Bài Thuốc Gia Truyền Của Bắc Kạn

Bài Thuốc Gia Truyền Của Bắc Kạn Đặc trị các bệnh thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, cùng hóa, suy tim, h?

06/05/2026

THIẾU MÁU và BỔ MÁU (1)
Chuyên đề thiếu máu thông thường

Nhiều bạn đồng nghiệp mới ra nghề, thường lúng túng trong vấn đề chữa thiếu máu: dùng bài thuốc gì để bổ máu, vì có nhiều bài, bài nào cũng hay (Tứ Vật, Quy Tỳ, Bát Trân…), nhưng khi dùng có ca tác dụng, có lúc lại gây tiêu chảy hoặc mệt thêm…
Một số bạn bị thiếu máu, không muốn đi khám, mà muốn tự cắt thuốc, mua thuốc để dùng…

Thiếu máu có 3 loại chính:
1. Thiếu máu thông thường: là do chế độ ăn uống thiếu dinh dưỡng, hoặc ăn uống tốt, nhưng bị bệnh đường ruột gây khó hấp thu, hoặc ăn uống kém, hay do mất máu cấp tính (mổ, rong kinh, rong huyết, trĩ nội xuất huyết…)…

2. Thiếu máu phức tạp: thiếu máu thông thường kèm 1 số bệnh nền khác như: tiểu đường, xơ gan, viêm khớp dạng thấp, gút, u xơ tử cung, bệnh tuyến giáp (suy, cường, viêm, u), suy thận…

3. Thiếu máu mãn tính, ác tính: suy tủy, giảm tiểu cầu, huyết tán…

Chuỗi bài viết này nói về chữa thiếu máu thông thường.
Đông Y thường cho thiếu máu là Khí Huyết Hư, vì Khí là Soái của Huyết, Khí thúc đẩy Huyết lưu hành. Vì vậy khi Huyết Hư (thiếu máu) thì Khí cũng Hư. Với Y học hiện đại, Khí tương đương chức năng thần kinh, lực co bóp cơ tim… Còn Huyết là Máu. Gọi tắt là Thiếu Máu cho dễ hiểu.

I. Thiếu máu sau sinh:
Người phụ nữ vốn đã thiếu máu, mệt mỏi, huyết áp thấp, chân tay lạnh, ăn uống kém... Khi mang bầu nghén không ăn được, sau khi sinh càng yếu đuối, hoa mắt chóng mặt, máu xấu (sản dịch) không ra hết, thiếu sữa, mệt mỏi…
- Cần dùng thuốc Bổ máu, thay máu cũ, đổi máu mới (Tống Cựu Sinh Tân).
- Tăng cường ăn uống đủ khẩu phần, dưỡng chất để có sức khỏe và sữa có đủ dinh dưỡng nuôi em bé.
- Người thiếu máu thì thường chân tay lạnh và huyết áp thấp, nên ít uống nước, vì vậy sẽ thiếu sữa. cần uống thêm nước khoảng 2,5 lít/ngày tính cả nước canh.
- Tránh ra gió lạnh, tránh tắm nước lạnh: phụ nữ sau sinh lỗ chân lông mở rộng (giống như người tập thể dục thể thao ra nhiều mồ hôi, người xông cảm lạnh), nếu gặp gió lạnh dễ bị cảm nhẹ, gây đầy bụng, ăn kém, từ đó suy nhược dần dần. Lâu ngày sinh ra gày mòn, tiều tụy, trào ngược dạ dày thực quản gây loét cổ họng, lúc nào cũng thấy vướng cổ, ho khan, hắng giọng, ngứa cổ họng (các cụ gọi là Hậu Sản Đuôi lươn-như có đuôi lươn ngoe nguẩy trong cổ họng, ĐY gọi là Mai Hạch Khí-hạt mơ mắc ở cổ)…

II. Bài thuốc điều trị:
Bài 1: Trường hợp sau sinh, máu xấu (sản dịch) không ra hết, gây bụng đầy khó chịu, xây xẩm mặt mũi, chóng mặt hoa mắt, sữa ít. Cần dùng thuốc thay máu cũ, đổi máu mới. Nếu bị táo bón thì dùng bài thuốc Sinh Hóa Thang:

1. Đương quy: 30g
2. Đào Nhân: 8g
3. Xuyên Khung: 12g
4. Gừng nướng: 3g
5. Cam Thảo: 2g

• Cách dùng: sắc với 1 lít nước, còn 600ml, chia 3-4 lần uống trong ngày. Uống trước hoặc sau bữa cơm 1-2 giờ.
• Chủ trị:
- Dùng cho sản phụ thiếu máu sau sinh hoa mắt chóng mặt, sản dịch ra không hết gây đau lâm râm noi bụng dưới, đau đầu, bụng đầy, ít sữa… Kèm đại tiện táo (phân cứng khó đi).
- Dùng cho phụ nữ thiếu máu bị u xơ tử cung, u giáp… có thể gia giảm để tăng tác dụng.
• Gia giảm:
- Táo bón nặng dùng Đào Nhân giã dập trước khi sắc.
- Ít sữa thêm lá Mít non tươi: 50g, Thông Thảo: 10g.
• Giải thích:
- Đương quy dùng lượng nhiều để bổ huyết, nhằm sinh huyết mới, thay huyết cũ. Đẩy máu dơ (sản dịch) ra ngoài.
- Xuyên khung hoạt huyết, thúc đẩy tuần hoàn, đưa máu lên não giảm hoa mắt. chóng mặt, đau đầu và đẩy máu dơ ra ngoài.
- Đào nhân phá huyết ứ, đẩy sản dịch ra ngoài, nhuận tràng thông đại tiện (chữa táo bón).
- Gừng tươi đem nướng chín, cháy vỏ ngoài, mục đích không làm xuất mồ hôi, gây hao tân dịch (Tân Tán), lại làm ấm bụng, ấm cơ thể, giúp tiêu hóa thức ăn.
- Cam thảo điều hòa vị thuốc, giảm cơn đau quặn bụng sau đẻ do sản dịch ứ đọng.
* Lưu ý: người đi ngoài phân lỏng không dùng.

Bài 2: dùng cho sản phụ sau sinh, thiếu máu ăn uống kém, hoa mắt chóng mặt, phân mềm hoặc hơi lỏng.
Tam Thất Bắc rửa sạch, phơi hoặc sấy khô, nghiền bột mịn.

• Cách dùng: mỗi lần lấy 1 thìa cà-phê hòa 100ml nước ấm, uống trước khi ăn hoặc sau khi ăn 1-2 giờ (uống lúc đói thì no bụng không ăn được cơm). Do người dùng không phân biệt được Tam Thất tốt, xấu, mốc, mới, nên chọn mua loại 5,5 củ/lạng/củ còn nguyên đất. Củ có nhiều vết lõm màu đen là mốc nặng hoặc mốc nhiều lần rửa lại. Nếu tần gà, chim câu thì cho 1 thìa cà-phê bột tam thất vào tần cùng.
• Tác dụng: sinh huyết mới, thay huyết cũ.
• Chủ trị: Bổ máu, sinh huyết mới, đẩy máu dơ còn sót, kích thích tiêu hóa, ăn ngon miệng, ngừa u hạch (vú, giáp, tử cung…).
• Gia giảm:
- Nếu máu dơ còn nhiều, ra không hết gây đau đầu, đau quặn bụng dưới gia: Tiên Khương Hoàng (Nghệ vàng tươi): 30g.
• Giải thích:
- Tam Thất chứa lượng saponin cao, nên có tác dụng tăng tuần hoàn máu mạnh (hoạt huyết mạnh), nên thúc đẩy máu dơ (sản dịch) ra ngoài, có thể phá tan cục máu đông mới hình thành.
- Tam Thất thuộc họ Nhân Sâm, là 1 chất bổ đắng rất mạnh (tiền khổ, hậu cam, hậu cam cam – ban đầu ăn thấy đắng, sau đó thấy ngọt, nuốt nước bọt cũng thấy ngọt, vị ngọt đọng lâu nơi cổ họng).
- Vị Đắng (Khổ) đi vào Kinh Thủ Thiếu Âm Tâm, làm tim co bóp mạnh hơn, đẩy máu tuần hoàn khắp cơ thể. Vị Ngọt (Cam) đi vào Kinh Thủ Thái Âm Tỳ Kinh, Kiện Tỳ, kích thích tiêu hóa, ăn ngon miệng. Tác dụng Hoạt Huyết (Hành Huyết, Lý Huyết) nhiều hơn Chỉ Huyết, do đó vừa ngăn ngừa khối u và làm các khối u nhỏ đi, đặc biệt là u máu gan, u tử cung, u vú, u giáp… vì vậy Tam Thất còn được người xưa gọi là Kim Bất Hoán (có các vàng cũng không đổi).
- Nếu Tam Thất kết hợp với Khương Hoàng, thì tác dụng Hoạt Huyết, Phá Huyết rất mạnh (làm máu lưu thông và phá tan cục máu đông mới hình thành mãnh liệt).
* Lưu ý: táo bón không dùng Tam Thất. Nếu thấy đắng khó uống thì thêm ít đường khi uống.

• Phụ phương: với người có sức khỏe bình thường, nhưng sản dịch ra không hết, gây đau quặn bụng dưới. Thực ra cơn đau quặn bụng là do tử cung co thắt để đẩy sản dịch, nhau còn sót ra ngoài, nhưng do cơ thể yếu, nên không ra được, gây nên cơ co thắt đau quặn bụng dưới. Ta dùng 1 trong các phương đơn giản sau:
- Rau ngót ta (loại lá dày): 100-200g, rửa sạch, giã nhuyễn, thêm 150ml nước ấm, vắt lọc lấy nước, cho sản phụ uống 1-2 lần, rồi ngừng.
- Tô Mộc (Gỗ Vang): 30g, sắc với 250ml nước, còn 150ml, chia 2 lần uống trong ngày, rồi ngừng.
- Tiên Khương Hoàng (Nghệ vàng tươi): 30g, giã nhuyễn, thêm 40ml nước ấm, cắt lọc bỏ bã, uống 1 lần. Cũng có thể dùng 30g nghệ vàng tươi đập dập rang với thịt gà ăn hàng ngày.
• Lưu ý: 3 bài trên là thuốc giúp tống sản dịch ra ngoài, không phải thuốc bổ, nên người bị sót nhau, sản dịch không ra hết mới uống, người không đau bụng dưới không uống, người bị xuất huyết tử cung không uống.

Các bài viết cùng chuyên mục:
- Thiếu máu nhẹ: Tứ Vật Thang
- Thiếu máu ở phụ nữ tuổi trẻ (sinh sản).
- Thiếu máu nặng ở phụ nữ, hoặc người trung tuổi trở lên.

Bắc Kạn 06/5/2026
Vũ Thủy

III. Thiếu máu nhẹ do thiếu sắt:
IV. Thiếu máu do dinh dưỡng kém:
V. Thiếu máu ở tuổi trung niên:

TÁN – THU – LỄMCó mấy bạn hỏi về nghĩa của 1 số từ ngữ trong ĐY. Nhiều từ như đã hiểu, mà lại không hiểu rõ. Từ ngữ tron...
03/05/2026

TÁN – THU – LỄM

Có mấy bạn hỏi về nghĩa của 1 số từ ngữ trong ĐY. Nhiều từ như đã hiểu, mà lại không hiểu rõ.
Từ ngữ trong ĐY đều là từ Hán, có rất nhiều nghĩa, trung bình à 1 chữ 6 nghĩa (Nhất tự lục nghì), vì vậy rất khó hiểu. Mỗi người dịch mỗi khác, giải nghĩa mỗi khác. Ngoài ra các từ ngữ này đã cổ xưa, nên ý nghĩa cũng ở thời gian đó. Vì ngón tay hơi to, gõ phím trên đt hay bị sai từ, nên viết bài chia sẻ về Tán, Thu, Liễm.

Tán: là trải rộng ra, mở ra, mở rộng ra.
Thu (thâu): thu lại, thu hẹp lại, giữ lại.
Liễm: là túm lại, buộc lại.

Tân Tán, Toan Thu Liễm.
Tân là vị Cay, vị Cay thì Tán.
Toan là vị Chua, vị Chua thì Thu Liễm.
Tân Khai: là vị cay có tác dụng khai mở. Chữ Tán và chữ Khai có ý nghĩa tương đối giống nhau.

Ví dụ trong thực tiền Lâm Sàng:
1. Một người khỏe mạnh, phải làm việc lâu dưới trời mưa lạnh, dẫn đến bị nhiễm Phong Hàn, sợ gió, sợ lạnh, mồ hôi không ra được.
- Theo ĐY thì tà khí Phong Hàn phạm vào Biểu, bệnh mới mắc, người bệnh còn khỏe nên gọi là Thực (thể Biểu Thực).
- Biểu lại thuộc về Phế (phế chủ bì mao), mà vị Cay (tân) đi vào Thủ Thái Âm Phế Kinh, nên dùng vị Cay có tác dụng mở lỗ chân lông (Tán) để đuổi Phong Hàn ở Biểu (nên gọi là Phát Tán Phong Hàn).
- Do có Hàn nên dùng vị thuốc có tính Ấm (ôn) để tăng tác dụng (nóng nở ra).
- Ta thấy có củ Gừng tươi, vừa có vị Cay, tính lại Ấm, nên đập dập, sắc, uống khi nước thuốc còn sôi nóng, vừa thổi vừa uống, để mượn thêm sức nóng của nước thuốc để làm xuất mồ hôi, rồi đắp kín chăn cho ra mồ hôi mạnh, Phong Hàn sẽ theo mồ hôi xuất ra ngoài cơ thể.
- Do vị thuốc Cay (Tân), tính Ấm (Ôn) nên còn gọi là Tân Ôn Giải Biểu (cay ấm hóa giải tà khí xâm nhập vào biểu).
- Trường hợp này cũng có thể dùng cháo hành tía tô ăn nóng và đắp chăn cho ra mồ hôi. Hoặc dùng bài Ma Hoàng Thang.
- Tân Tán: vị cay có tác dụng mở rộng (lỗ chân lông) để đuổi Tà Khí.
- Tân Khai: vị cay có tác dụng khai mở (lỗ chân lông) để đuổi Tà Khí.

2. Một người có cơ thể ốm yếu từ lâu, vì công việc nên phải làm việc lâu dưới trời mưa lạnh, bị nhiễm Phong Hàn, sợ gió, sợ lạnh, mồ hôi ra đầm đìa, người mệt muốn xỉu.
- Bệnh mới xâm phạm vào Biểu, mà người bệnh hư yếu, nên thuộc Hư (gọi Biểu Hư). Ta cần phát tán phong hàn, lại phải Bổ Hư, Thu Liễm mồ hôi (gọi là Cố Biểu, cố là giữ, cầm, là giữ vững vùng Biểu).
- Xét thấy có Vị Toan (chua) có tác dụng Thu Liễm là Bạch Thược. Cần thêm vị thuốc có tính Tân (cay) nhẹ và Ôn (Ấm) để đuổi Tà Khí Phong Hàn, thấy có vị Quế Chi phù hợp, thêm ít Gừng tươi, Cam Thảo và Đại Táo để thêm sức Ôn Bổ nhẹ nhàng (Quế Chi Thang), uống khi nước thuốc còn ấm. Khi thuốc có tác dụng thì người bệnh thấy mồ hôi ngừng chảy, cơ thể ấm lên.
- Tân Tán: trường hợp này vốn mồ hôi đã chảy, nên dùng vị cay nhẹ và lượng ít để không làm ra mồ hôi thêm.
- Toan Thu Liễm: dùng vị Chua để Thu lại (thu lỗ chân lông nhỏ lại) để giảm tiết mồ hôi. Và giữ lại (buộc túm lỗ chân lông lại) để mồ hôi không thoát ra nữa, ngừng chảy.
- Nguyên lý Toan Thu Liễm áp dụng cho các trường hợp Tự Hãn (tăng tiết mồ hôi, mồ hôi ra nhiều lúc thức) và Đạo Hãn (mồ hôi trộm, mồ hôi ra nhiều lúc ngủ). Cần phối hợp thêm thuốc chữa nguyên nhân (Bổ Khí…).

Bắc Kạn 03/5/2026
Vũ Thủy

THOÁI HÓA KHỚP GỐIVà CỨNG KHỚP NGÓN TAYCụ bà sấp sỉ 80 xuân, bị thoái hóa 2 khớp gối nặng đã nhiều năm. Đứng ngồi khó kh...
17/04/2026

THOÁI HÓA KHỚP GỐI
Và CỨNG KHỚP NGÓN TAY

Cụ bà sấp sỉ 80 xuân, bị thoái hóa 2 khớp gối nặng đã nhiều năm. Đứng ngồi khó khăn, không thể ngồi xổm, khoanh chân, lên xuống cầu thang là một cực hình. Còn kèm theo:
- Thoái hóa cứng các đốt khớp ngón tay, sờ nắn cả buổi sáng mới mềm ra ít, cầm nắm khó.
- Mùa đông chân tay lạnh buốt, đi 2 tất vẫn còn thấy lạnh, may có máy sưởi cũng đỡ.
- Lưng đau mỏi rũ.
- Ăn uống kém, không ngon miệng.
- Tiểu đêm 4-5 lần (dù kiêng uống nước, ăn canh buổi tối) và mất ngủ trầm trọng. Mỗi lần tiểu đêm thì ngại gọi con cháu, gđ lo bà ngã vì chân yếu, phải vịn tường đi.

Nghĩ bệnh tuổi già nên gđ chỉ cần chữa đỡ đau 2 gối, đi lại khỏi ngã là được.
• Qua Vấn Chẩn ta định bệnh: Lý Hư Hàn Âm
• Phép trị: Bổ Dương, Trừ Hàn.
• Bài thuốc: “Tất Đảng Cước Thần Phương” hoặc “Bát Vị Địa Hoàng Hoàn” gia các vị thuốc Bổ Thận Tráng Dương.

Kết quả:
- Sau 1 tháng: tiểu đêm còn 1 lần, có tối không đi. Ngủ ngon hơn. Chân tay bớt lạnh nhiều (60%). Ngón tay cũng mềm ra ít (30%). Lưng và gối có đỡ ít không đáng kể (5-10%).

- Sau tháng thứ 2: các đốt ngón tay mềm mại hơn nhiều. Lưng, gối đỡ đau mỏi hơn chút nữa (khoảng 20-30%), đi đường bằng thấy dễ chịu hơn. Chân tay gần như hết lạnh. Tiểu đêm hôm nào ăn canh thì đi 1 lần.

- Sang tháng thứ 3: hai tay có thể múa dẻo được. Lưng, gối đỡ khá. Ngủ được khá.

- Nay vừa hết tháng thứ 4, lấy tiếp 1 tháng nữa và tạm nghỉ, vì mọi triệu chứng đã khá hơn rất nhiều. Ngồi xổm được sát chân đùi, nhưng đứng lên phải hơi gượng hoặc chống tay nhẹ. Lên xuống cầu thang khá hơn rất nhiều, tuy vẫn phải vịn vào tay cầu thang cho chắc chắn, nhưng không phải chống tay vào gối để bước lên. Lúc bước xuống cũng không còn đau chói như trước.

• Tổng cộng:
- Liệu trình gồm 4 tháng thuốc (chưa kể lấy thêm 1 tháng này).
- 3 lạng Quy Lộc Nhị Tiên Giao, dùng 3 tháng đầu, mỗi tháng 1 lạng.
- Nhiều bữa canh cua trong hơn 1 tháng gần đây, thêm tôm, ngao… theo chỉ định của Thủy.

• Lời bàn:
- Thể bệnh kể trên khá hợp với bài “Độc Hoạt Tang Ký Sinh Thang gia giảm”. Nhưng Thủy không dùng, bởi vì bài thuốc này chỉ chữa dạng bệnh nhẹ, thuộc về Khí Huyết. Bà cụ đã 80 tuổi, bệnh đã nặng, nên phải chữa vào Âm Dương (Thủy Hỏa) vậy (lời của Y Tổ Hải Thượng Lãn Ông).

- Bài thuốc dùng là dạng “Bát Vị Địa Hoàng Hoàn” gia thêm các vị thuốc Bổ Thận Tráng Dương. Thêm Quy Lộc Nhị Tiên Giao để được hoàn mỹ.

Không quá lời khi nói rằng: Thuốc Đông Y có thể Cải Lão Hoàn Đồng là vậy.

Thày thuốc chữa bệnh hay bệnh nhân cũng vậy, phải kiên trì đủ ngày tháng mới đỡ, khỏi bệnh. Giống như trồng lúa (khoai, rau, cây ăn quả): cày ải, vào nước, bừa tơi nhuyễn, gieo mạ, nhổ mạ, bón phân và cấy lúa. Nhổ cỏ, bón thúc, chờ cơn mưa rào để lúa trưởng thành trổ đòng đòng (cơn mưa này gọi là Cốc Vũ: cơn mưa cho thóc, gạo), rồi lúa chín, gặt lúa, tuốt lúa, phơi thóc, xay xát thành gạo, nấu lên chín cơm mới ăn được.

Quy trình chữa bệnh cũng vậy: chẩn đoán bệnh (Tứ Chẩn), định bệnh (Bát Cương), đề ra phương pháp điều trị (Bát Pháp), phối vị thành bài thuốc (đối chứng lập phương), hoặc dùng bài thuốc phù hợp gia giảm, mỗi tháng lại update (gia giảm theo sự tiến triển của bệnh, để đạt hiệu quả nhanh hơn, tựa như đẩy xe chạy nhanh, khi đã có đà thì xe cứ bon bon thẳng tiến - gọi là Thuận nước đẩy thuyền hay thuận thủy thôi châu là vậy).

- Đỡ, khỏi bệnh: người trẻ tuổi, trung tuổi uống chưa hết liệu trình chữa bệnh, đỡ rồi ngưng, thì bệnh sẽ tái phát. Khi tái phát phải chữa lại từ đầu. Nếu uống đủ thời gian và dùng thuốc loại tốt, đắt tiền một chút thì khỏi dứt bệnh. Với tuổi già, bệnh sẽ đỡ được lâu hay ngắn, thì tùy vào thời gian uống thuốc. Uống đủ thời gian, thì bệnh đỡ rất lâu. Có khi cưỡi hạc về trời cũng chỉ tái phát nhẹ, hoặc chưa kịp tái phát, tùy cách gia đình chăm sóc.

Đôi khi ta cho là bệnh tuổi già là: tiểu đêm nhiều lần, mất ngủ, ngứa điên người, tiểu đường, huyết áp cao, đột quỵ, lú lẫn, lạnh chân tay… Nếu ông bà, cha mẹ mà khỏe, thì con cháu cũng vững tâm làm việc. Ông bà, cha mẹ yếu đau liên miên, con cháu phải bận rộn chăm sóc…

Thủy đã giúp nhiều nàng dâu có tiếng hiếu thảo chỉ vì lời khuyên chân thành: “bố mẹ chồng và bố mẹ đẻ đau yếu, đi lại khó khăn, rồi cũng đến lượt chị, em phải chăm. Nếu không chăm thì phải thuê người chăm, cũng khá tốn kém. Chăm sóc cho bố mẹ đôi bên đều khỏe, thì chị, em cũng nhàn, lại được tiếng hiếu thảo. Đói thì ăn cơm, đau thì uống thuốc vậy đó.

Những người còn trẻ cũng nên tự chăm sóc mình, nghe ngóng cơ thể xem có gì thay đổi, bất ổn, kịp thời bảo dưỡng ngay, đợi đến khi bệnh nặng lại tốn tiền mà chưa chắc khỏi bệnh.

• Tất Đảng Cước Thần Phương (tất là đầu gối; đảng là các cử động của chân, gối; cước là chân; ý là bài thuốc hữu hiệu chữa chân gối đau nhức).

Bắc Kạn 17/04/2026
Vũ Thủy

16/04/2026

CHỮA BỆNH TÙ MÙ, THEO SÁCH
và CHỮA BỆNH THEO ĐÔNG Y

Nhiều bạn thắc mắc, hỏi rằng:
- Em vẫn dùng các bài thuốc Cổ Phương và các bài thuốc Gia Truyền để chữa bệnh. Sao thày bảo rằng đó là chữa tù mù?
- Em dùng các bài thuốc kinh điển của Y Học Cổ Truyền, các bài này nổi tiếng và đã được tổng kết. Tuy có ca đỡ, khỏi, ca không tác dụng. Sao thày bảo rằng đó là chữa tù mù?
- Em chữa theo chương trình đã học, nhưng hiệu quả thấp. Đặc biệt có nhiều ca Âm Hư Sinh Nội Nhiệt thì phản tác dụng…

Đông Y được hệ thống chặt chẽ giống như Y Học Hiện Đại (YHHĐ):
- Khám bệnh = (Chẩn Đoán bệnh chứng: Tứ Chẩn);
- Kết luận bệnh = Bát Cương;
- Họp và đưa ra phác đồ điều trị = Bát Pháp;
- Đơn thuốc điều trị = Bài Thuốc
- Hiệu chỉnh đơn thuốc = Gia Giảm theo từng đợt.

Quy trình trên là bắt buộc cần thực hiện với bất cứ bệnh nhân nào. Nhưng rất nhiều thày thuốc cả Gia truyền và Đi học chính quy (được đào tạo qua các lớp về YHCT-ĐY), đều không tuân thủ theo kiến thức đã học, mà chữa theo lối của YHHĐ, ví dụ:
- Tuy có dùng Tứ Chẩn, hỏi đáp, nghe ngửi, quan sát, sờ nắn, bắt mạch. Nhưng sau đó lại dùng bài thuốc Gia truyền hoặc Cổ phương. Vậy thì còn dùng Tứ Chẩn hay bắt mạch làm gì nữa.

- Có người chỉ cần xem kết quả Chụp chiếu X-Q hoặc MRI, như Thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm… vậy là cắt ngay bài thuốc cổ phương kinh điển là “Độc Hoạt Tang Ký Sinh Thang” hoặc gia giảm, trăm người như một. Kết quả có người uống thì đỡ khỏi, có người không tác dụng, lại có người nặng bệnh thêm, khó chịu, đầy bụng, đau dạ dày, tăng huyết áp…

- Gặp bệnh nhân trung hoặc cao tuổi, bị chứng mất ngủ, tuy có dùng Tứ Chẩn, nhưng chỉ dùng các vị thuốc An Thần như: Liên Tâm (Tim Sen), Lạc Tiên, Trinh Nữ Thảo (Xấu Hổ), Hải Đồng Diệp (lá Vông), Bình Vôi, Táo Nhân… kết quả chỉ có tác dụng ban đầu, dần nhờn thuốc (quen thuốc) không còn tác dụng nữa.

- Hoặc cũng mất ngủ ở người trung tuổi, cao tuổi, dùng Hoạt Huyết Dưỡng Não để chữa trị. Ban đầu thấy hiệu quả, sau quen thuốc thì không thấy tác dụng nữa. Người bệnh cũng được các thày thuốc khám, Chẩn đoán cẩn thận…

• Vậy nên tất cả các phương pháp Chẩn đoán, trị liệu kể trên đều là lối mòn, tù mù, bởi đã hình thành bài thuốc có sẵn trong đầu, thì cần gì Bắt mạch, Vấn Đáp, Nghe Ngửi, Quan Sát làm gì nữa.

• Mặt khác các bài thuốc Cổ phương, do người xưa khám, chẩn đoán… để chữa trị cho 1 bệnh nhân cụ thể. Người xưa cách đây mấy ngàn năm, mấy trăm năm so với bây giờ cũng khác nhau. Cụ thể:

- Bệnh Cam Tẩu Mã: do 1 loại virus ăn loét miệng, lưỡi, cổ họng, môi miệng, lợi (nướu, làm răng rụng nhanh như ngựa phi). Nếu không chạy chữa kịp thời gây nguy hiểm tính mạng. Ngày nay không còn.

- Bệnh rò tủy xương: cũng do 1 loại virus, vi khuẩn, gây viêm lỗ tủy xương, thối thịt ở vùng tủy xương đó, bệnh kéo dài nhiều tháng. Ngày nay ít thấy.

- Bệnh tiểu đường loại 2, ngày xưa hiếm thấy (chỉ có loại 1, do khiếm khuyết của tuyến tụy). Nhưng ngày nay thì rất phổ biến.

- Bệnh Gout (gút) ngày xưa cũng không có, ngày nay thì rất nhiều….

Tuy vậy nhưng nhiều bài thuốc Cổ phương rất hữu hiệu khi gặp đứng người bệnh, có các triệu chứng trùng hợp với chỉ định của bài thuốc.

• Xin phân tích thêm ví dụ về bệnh thoái hóa cột sống: ĐY chia ra nhiều thể bệnh:
1. Thoái hóa cột sống do Khí Huyết Hư: thường gặp ở phụ nữ trẻ tuổi (26-35), sau khi sinh 1-2 con, bị thiếu máu (Khí Huyết Hư). Nguyên nhân cơ thể vốn yếu đuối, khi mang bầu và sau sinh không được bồi bổ hợp lý hoặc nghén không ăn được, dẫn đến thiếu máu. Hoặc sau sinh không kiêng cữ, nên bị cảm nhẹ, dẫn đến đầy bụng, ăn uống kém, dẫn đến suy nhược cơ thể, tiều tụy. Người bệnh đau lưng khủng khiếp, nhất là khi đến chu kỳ kinh, lượng kinh ít, sắc đen, kèm theo hoa mắt, chóng mặt, nặng hơn thì choáng váng, da nhợt nhạt, mắt nhìn không rõ, tai ù, có thể kèm rối loạn tiền đình (chao đảo), tay chân yếu mỏi, đi xe máy lâu sẽ tê rần 2 tay (nhất là đi xe máy ở đường gồ ghề), mỏi cổ gáy, hay vã mồ hôi khi căng thẳng, chỉ thích nằm (nằm thì máu dễ chảy đến não, nên dễ chịu), ngủ hay giật mình, hồi hộp, trống ngực, hay loan nhịp tim, mơ ác mộng, đầy bụng, đầy hơi, trào ngược dạ dày thực quản, chân tay lạnh…

2. Thoái hóa cột sống do Phong Hàn: (hay gặp ở người trung tuổi và cao tuổi) đau lưng, sợ gió, sợ lạnh, gặp lạnh đau tăng. Đầy bụng (tiêu hóa chậm), đầy hơi chướng khí (bụng căng như cái trống, vỗ bụng kêu bồm bộp, lúc sau xì-hơi hoặc ợ hơi thì đỡ), phân lỏng nát hoặc táo nát, chân tay lạnh, Tê Mỏi tứ chi, cổ gáy cứng đau. Trời nắng hoặc tắm nước nóng thì thấy đỡ đau. Trời mưa lạnh, mùa đông hoặc trời sắp chuyển mưa thì đau tăng. Bệnh lâu gây ăn ngủ kém, nhức mỏi thêm các khớp…

3. Thoái hóa cột sống thể Phong Hàn Thấp: Hay gặp ở tuổi trung niên, cao niên. Sợ gió lạnh, gặp gió lạnh thì đau tăng, thời tiết ẩm thấp (mùa xuân) thì đau nhức ê ẩm dọc cột sống rất khó chịu. Tứ chi Tê Bì, như có phù thũng mà không phải. Ăn ngủ kém, bụng lạnh đầy đau, rối loạn tiêu hóa, có lúc đi ngoài ra toàn nước, lúc lổn nhổn vừa táo vừa nát, đầy hơi chướng khí, có lúc xì hơi ra cả phân… Chườm ấm hoặc tắm nước ấm nóng, hay thời tiết ấm nóng thì thấy đỡ đau nhức. Trời mưa lạnh, trời ẩm ướt, mùa đông thì đau nhức khôn tả. Trời sắp chuyển mưa cũng đau nhức, đi đám ma, đám bốc mộ về cũng đau nhức… Xem X-Q có các mấu g*i xương quá phát, nặng thì toàn đốt sống đều có g*i, lưng cứng như tấm phản, khó cúi ngửa.

4. Thoái hóa cột sống do Phong Nhiệt, Phong Thấp Nhiệt: gặp ở các lứa tuổi, ít gặp hơn thể Phong Hàn, Phong Thấp Hàn. Những năm 2020 trở lại đây thì gặp nhiều. Chia làm 2 thể:

- Người có Cơ Thể Lạnh, chân tay lạnh, nhưng Chỗ Đau Ấm Nóng (chỗ thoái hóa), Bụng Nóng, bụng đau nóng đầy, có thể kèm đầy bụng, đầy hơi, xì hơi hoặc ợ hơi thì đỡ, đi ngoài phân lỏng nát, hoặc táo nát, có lúc đi té ra như nước, có cảm giác Nóng Hậu Môn.

- Người có cơ thể Ấm Nóng, chỗ đau sờ thấy ấm, nóng. Kèm bụng nóng đầy đau, ợ hơi nóng, bụng đầy khó chịu, ợ hơi hoặc xì hơi thì đỡ. Đi ngoài phân lỏng, táo, nát, có lúc đi lỏng toàn nước, Nóng Hậu Môn. Đắp thuốc mát vào chỗ đau thấy dễ chịu. Cả 2 thể này có thể kèm Tiểu đường nhẹ, Huyết áp cao…

5. Thoái hóa cột sống do Thận Hư (Suy): thường gặp ở người cao tuổi, từ 60 tuổi trở lên. Lưu ý: theo ĐY Thận chủ Cốt Tủy, xương khớp tổn thương nặng đều do Thận đã bị suy yếu. Khác với Suy Thận, Thận Hư của Tây Y. Người bệnh đau mỏi thắt lưng như muốn gãy rụng rời, kèm gối mỏi, chùn chân. Ê ẩm nhức mỏi tất cả các khớp toàn thân. Cũng chia làm 2 thể nhỏ là Thận Âm Suy và Thận Dương Suy:

- Thể Thận Âm Suy: cơ thể nóng, khát nước, chỗ đau nóng, trong tận xương tủy cũng có cảm giác nóng âm ỉ, bụng nóng, táo bón. Có thể kèm tiểu đường, huyết áp cao, tính nết nóng nảy, mặt đỏ, nhất là 2 gò má đỏ, tiểu ít (nếu kèm tiểu đường thì tiểu nhiều). Tắm, chườm mắt, ăn uống mát thì dễ chịu.

- Thể Thận Dương Suy: cơ thể lạnh lẽo nhiều năm, chân tay lạnh, gặp thời tiết lạnh đau tăng, cơn đau như dùi đâm, lưng như muốn gãy rời, phân có lúc lỏng, nát hoặc táo bón (tùy người), bụng đầy đau, huyết áp thấp hoặc lúc thấp lúc cao, tính tình có lúc bột phát nóng nảy, cáu gắt (khác với Thận Âm Suy lúc nào cũng nóng nảy). Tiểu trong dài hoặc tiểu nhiều lần, mỗi lần chỉ được ít. Tắm nước nóng, chườm ấm, đắp thuốc nóng… thì đỡ đau và dễ chịu ngay lập tức.

6. Thoái hóa thể Huyết Ứ: thường do tai nạn, sang chấn, chia làm 3 thể nhỏ:
Chấn thương bên ngoài cột sống: thường do té ngã, đánh đập, không tác động đến vị trí đốt sống hoặc sứt mẻ đốt sống, chủ yếu bị bầm tím (tụ máu). Thể này nhẹ nhất, dễ chữa. Trường hợp Chấn Thương bầm tím ở lưng, cột sống (không ảnh hưởng đến vị trí, đốt sống) thì dùng thuốc Hoạt Huyết, Hành Khí để chữa (1 trong Các Bài Thuốc Lý Huyết)- Cũng có thể dùng 1 trong các loại Nghệ (nghệ vàng, nghệ đen, nghệ trắng, vạn ác…) giã nát, hơ nóng, đắp.

- Chùn đốt sống: do ngã ở tư thế ngồi, do ngã trên mái nhà bằng tấm lợp, ngã xe đạp… đốt sống bị trượt ra khỏi vị trí. Nếu đốt sống đã bị thoái hóa nặng, có thể sụn-xẹp đốt sống. Nặng có thể chèn ép gây dập, đứt tủy sống, nguy hiểm tính mạng.
Trường hợp khác: do mát-xa, xoa bóp có thao tác “Dẫm chân lên lưng” hoặc bấm huyết mạnh, hoặc dùng dụng cụ tác động rất mạnh vào thân đốt sống (dùng búa và dụng cụ đập vào cột sống…), làm đốt sống trượt ra trước, chèn ép và dập, đứt tủy sống. Dập tủy nhẹ thì liệt 2 chân, dập nặng và đứt thì nguy tính mạng. Nên tuyệt đối không nên cho ai dẫm lên lưng, người khỏe mạnh thì không sao, người cơ địa yếu, cơ nhục nhũn nhẽo, hoặc thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống nặng sẽ dễ bị trượt đốt sống. thể Trượt đốt sống, thì làm mềm cân cơ, rồi dùng thủ thuật đưa đốt sống về đúng vị trí (trường hợp bị dập tủy sống nặng và đứt tủy sống thì khó sống, thuộc mệnh trời). Thủ Thuật đưa đốt sống vào đúng vị trí (nhất là trượt đốt sống ra trước) đã được Thủy giới thiệu trên fan page “Bài Thuốc Gia Truyền của Bắc Kạn” này, các bạn tìm đọc.

- Giãn dây chằng cột sống (sút lưng, tiếng Tay, Nùng là liăng bép): do khi mang vật nặng mà bị sai tư thế, hoặc người bị bệnh cột sống (thoái hóa, gân cơ dây chằng nhũn nhẽo…) không mang vật nặng, nhưng đứng sai tư thế…
Trường hợp bị Giãn Dây Chằng thì dùng thuốc cường cân, kiện cơ (cường kiện cân cơ) để chữa.

Chỉ với bệnh chứng Thoái Hóa Cột Sống, mà đã chia làm nhiều thể như kể trên, nếu chỉ dùng 1 bài thuốc “Độc Hoạt Tang Ký Sinh Thang gia giảm” hoặc 1 bài thuốc gia truyền khác thì:

- Thể Phong Hàn và Phong Hàn Thấp đỡ, khỏi dứt điểm: Khỏi.

- Thể Khí Huyết Hư cũng có thể khỏi dứt điểm (vì là nhẹ nhất) nhưng có thể gây khó chịu ở bụng: Đỡ, Khỏi (nếu bị viêm-loét dạ dày thì không dùng).

- Thể Thận Dương Hư Suy có tác dụng đỡ, nhưng không khỏi dứt điểm, hoặc giảm được đau lưng, gối nhưng các triệu chứng khác kèm theo không thấy giảm: Đỡ

- Thể Thận Âm Hư Suy: phản tác dụng, bệnh nặng hơn, khó chịu hơn (tăng nặng). Đây không phải là “Phản Ứng Công Thuốc” do liều lượng cao, mà là dùng thuốc sai bệnh: Không Đỡ Khỏi còn Tăng Nặng (Nhiệt Ngộ Nhiệt Tắc Cuồng).

- Thể Thấp Nhiệt và Phong Thấp Nhiệt: do bài thuốc trái ngược chứng bệnh nên đau dữ dội và khó chịu vô cùng, hay nói cách khác bệnh tăng nặng. Không phải do “Phản Ứng Công thuốc do dùng liều lượng cao, mà bệnh chứng và thuốc trái ngược nhau, đây chính là “Nhiệt Ngộ Nhiệt Tắc Cuồng”: Không Đỡ Khỏi còn Tăng Nặng.

- Với thể Huyết Ứ: tùy cơ địa mỗi người, nếu người bệnh bị chân tay lạnh, cơ thể lạnh, tuổi từ 60 trở xuống thì có tác dụng: Đỡ.

Như vậy với chứng minh bằng thực tiễn các thể bệnh trên, nếu Bạn dùng Tứ Chẩn xong (hoặc bắt mạch xong), rồi vẫn cứ cắt bài “Độc Hoạt Tang Ký Sinh Thang” hoặc dù gia giảm thì chỉ tác dụng với tối đa 40%.

Cũng có thể tạo ra 1 bài thuốc có tính trung bình, để điều trị rộng, phù hợp với tất cả các thể bệnh: Cấp, Mãn, Khí Huyết Hư, Phong-Hàn-Thấp-Nhiệt, Huyết ứ, Thận Hư... nhưng bài thuốc sẽ tăng giá thành và thời gian chữa sẽ chậm đi (giống như chế phẩm "Thuốc Ho Bảo Thanh" hoặc "Bổ Phế Chỉ Khái Lộ" của 2 hãng dược Bảo Thanh và Nam Hà, 2 bài có phổ chữa bệnh khá rộng, ứng với cả cấp, mãn, hư, thực, hàn, nhiệt, ho khan, ho gió, đờm nhiều... nhưng giá thành cao và chậm hơn thuốc chuyên biệt.

Để đạt được hiệu quả cao hơn, ta cần dùng bài thuốc phù hợp với từng thể bệnh, hay cơ địa từng người là vậy. Ta cần ứng dụng thực tế Học đi đôi với Hành. Cứ làm theo chương trình bạn học là ok. Nếu học 1 đằng, làm 1 nẻo thì không khác gì chữa bệnh tù mù, chữa bệnh theo sách vậy.

Câu chuyện “Phúc Thống Phục Nhân Sâm….. Tắc Tử” là câu chuyện có thật, người xưa viết ra để cảnh báo chúng ta: cần học đến nơi đến chốn, học đi đôi với hành, Những gì ta chưa hiểu phải tìm học đến khi hiểu. Cũng có thể tìm “Minh Sư” để học hỏi.

*Minh Sư: minh là trong sáng, sánh suốt, sáng. Sư là thày, vị thày sáng suốt.

Bắc Kạn 16/04/2026
Vũ Thủy

Send a message to learn more

12/04/2026

THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM, CHÈN ÉP THẦN KINH TỌA

Bác trai bị Thoát vị đĩa đệm, chèn ép dây Thần kinh tọa 2 bên, tê buốt nhức 2 mông, đùi, chân. Sau 1 tháng bác cảm giác đỡ 70-80%. Thủy cho rằng chỉ đỡ 20-30% thôi, nhưng vậy cũng là nhanh rồi.
Bác gái bị Thoái hóa cột sống thắt lưng, Thoát vị nội xốp, chèn dây Thần kinh tọa, Thoái hóa khớp gối bên trái nặng hơn, Ù tai lúc ngủ, nửa đêm tỉnh giấc... sau 1 tháng cũng đỡ khoảng 20-30%.

Trước đó cả 2 vợ chồng bác tiêm thuốc hết mấy chục triệu. Thực phẩm chức năng và cắt thuốc của nhiều thày, tổng cộng hơn 100 củ. Đoạn hơn 100 củ bác nói lúc liên hệ.
Hai bác đặt mua thuốc loại tốt, nên hiệu quả sẽ nhanh hơn.
Thủy giữ nguyên giá như cũ nhưng vẫn chia làm mấy loại. Bệnh nặng hoặc loại thuốc cao cấp sẽ nhanh hơn. Những ca Thoát vị đĩa đệm nặng, cùng hóa, chèn ép nặng đi lại khó khăn nên cắt loại tốt để nhanh đỡ khỏi. Ngoài ra có thể dùng thêm Cao tổng hợp, giúp nhanh phục hồi.

Một lời khuyên chân thành: dù bạn có bị thoái hóa cột sống hay không, bạn có bị Thoát vị đĩa đệm hay không, thì đừng bao giờ để ai dẫm chân lên lưng và bấm huyệt mạnh vùng lưng. Sẽ gây hậu quả là trượt đốt sống lưng ra phía trước. Rất khó đưa về vị trí ban đầu, rất nhiều người ở BK đã bị dù Thủy cảnh báo từ hơn chục năm nay. Nếu ko may bị trượt đốt sống ra trước thể nhẹ và vừa thì Thủy có thể sẽ giúp phục hồi được nguyên trạng. Nhưng nếu bị nặng sẽ bị đập hoặc đứt tủy sống thì không thể chữa được, rất nguy hiểm tính mạng (thuộc về mệnh không thể thay đổi).

Tuy Thuy có phương pháp riêng để điều trị theo kinh nghiệm, nhưng bí quyết cũng không nằm ngoài Y Lý Đông Y là: Tứ Chẩn, Bát Cương và Bát Pháp.

Về Dược Lý, cũng đều là các vị thuốc thông dụng. Có 2-3 vị độc đáo, nhưng nếu không có Lạc Thạch Dằng, Thân Cân Thảo, Xú Ngô Đồng, Không Tâm Mộc thì Thủy vẫn thay bằng Bạch Phấn Đằng (chìa vôi), Dây Tơ Hồng (cả vàng lẫn xanh) cũng rất hiệu quả.

LẠC LỐI TRONG ĐY (3)Sai chỉ định của bài thuốc: Cầm MáuMấy ngày qua Thủy nhận được nhiều cuộc gọi tư vấn, của người bệnh...
11/04/2026

LẠC LỐI TRONG ĐY (3)
Sai chỉ định của bài thuốc: Cầm Máu

Mấy ngày qua Thủy nhận được nhiều cuộc gọi tư vấn, của người bệnh… về tác dụng Cầm Máu (Chỉ Huyết) của Lá Tre, Tam Thất Bắc, Quy Tỳ Thang và Bổ Trung Ích Khí Thang.

Trong Đông Y (ĐY) các chứng chảy máu (xuất huyết) được chia ra làm 4 loại. Khi chữa cũng dùng thuốc tương ứng mới hiệu quả:
- Xuất Huyết do Huyết Nhiệt (máu nóng, thường gặp trẻ em, lứa tuổi thanh, thiếu niên và nhi đồng hoặc các trường hợp xuất huyết do sốt). Thì dùng thuốc Lương Huyết Chỉ Huyết (làm mát máu để cầm máu) hoặc dùng thuốc làm mát với thuốc cầm máu. Vị thuốc: Hạn Liên Thảo (cỏ mực, cỏ nhọ nồi), Trắc Bách Diệp, Huyết Dụ, Liên Diệp…

- Xuất Huyết do Huyết Hàn (do lạnh, thường gặp ở phụ nữ rong kinh, rong huyết). Thì dùng thuốc Ôn Kinh Chỉ Huyết (làm ấm để cầm máu) hoặc dùng thuốc làm ấm cơ thể kết hợp thuốc Cầm máu. Hắc Can Khương (gừng khô sao cháy đen bên ngoài)+ Thục Địa…

- Xuất Huyết do Huyết Ứ (do chấn thương, xuất huyết do giảm tiểu cầu có tụ máu bầm tím từng mảng dưới da). Thì dùng Hoạt Huyết Chỉ Huyết (làm máu lưu thông và cầm máu). Vị thuốc như: Tam Thất Bắc, Bồ Hoàng, Đại Hoàng… Hoặc kết hợp giữa thuốc Hoạt Huyết (Lý Huyết, Hành Huyết) với thuốc Chỉ Huyết (Xuyên Khung, Xích Thược… với Hòa Hoa Thán…).

- Tỳ Hư Xuất Huyết, theo ĐU thì Tỳ có chức năng Thống Huyết, Nhiếp Huyết (quản lý đường đi của máu), do Tỳ Hư nên không Thống (nhiếp) được huyết nên gây Xuất Huyết. Dùng thuốc Thu Liễm Chỉ Huyết (gom máu đi sai đường, về đi lại cho đúng đường). Vị thuốc như: Bạch Cập, Liên Tu, Liên Ngẫu (Ngẫu Tiết)…

- Ngoài ra còn phân Hư Thực, Cấp Mãn để phối dùng, hoặc dùng các vị thuốc có tác dụng Chỉ Huyết sao thành Than (gọi là sao tồn tính) để tăng công hiệu cầm máu. Ví dụ: Huyết Dư Thán (tóc rối sao đen), Tông Lư Thán (bẹ của cây móc sao đen), Hòe Hoa Thán (hoa hòe sao đen), Bồ Hoàng Thán (Bồ Hoàng sao cháy đen)… Nên còn gọi là “Kiến Hắc Tắc Chỉ” (dùng các vị thuốc sao cháy thành than để cầm máu).

1. Lá Tre (Trúc Diệp):
Trong Đông Y (ĐY) Lá Tre thuộc nhóm thuốc Thanh Nhiệt Tả Hỏa, tức là thuốc Hạ Sốt, Hạ Nhiệt rất mạnh. Do đó thường chỉ định dùng trong các bệnh có Nhiệt mạnh và Sốt. Lá Tre không có tác dụng Cầm Máu, nhưng lá Tre có tác dụng Hạ Nhiệt Độ, hạ thân nhiệt nên ngăn ngừa chảy máu mũi ở trẻ em (thường do Huyết Nhiệt).

Trong cuốn sách thuốc lưu truyền rộng rãi, của một Linh Mục ở Hải Ngoại, có chia sẻ cách chữa như sau: một cháu gái tuổi thanh niên bị Chứng Nghịch Kinh. Tức là bị bế kinh, mỗi lần đến chu kỳ thì không thấy kinh, những lại chảy máu mũi (nên gọi là Nghịch Kinh). Sách hướng dẫn dùng vị thuốc “Trúc Diệp Quyển Tâm” là lá non của cây tre còn cuộn tròn như cái tăm, sắc cho bé uống thì khỏi chảy máu mũi, mà lại có kinh trở lại.

Có 1 người ngoài nghề y (nick: HRBT, BHY) đọc tưởng là lá Tre là thuốc cầm máu, khi con chó của nhà chùa bị chảy máu mũi không ngừng, sắc lá tre cho uống thì lâu sau cầm. Thực ra lá Tre không có tác dụng cầm máu, cơ thể tự chữa lành, thêm máu chảy nhiều quá thì xẹp mạch và tự cầm, nên tác giả tưởng là thuốc có công hiệu, nên phổ biến rộng rãi. Dù bệnh nhân bị bệnh ưa chảy máu (Hemophilia) có bị chảy máu, thì rồi cũng phải tự cầm máu, chỉ là lâu hơn người thường mà thôi. Đây là sai lầm dẫn đến nhiều người hiểu sai.

Tuy vậy, đối với trẻ em hay bị chảy máu Cam (mũi), đi khám không ra bệnh (vô căn, không rõ nguyên nhân), thì mỗi khi sắp chảy máu mũi, thì môi các bé “Đỏ Như Đánh Son”, khoảng 2-3 giờ sáng sẽ chảy máu mũi. Lúc này ta cho uống lá Tre tươi + Cỏ Mực và Riếp Cá (mỗi thứ 1 nắm), để Hạ Thận Nhiệt, bé sẽ không bị chảy máu mũi nữa. Bài thuốc này cũng dùng để Hạ Sốt trong các trường hợp viêm nhiễm có sốt, amidal… Chú ý: bài thuốc này chỉ ngăn ngừa trước khi xuất huyết, lúc xuất huyết thì không có tác dụng.

2. Tam Thất Bắc:
Trong 1 tạp chí “Cây Thốc Quý” có tác giả viết về vị Tam Thất. Rồi xếp Tam Thất vào nhóm thuốc chỉ huyết (cầm máu). Sau đó nhiều người không nắm rõ Dược Lý, nên hùa theo. Thực ra vị thuốc Tam Thất thuốc nhóm Bổ Huyết. Tam Thất thuộc họ Nhân Sâm, nên được gọi là Sâm Tam Thất. Do tác dụng Bổ Huyết nên được ưa dùng cho Sản phụ sau sinh để bồi bổ. Sản phụ dùng thì thấy khỏe người, ăn ngon, kích thích tiêu hóa, nhanh lại sức, lại đẩy được máu dơ (sản dịch chưa đẩy ra hết, chủ yếu ở người thiếu máu, sức khỏe yếu), nên y gia xưa cho rằng Tam Thất có tác dụng như bài thuốc “Sinh Hóa Thang” thúc đẩy “sinh huyết mới, thay huyết cũ”. Vì vậy Tam Thất được gọi là “Kim Bất Hoán” (có các vàng cũng không đổi).

Khi rửa Tam Thất, thì thấy bọt nổi lên rất nhiều. Đó là chất Saponin, có tác dụng phá huyết (làm tan máu). Tuy nghiên cứu thấy Tam Thất có tác dụng cầm máu, nhưng rất yếu, phải sao cháy đen mới tác dụng. Nhưng dù sao cháy vẫn có tác dụng phá huyết (nhưng tác dụng bồi bổ không còn). Cũng do tác dụng phá huyết mạnh, nên thường dùng ngăn ngừa và phá U bướu, nhất là loại lành tính. Thủy đã dùng cho chính Bố Thủy bị U máu Gan, huyết áp rất cao (đã chia sẻ trên trang này). Ngoài ra dùng cho rất nhiều người bị u giáp chưa mổ, đã mổ nhưng tái phát, k giáp, u vú, u xơ tử cung, k máu… rất hiệu quả (có dùng 1 vị Tam Thất, hoặc phối thêm 2-3 vị khác tùy cơ địa và bệnh lý).

• Lưu ý:
- Chọn Tam Thất: nên chọn củ to và còn nguyên đất, loại rỗ đen là mốc nặng và mốc nhiều lần, là loại thanh lý phế phẩm rất rẻ và ít tác dụng, thậm chí tăng thêm bệnh.

- Chỉ nên dùng Tam Thất sống, sẽ đắng hơn, sau đó ngọt hậu vị (tương tự Nhân Sâm: Tiền khổ hậu cam, hậu cam cam. Nghĩa là đầu tiên dùng thì thấy đắng, 1 lúc sau trong cổ họng thấy ngọt, rồi ngọt mãi về sau). Cũng vì lý do này nên Tam Thất còn được gọi là “Chất Bổ Đắng”.

- Phân biệt Tam Thất Bắc và Tam Thất Nam: Do thời kỳ thập niên 80 chiến tranh VN và TQ xảy ra, nên 2 nước không giao thương, không có thuốc Bắc, lúc này hầu như nhiều thày thuốc trên toàn quốc bỏ nghề (do thiếu thuốc Bắc để trị bệnh nặng, hiểm nghèo). Một số thày nghiên cứu thuốc Nam thay thế. Tuy nhiên chỉ thay thế được trong 1 số trường hợp nhất định, vì các hoạt chất khác nhau hoàn toàn. Từ đây xuất hiện những vị thuốc gắn với chữ Nam: Nam Tam Thất, Nam Sài Hồ (cây lức, cúc tần), Nam Hoàng Bá (núc nác), Nam Độc Hoạt (củ muống biển), Nam Khương Hoạt (cây mang ếch), Nam Tam Thất (củ cây họ nghệ, gừng), Nam Hoàng Kỳ (rễ vú bò), Nam Sâm (cây gồ họ đậu)… Thời kỳ này cũng xảy ra nhiều chuyện ngô nghê, nực cười: mấy “nhà khoa học” của QĐVN “nghiên cứu” thấy rễ củ Đinh Lăng có tác dụng tương đương với Nhân Sâm và ít độc hơn Nhân Sâm. Có nghĩa là “đinh lăng tốt hơn nhân sâm”(!!!???).

- Nói thêm về thuốc Nam, Bắc (đã viết ở trang này): nước Việt nằm ở phía Nam TQ, nên gọi là Nước Nam. TQ nằm ở phía Bắc Vn, nên gọi là Nước Bắc. Lúc giặc phương Bắc bắt được cụ Trần Bình Trọng, họ chiêu hàng cụ, nhưng cụ khảng khái nói: “Ta thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc”. Cây thuốc có ở phương Bắc thì gọi là Thuốc Bắc, cây thuốc mọc ở nước Nam gọi là Thuốc Nam. Có 1 số cây có ở cả 2 nước.

3. Quy Tỳ Thang và Bổ Trung Ích Khí Thang:
Mẹ của 1 bệnh nhi bị chảy máu mãn tính, khi mua thuốc cho bé, được Dược Sĩ tư vấn mua chế phẩm “Quy Tỳ Thang” có tác dụng cầm máu cho bé. Tác dụng cầm máu có ghi trên bìa hộp, được chỉ định dùng cho xuất huyết… Và loại chế phẩm “Bổ Trung Ích Khí Thang” cũng ghi tương tự. Thủy có tư vấn 2 sản phẩm này không có tác dụng cầm máu, nếu dùng cho bé sẽ nặng hơn.

Dĩ nhiên cô ấy sẽ tin nhà sản xuất và Ds hơn. Sau khi dùng vài hôm thì xuất huyết nặng hơn. Sau đó Thủy đã hướng dẫn dùng chế phẩm câm máu có bán sẵn gồm: Cỏ Mực, Hòe Hoa, Trắc Bách Diệp, Hoài Sơn, Liên Nhục… (không rõ tên chế phẩm, người tư vấn đọc tên các vị thuốc này, Thủy đã đồng ý với tác dụng hỗ trợ cầm máu tạm thời).

2 bài thuốc nêu trên, chữa các vị thuốc có tác dụng gây xuất huyết như hoạt chất Saponin: Viễn chí, mộc hương, gừng, đảng sâm, đương quy, bạch truật. Riêng Bạch truật dù sao thành than (tồn tính) hoặc thành tro, vẫn có tác dụng phá huyết. Trần bì thì Hành Khí, thúc đẩy máu tuần hoàn nhanh, mạnh.

Do 1 số thày thuốc dùng cho chứng huyết hư, trĩ nội kèm xuất huyết thấy đỡ, cho là có tác dụng cầm máu, nên ghi vào chủ trị. Nhưng như ta đã biết, cơ thể tự khôi phục, sửa chữa, thúc đẩy cầm máu thông qua kích hoạt tiểu cầu và các yếu tố đông máu, nên tự cầm máu, nên gây hiểu lầm. Đối với các bn bị tiêu ra máu (trĩ nội độ 1 xuất huyết) vài hôm tự cầm, trừ khi vẫn uống rượu hàng ngày, hoặc uống kháng sinh… hàng ngày. Đây cũng là 1 ngộ nhận về tính chỉ huyết của 2 bài thuốc trên.

- Xin nói thêm: cũng do ngộ nhận, nên bài Bổ trung ích khí thang còn được chỉ định trong rối loạn tiêu hóa thể lỏng, lỵ và các rối loạn đường ruột khác. Do vậy khá nhiều phòng khám, khoa, Bv YHCT dùng bài thuốc này để trị chứng Tỳ Khí Hư gây tiêu lỏng hoặc hội chứng ruột kích thích, chứng Thống tả và các rối loạn tiêu hóa khác. Tuy nhiên hầu như không có tác dụng, mặc dù có Bạch truật và Hoàng Kỳ như vô tác dụng. Ngoài ra Trần Bì cũng là tác nhân gây tiêu chảy nặng hơn ở người đang bị rối loạn tiêu hóa thể lỏng.

• Tổng kết:
Khi ta nắm vững Dược Lý và dùng Y Học Hiện Đại để soi sáng Y Học Cổ Truyền ta sẽ chủ động, vững tâm khi phối ngũ các vị thuốc thành bài thuốc hoàn chỉnh, hợp lý và có tác dụng tốt, mạnh mẽ và nhanh phục hồi. Kinh nghiệm và những trăn trở khi thất bại, làm cho thày thuốc luôn trưởng thành.

Bắc Kạn 11/04/2026
Vũ Thủy

Đương Quy Thân khi sao xém đen cạnh, có tác dụng Cầm Máu trong 1 số bệnh nhất định, đặc biệt do Tỳ Hư Không Thống Huyết.
Ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

Address

28 Nguyễn Văn Tố, Phường Bắc Kạn, Tỉnh Thái Nguyên
Bac Kan

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bài Thuốc Gia Truyền Của Bắc Kạn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Bài Thuốc Gia Truyền Của Bắc Kạn:

Share