị sốt, nhằm giúp trẻ cảm thấy thoải mái hơn:
• Cho trẻ mặc quần áo thoáng mát, điều này cũng giúp trẻ giải phóng nhiệt tốt hơn
• Đắp trán bằng khăn mát, và lau mình trẻ bằng khăn ấm ở các vùng như mặt, dưới cổ, nách, bẹn để giúp cơ thể hạ nhiệt. Lau không quá 3 lần trong 4-6 giờ.
• Cho trẻ uống đủ nước hoặc bú mẹ thường xuyên.
Lưu ý khi trẻ sốt:
• Trẻ dưới 2 tháng tuổi sốt cần đi khám để được kiểm tra kĩ hơn.
• Trẻ sốt ở bất kì độ tuổi nào nếu có biểu hiệu như bỏ bú hay ăn, mất đáp ứng hay nôn ói cũng cần đi khám sớm.
KHI TRẺ HO…
Ho không phải là dấu hiệu xấu, mà nó được xem là cách phòng vệ của cơ thể trong việc cố tống những thứ như đàm, nhớt, vật chất vi khuẩn… ra khỏi đường hô hấp. Ho đi kèm với sốt có thể là trẻ đang bị viêm nhiễm bởi vi rút hoặc vi khuẩn.
Để giảm cơn ho của trẻ bạn có thể dùng một số cách tự nhiên được khuyên bởi các chuyên gia như sau:
• Nước ấm, nước chà là ngâm hoặc nước ép táo đỏ được khuyên nên dùng cho trẻ 3-12 tháng tuổi để hỗ trợ cắt cơn ho, đặc biệt về đêm, theo hướng dẫn của Healing Foods. Liều sử dụng là khoảng 5-15mL/lần, ngày khoảng 4 lần.
• Với trẻ từ 13 tháng tuổi, trẻ có thể dùng ½ muỗng café mật ong 30 phút trước giờ ngủ cũng giúp giảm cơn ho và ít thức giấc về đêm. Tuy nhiên, trẻ dưới 13 tháng tuổi là không nên dùng mật ong hoặc các thực phẩm chứa mật ong vì cơ thể trẻ dưới độ tuổi này dễ bị nhiễm độc tố từ mật ong.
• Mát-xa là 1 cách gần đây đã cho thấy nhiều hiệu quả trong việc giảm cơn ho, đặc biệt khi kết hợp với các phương pháp trên. Cách mát-xa khá đơn giản: Bạn dùng lòng bàn tay xoa nhẹ vùng ngực, xuống bụng theo 1 vòng tròn và sau đó dùng các đầu ngón tay như bấm phím đàn xung quanh phần ngực của trẻ là được. Làm động tác đó lặp lại 6 lần và ngày làm 2-3 lần. Có thể mát-xa sớm khi trẻ bắt đầu cơn ho và lúc bé tắm xong sẽ có hiệu quả tốt hơn.
KHI TRẺ CÚM…
Cúm là bệnh viêm đường hô hấp trên thường gặp nhất ở trẻ giai đoạn giao mùa, do virus gây ra. Trung bình trẻ dưới 5 tuổi sẽ có 6-7 lần bị cảm cúm, thay vì người lớn chỉ có 3-4 lần.
Cúm là bệnh phổ biến và lành tính nhưng nếu bệnh tiến triển nặng sẽ dẫn đến những biến chứng như viêm phế quản, viêm phổi, hen suyễn, nhiễm trùng tai… và có thể dẫn đến tử vong. Vì vậy, cha mẹ cần nắm rõ cách chăm sóc trẻ bị cúm tại nhà.
Một số cách đơn giản để chăm sóc trẻ khi bị cúm tại nhà :
• Vệ sinh mũi thường xuyên cho trẻ bằng nước muối sinh lý. Chỉ nên rửa mũi cho trẻ 3- 4 lần/ngày, lạm dụng quá sẽ làm ảnh hưởng đến niêm mạc mũi của trẻ
• Cho trẻ súc miệng nước muối giúp loại bỏ bớt các chất nhầy tích tụ sau cổ họng, do đó, cha mẹ cần nhắc con ngửa cổ lên khi súc miệng.
• Cho con uống đủ nước để giữ cho đường hô hấp ẩm, dễ dàng ho và khạc các chất nhầy khó chịu ra ngoài. Với trẻ còn đang bú mẹ thì nên cho trẻ bú mẹ thường xuyên hơn.
NHỮNG ĐIỀU CHA MẸ CẦN ĐẶC BIỆT QUAN TÂM KHI CHĂM SÓC TRẺ LÚC GIAO MÙA
Trẻ con dễ bị bệnh hơn người lớn là điều dễ hiểu vì hệ miễn dịch của trẻ còn rất non yếu, đặc biệt với các bé dưới 5 tuổi. Do đó, tiêm phòng đầy đủ là 1 cách giúp trẻ rèn luyện hệ miễn dịch kháng lại bệnh tật.
Bên cạnh đó, dinh dưỡng là yếu tố cha mẹ cần quan tâm hơn cả vì là yếu tố quyết định đến sức đề kháng của trẻ.
Nhóm nghiên cứu của TS. Dewey, ĐH California, Mỹ đã cho thấy dinh dưỡng đầy đủ và đa dạng trong giai đoạn nhỏ này là cần thiết trong việc giúp trẻ có “hàng rào miễn nhiễm” tốt và đáp ứng với đa dạng tấn công. Đây là những hợp chất dinh dưỡng quan trọng cần có hoặc nên được phối hợp trong bữa ăn của trẻ ở những thời điểm nhạy cảm này:
• Chất đạm và kẽm là cặp bài trùng quan trọng. Chất đạm cung cấp đa dạng nguyên liệu cho hình thành các hợp chất miễn dịch trong khi đó kẽm là chất xúc tác quan trọng cho nhiều phản ứng sinh học, trong đó có đáp ứng miễn dịch.
Do đó, thịt gà, cá, trứng và hải sản là nguồn đạm giàu kẽm nên phân bố vào ít nhất 2 bữa ăn trong tuần của trẻ.
• Lựa chọn các rau củ quả có màu vàng, cam, đỏ như cam, bưởi, cà rốt, nước ép ổi, cà chua…để bữa ăn của trẻ thêm đa dạng những chất chống oxy hóa quan trọng như vitamin C và Vitamin A. Cụ thể, Vitamin A đóng vai trò như 1 cái bẫy nhầy trong các khoang (khoang mũi, tai giữa) để bắt tất cả vi khuẩn cơ hội xâm nhập vào các khoang này. Vitamin C làm tăng sinh tế bào miễn dịch đặc hiệu B, T, nâng cao khả năng phòng bệnh.
• Bên cạnh những chất chống oxy hóa ở trên, Beta-glucan là hợp chất có vai trò tăng đề kháng tự nhiên quan trọng, góp phần vào sự phát triển và trưởng thành của một số tế bào miễn dịch của cơ thể. Tuy nhiên, Beta-glucan lại xuất hiện khá hạn chế trong thực phẩm, chỉ có thể tìm thấy trong: nấm, yến mạch, và nấm men. Hiện nay, nấm men là nguồn phổ biến được sử dụng để sản xuất Beta-glucan và đã có nhiều nghiên cứu lâm sàng chứng minh vai trò của nó trong hoạt động hỗ trợ tăng cường miễn dịch cho cả người lớn và trẻ em.
Hiện nay, hoạt chất đặc biệt Beta-glucan với Vitamin C, D và Kẽm nhằm tạo tác dụng hiệp đồng tối ưu trên hệ miễn dịch. Từ đó, giúp ngăn ngừa, cải thiện và giảm thiểu tối đa các bệnh do vi khuẩn, virus gây ra ở trẻ như ho, cúm, sốt, viêm họng…
Notes
Susannah Steel (2013) Healing Foods. Dorling Kindersley. London.
Ashkin, E., & Mounsey, A. (2013). PURLs: a spoonful of honey helps a coughing child sleep. The Journal of family practice, 62(3), 145–147
Chia sẽ từ Dr Anh Nguyên