Phòng Khám Đông Y Phạm Đức Mừng

Phòng Khám Đông Y Phạm Đức Mừng ĐÔNG Y GIA TRUYỀN LÂU ĐỜI CHUYÊN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH TẬN GỐC

20/03/2026

XOA BÓP ĐIỀU HÒA KHÍ CAN ĐỞM

5 THỂ Ù TAI TRONG ĐÔNG Y, BẠN THUỘC THỂ NÀO? Ù tai: cảm giác nghe thấy tiếng ve kêu, gió thổi, thở mạnh hay tiếng ong on...
16/01/2026

5 THỂ Ù TAI TRONG ĐÔNG Y, BẠN THUỘC THỂ NÀO?
Ù tai: cảm giác nghe thấy tiếng ve kêu, gió thổi, thở mạnh hay tiếng ong ong... trong tai, là triệu chứng thường gặp nhưng lại có nhiều nguyên nhân khác nhau. Theo Đông y, ù tai không chỉ là vấn đề của tai, mà là dấu hiệu của sự mất cân bằng khí huyết, tạng phủ trong cơ thể.
Dưới đây là 5 thể bệnh ù tai phổ biến theo Đông y, kèm cách nhận biết và định hướng điều trị.
---
1. Thận Âm Hư:
Âm thanh: tiếng ve kêu âm ỉ kéo dài.
Triệu chứng kèm theo: Lưng gối mỏi, hay mộng mị, mất ngủ, lòng bàn tay nóng, hoa mắt chóng mặt, họng khô, người bồn chồn, tiểu tiện vàng, đại tiện táo.
Nguyên nhân: Âm hư hỏa vượng, không nuôi dưỡng được nhĩ khiếu. Tai là ngoại khiếu của thận “Thận khai khiếu ở tai”, khí của thận thông lên tai, khi thận khí điều hòa thì tai nghe được ngũ âm (từ tiếng to đến tiếng nhỏ nhất).
Cách điều trị: Bổ thận âm tiềm dương - dùng “Đại bổ âm hoàn”, hoặc “Nhĩ lung tả từ hoàn”, “Lục vị địa hoàng hoàn gia giảm”
---

2. Can Hỏa Vượng:
Âm thanh: Ù tai như tiếng réo, tiếng gió rít, khi nặng khi nhẹ, mỗi khi bực bội thì nặng thêm. Khả năng nghe đột nhiên giảm mạnh. Tai sưng ngứa, căng tức.
Triệu chứng kèm theo: Đầu đau, cáu gắt, mắt đỏ, miệng đắng, mất ngủ, lưỡi đỏ, mạch huyền sác.
Nguyên nhân: Do can khí uất kết, hóa hỏa bốc lên quấy nhiễu thanh khiếu.
Cách điều trị: Tả hỏa, bình can - thường dùng “Long đởm tả can thang gia giảm”.
---

3. Thấp Nhiệt Uất Trệ:

Âm thanh: Như tiếng thở mạnh, nặng nề, lùng bùng trong tai, tai sưng đỏ.
Triệu chứng kèm theo: Đầu nặng, tức ngực, buồn nôn, đàm nhiều, lưỡi dày nhớt, rêu vàng, cơ thể uể oải, mồ hôi dính.
Nguyên nhân: Tỳ vận hóa kém, thấp nhiệt uất lại, đàm trọc thượng nhiễu.
Cách điều trị: Trừ thấp, hóa đàm, thanh nhiệt - có thể dùng “Hoắc hương chính khí tán” hoặc “Tam nhân thang”.
---

4. Tỳ Vị Hư:
Âm thanh: Nhẹ nhàng như khè khè, ù tai tăng sau khi lao lực.
Triệu chứng kèm theo: Mệt mỏi, ăn ít, tiêu hóa kém, chân tay lạnh.
Nguyên nhân: Trung khí suy yếu, thanh dương không thăng được lên tai.
Cách điều trị: Kiện tỳ, bổ khí - hay dùng “Sâm linh bạch truật tán”, “Bổ trung ích khí thang”.
---
5. Tâm Hoả Vượng:
Tiếng: tiếng mạch đập trong tai, đột ngột, to dần khi xúc động, căng thẳng.
Triệu chứng: mất ngủ, hồi hộp, bồn chồn, tức ngực, dễ cáu, khát nước, miệng lở.
Điều trị: thanh tâm tả hoả, an thần (dùng các vị như Sinh địa, Hoàng liên, Liên tâm...)

Kết luận:
Ù tai không chỉ là triệu chứng tai mũi họng đơn thuần, mà còn là “tín hiệu” cho thấy sự rối loạn của toàn thân. Chẩn đoán đúng thể bệnh theo Đông y là chìa khóa để điều trị tận gốc và phục hồi

[19 điều Bệnh Cơ]1. Các chứng bệnh về phong đầu lắc, mắt hoa, đều thuộc về can. (Phong (gió) tính động, mộc khí theo pho...
25/08/2025

[19 điều Bệnh Cơ]

1. Các chứng bệnh về phong đầu lắc, mắt hoa, đều thuộc về can. (Phong (gió) tính động, mộc khí theo phong).

2. Các chứng bệnh về hàn, co rút đều thuộc về thận.

3. Các chứng bệnh về khí như suyễn thở, tức ngực, thở không được, đều thuộc về phế. (Phế thuộc về mùa thu, khí mát, sương móc sa nhiều. Khí có mát thì nhiệt khí trở lại, quá lạnh thì nhiệt khí tiêu hết, nghiệm ở các hình tượng là có thể biết được. Tác dụng của khí uất, kim khí cũng giống thế).

4. Các chứng bệnh về thấp, phù thũng, trướng đầy đều thuộc về tỳ. (Đất mỏng thì nước cạn, đất dày thì nước sâu, đất bằng thì khô, đất thấp thì ẩm ướt, tác dụng của thấp khí và thổ khí cũng thế).

5. Các chứng bệnh về nhiệt như thần chí hôn mê, chi thể co quắp đều thuộc về hỏa. (Đó là tượng trưng của hỏa).

6. Các chứng đau ngứa lở đều thuộc về tâm. (Tâm yên thì bệnh nhẹ, tâm táo thì bệnh nặng, trăm mối gây bệnh đều từ tâm sinh ra, đau ngứa, chốc lở đều từ tâm mà sinh ra).

7. Các chứng quyết nghịch, đại tiểu tiện không thông, hoặc đi tháo dạ, đều thuộc về hạ tiêu. (Hạ tiêu là can khí, thận khí, giữ gìn ở hạ tiêu là thận khí, khóa kỹ cửa ngõ lại là can khí. Cho nên các chứng quyết nghịch, đại tiểu tiện không hoặc đi tháo dạ đều thuộc về hạ tiêu. Các chứng khí nghịch lên, đại tiểu tiện bế hoặc tháo, xuất nhập vô độ, lúc thấp lúc táo thất thường đều là do chức năng phòng thủ của hạ tiêu).

8. Các chứng bại (suy), suyễn nghịch ụa mửa, đều thuộc về thượng tiêu. (Thượng tiêu là tâm khí, phế khí. Nóng bốc lên hun đốt là khí của tâm, nhân nóng mà phân hóa ra là khí của phế. Nhiệt uất biến hóa cho nên bệnh thuộc về thượng tiêu, như thế đều là bệnh của ngũ tạng, cơ chế của bệnh là do sự biến động bên trong mà sinh ra).

9. Các chứng cấm khẩu không há miệng được, hàm run cầm cập, thần chí bất an đều thuộc hỏa. (Do nhiệt bốc bên trong)

10. Các chứng co cứng như cứng gáy đều thuộc về thấp. (Kinh Thái dương bị thương tổn vì thấp).

11. Các chứng khí xông lên đều thuộc về hỏa. (Tính chất và tác dụng của hỏa là bốc lên)

12. Các chứng trướng đầy bụng to đều thuộc về nhiệt. (Nhiệt uất ở trong sinh ra phế trướng).

13. Các chứng cuồng táo chực chạy đều thuộc về hỏa. (Nhiệt thịnh ở vị và chân tay).

14. Các chứng bỗng nhiên cứng đờ đều thuộc về phong. (Dương bị uất bên trong mà âm hành động bên ngoài).

15. Các chứng có tiếng, gõ vào kêu như tiếng trống đều thuộc về nhiệt.

16. Các chứng phù nề, nhức nhối, kinh hãi đều thuộc về hỏa.

17. Các chứng chuyển gân, vọp bẻ, đái ra toàn nước đục đều thuộc về nhiệt.

18. Các chứng đái ra nước trong mà lạnh đều thuộc về hàn.

19. Các chứng nôn ra nước chua, ỉa tháo dạ, đều thuộc về nhiệt (Đây là tà của 12 kinh lạc, cơ chế của bệnh là do ngoại tà xâm nhập). ]

- Nội Kinh Yếu Chỉ -

Biện chứng luận trị Trầm cảm bằng Đông y Trong Y học cổ truyền (YHCT), không có tên bệnh "trầm cảm" một cách trực tiếp n...
19/08/2025

Biện chứng luận trị Trầm cảm bằng Đông y

Trong Y học cổ truyền (YHCT), không có tên bệnh "trầm cảm" một cách trực tiếp như Tây y, mà nó thường nằm trong phạm trù "Chứng uất" hoặc các hội chứng khác có biểu hiện liên quan đến rối loạn tâm thần, cảm xúc như: Tâm tỳ lưỡng hư, Can khí uất kết, Tâm thận bất giao, Đàm mê tâm khiếu, v.v.

Biện chứng luận trị là nguyên tắc quan trọng nhất trong YHCT, tức là dựa vào các triệu chứng, dấu hiệu cụ thể của từng bệnh nhân để chẩn đoán thể bệnh và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp. Điều này có nghĩa là không có một bài thuốc chung cho tất cả các trường hợp trầm cảm, mà phải cá thể hóa điều trị.

Dưới đây là một số thể bệnh thường gặp trong trầm cảm theo YHCT và phương pháp điều trị tương ứng:

1. Can khí uất kết

Đây là thể bệnh thường gặp nhất trong trầm cảm. Nguyên nhân chủ yếu do tình chí không thoải mái, lo âu, căng thẳng kéo dài làm ảnh hưởng đến chức năng "sơ tiết" (điều hòa, vận hành khí huyết) của tạng Can.

Triệu chứng: Người bệnh thường có cảm giác u uất, buồn bực, dễ cáu gắt, hay thở dài, ngực sườn đầy tức, đau vùng thượng vị, mất ngủ, ngủ không sâu giấc, ăn uống kém, phụ nữ có thể bị rối loạn kinh nguyệt. Lưỡi thường đỏ, rêu trắng mỏng hoặc vàng mỏng, mạch Huyền.
Pháp điều trị: Sơ can giải uất, lý khí.
Bài thuốc thường dùng:
Tiêu dao tán gia giảm: Sài hồ, Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Phục linh, Chích thảo, Bạc hà, Sinh khương.
Có thể gia giảm thêm các vị thuốc an thần như Toan táo nhân, Viễn chí, Long nhãn để cải thiện giấc ngủ.
Gia thêm Hương phụ, Trần bì để lý khí, điều hòa khí huyết.

2. Tâm tỳ lưỡng hư

Thể này thường xuất hiện ở những người suy nghĩ nhiều, lao lực quá độ, hoặc sau thời gian dài bị bệnh tật làm tổn thương cả Tâm và Tỳ.

Triệu chứng: Người bệnh có biểu hiện mệt mỏi, kém ăn, ăn không ngon miệng, sắc mặt nhợt nhạt, hay hồi hộp, đánh trống ngực, mất ngủ, hay quên, suy giảm trí nhớ, chân tay yếu mỏi, đại tiện lỏng. Lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch Tế Nhược.
Pháp điều trị: Kiện tỳ ích khí, dưỡng tâm an thần.
Bài thuốc thường dùng:
Quy tỳ thang gia giảm: Hoàng kỳ, Bạch truật, Long nhãn, Toan táo nhân, Phục thần, Nhân sâm (hoặc Đảng sâm), Mộc hương, Chích thảo, Sinh khương, Đại táo, Đương quy, Viễn chí.
Gia thêm Phục linh, Lạc tiên để tăng cường tác dụng an thần.

3. Tâm thận bất giao

Thường gặp ở người cao tuổi, người làm việc quá sức, hoặc do bệnh kéo dài làm âm huyết suy kém, dẫn đến thủy hỏa không điều hòa (Thận âm hư không tư dưỡng Tâm hỏa).

Triệu chứng: Người bệnh cảm thấy bồn chồn, lo âu, mất ngủ kinh niên, ngủ hay mê, hay quên, ù tai, hoa mắt, chóng mặt, khô miệng họng, đổ mồ hôi trộm, sốt nhẹ về chiều (ngũ tâm phiền nhiệt: nóng 5 lòng – lòng bàn tay, lòng bàn chân, vùng ngực). Lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Tế Sác.
Pháp điều trị: Tư âm giáng hỏa, giao thái tâm thận.
Bài thuốc thường dùng:
Lục vị Địa hoàng thang gia giảm: Thục địa, Hoài sơn, Sơn thù, Đan bì, Trạch tả, Phục linh.
Gia thêm Hoàng liên, Bá tử nhân, Toan táo nhân để thanh tâm, an thần.
Gia thêm Mẫu lệ, Long cốt để tiềm dương an thần.

4. Đàm mê tâm khiếu

Thể này thường do tỳ hư sinh đàm, đàm thấp ngưng trệ làm che lấp tâm khiếu (não bộ theo YHCT).

Triệu chứng: Người bệnh có biểu hiện nặng đầu, u uất, tinh thần trì trệ, suy nghĩ chậm chạp, dễ ngủ gật nhưng ngủ không sâu, hay quên, đàm nhiều, ngực bụng đầy trướng, buồn nôn, lưỡi bệu, rêu trắng dính, mạch Hoạt.
Pháp điều trị: Hóa đàm khai khiếu, kiện tỳ.
Bài thuốc thường dùng:
Nhị trần thang gia giảm: Trần bì, Bán hạ, Phục linh, Chích thảo.
Gia thêm Xương bồ, Viễn chí để khai khiếu hóa đàm.
Gia thêm Bạch truật, Ý dĩ để kiện tỳ trừ thấp.
Các phương pháp hỗ trợ khác trong điều trị trầm cảm bằng YHCT:
Châm cứu: Kích thích các huyệt đạo giúp sơ thông kinh lạc, điều hòa khí huyết, an thần, giảm lo âu, căng thẳng.
Xoa bóp bấm huyệt: Giúp thư giãn cơ bắp, giải tỏa căng thẳng, cải thiện tuần hoàn.
Dưỡng sinh, khí công, thái cực quyền: Giúp điều hòa hơi thở, cân bằng âm dương, tăng cường sức khỏe tổng thể và tinh thần.
Chế độ ăn uống và sinh hoạt: Ăn uống đủ chất, tránh các chất kích thích, ngủ đủ giấc, tập luyện thể dục đều đặn, tạo môi trường sống lành mạnh, thoải mái.

Lưu ý quan trọng:

Việc điều trị trầm cảm bằng YHCT đòi hỏi sự thăm khám và chẩn đoán chính xác từ thầy thuốc YHCT có kinh nghiệm. Tự ý dùng thuốc có thể gây ra những hậu quả không mong muốn.
Trầm cảm là một bệnh lý phức tạp, việc kết hợp YHCT với Y học hiện đại (điều trị tâm lý, thuốc tân dược nếu cần) có thể mang lại hiệu quả tốt nhất cho người bệnh.
Luôn thảo luận với bác sĩ chuyên khoa trước khi thay đổi hoặc kết hợp bất kỳ phương pháp điều trị nào.

01/06/2025

Nghiên cứu tác dụng diệt vi khuẩn Helicobacter pylori (HP) bằng thuốc Y học cổ truyền
Đang nhận được nhiều sự quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng và mong muốn giảm tác dụng phụ của phác đồ điều trị Tây y.
Dưới đây là tổng hợp một số thông tin về các nghiên cứu trong lĩnh vực này:
🍀 Các vị thuốc và bài thuốc YHCT được nghiên cứu:
Nhiều nghiên cứu, cả in vitro (trong phòng thí nghiệm) và in vivo (trên cơ thể sống, bao gồm cả trên người), đã khảo sát hoạt tính kháng HP của các dược liệu và bài thuốc YHCT:
* Chè dây (Ampelopsis cantoniensis): Đây là một trong những dược liệu được nghiên cứu nhiều nhất tại Việt Nam về tác dụng trên dạ dày và HP. Các nghiên cứu cho thấy Chè dây chứa flavonoid (myricetin, dihydromyricetin) có tác dụng:
* Ức chế sự phát triển của vi khuẩn HP in vitro.
* Giảm các triệu chứng viêm loét dạ dày tá tràng.
* Giúp làm liền sẹo ổ loét.
* Một số nghiên cứu lâm sàng cho thấy sử dụng Chè dây đơn độc hoặc phối hợp có thể cải thiện tỷ lệ diệt HP, mặc dù tỷ lệ này thường thấp hơn so với phác đồ kháng sinh chuẩn.
* Lá khôi (Ardisia sylvestris): Thường được kết hợp với các vị thuốc khác trong điều trị đau dạ dày. Nghiên cứu in vitro cho thấy dịch chiết Lá khôi có khả năng ức chế HP. Tanin và glycoside trong Lá khôi được cho là có tác dụng giảm tiết acid dịch vị và làm se vết loét.
* Dạ cẩm (Hedyotis capitellata): Cũng là vị thuốc dân gian quen thuộc trị đau dạ dày. Các nghiên cứu bước đầu ghi nhận khả năng kháng khuẩn, chống viêm, giảm đau và trung hòa acid của Dạ cẩm.
* Hoàng liên (Coptis chinensis): Chứa hoạt chất chính là Berberine. Berberine đã được chứng minh in vitro có hoạt tính kháng HP mạnh mẽ thông qua nhiều cơ chế, bao gồm ức chế enzyme urease (cần thiết cho HP tồn tại trong môi trường acid dạ dày) và phá vỡ màng tế bào vi khuẩn. Các nghiên cứu lâm sàng về Berberine trong diệt HP còn hạn chế và cần thêm bằng chứng.
* Nghệ (Curcuma longa): Hoạt chất chính Curcumin có đặc tính chống viêm, chống oxy hóa và kháng khuẩn mạnh. Nghiên cứu in vitro cho thấy Curcumin ức chế sự phát triển của nhiều chủng HP, kể cả chủng kháng thuốc. Một số nghiên cứu lâm sàng gợi ý Curcumin có thể hỗ trợ làm giảm triệu chứng và tổn thương dạ dày do HP, nhưng hiệu quả diệt HP khi dùng đơn độc còn chưa rõ ràng.
* Cam thảo (Glycyrrhiza glabra): Các nghiên cứu cho thấy chiết xuất Cam thảo có thể ức chế sự bám dính của HP vào niêm mạc dạ dày và có hoạt tính kháng HP in vitro.
☘️ Các bài thuốc phối hợp:
Nhiều bài thuốc YHCT kết hợp các vị thuốc trên và các vị thuốc khác (như Bồ công anh, Khổ sâm, Mộc hương...) cũng được nghiên cứu. Ví dụ, bài "Tiêu dao tán gia vị", "Bán hạ tả tâm thang" đã được khảo sát về tác dụng trên bệnh dạ dày do HP. Việc phối hợp nhằm tăng tác dụng diệt HP, giảm viêm, làm lành vết loét và cải thiện triệu chứng tổng thể.
Cơ chế tác dụng tiềm năng:
* Kháng khuẩn trực tiếp: Ức chế sự phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn HP.
* Ức chế enzyme Urease: Làm mất khả năng trung hòa acid của HP, khiến vi khuẩn khó tồn tại trong dạ dày.
* Chống bám dính: Ngăn cản HP bám vào tế bào niêm mạc dạ dày.
* Chống viêm và làm lành vết loét: Giảm phản ứng viêm do HP gây ra, bảo vệ và thúc đẩy tái tạo niêm mạc dạ dày.
* Điều hòa miễn dịch: Cải thiện đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với nhiễm HP.
Kết quả nghiên cứu và thực trạng:
* Nhiều nghiên cứu in vitro cho thấy kết quả rất hứa hẹn về khả năng kháng HP của các thảo dược YHCT.
* Các nghiên cứu lâm sàng trên người cho kết quả đa dạng:
* Một số nghiên cứu cho thấy các bài thuốc hoặc vị thuốc YHCT (đặc biệt là Chè dây) có thể giúp cải thiện triệu chứng và hỗ trợ diệt HP, nhất là khi dùng như liệu pháp bổ trợ cho phác đồ kháng sinh.
* Tuy nhiên, hiệu quả diệt HP của YHCT đơn độc thường thấp hơn đáng kể so với các phác đồ kháng sinh chuẩn (như phác đồ 3 thuốc, 4 thuốc). Tỷ lệ diệt HP thành công thường không đạt mức khuyến cáo (>85-90%).
* YHCT có thể hữu ích trong việc giảm tác dụng phụ của kháng sinh, cải thiện triệu chứng khó tiêu, và hỗ trợ phục hồi niêm mạc dạ dày sau điều trị.
* Vai trò của YHCT trong các trường hợp HP kháng thuốc đang được nghiên cứu nhưng cần nhiều bằng chứng hơn.
Lưu ý quan trọng:
* Hiện tại, các phác đồ sử dụng kháng sinh vẫn là lựa chọn hàng đầu và được khuyến cáo rộng rãi trên thế giới để diệt trừ HP do hiệu quả đã được chứng minh rõ ràng.
* Việc sử dụng thuốc YHCT để điều trị HP cần được thực hiện dưới sự hướng dẫn của bác sĩ YHCT có kinh nghiệm và nên thông báo cho bác sĩ Tây y đang điều trị cho bạn (nếu có) để tránh tương tác thuốc.
* Không nên tự ý dùng thuốc YHCT thay thế hoàn toàn phác đồ kháng sinh đã được chỉ định để diệt HP, trừ khi có chỉ định đặc biệt từ bác sĩ.
* Cần có thêm các nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên, có đối chứng (RCTs) với quy mô lớn và phương pháp chặt chẽ để đánh giá chính xác hiệu quả, liều lượng tối ưu và tính an toàn của thuốc YHCT trong diệt trừ HP.
Tóm lại, YHCT cho thấy tiềm năng trong việc hỗ trợ điều trị nhiễm HP, đặc biệt là trong việc cải thiện triệu chứng và giảm tác dụng phụ của kháng sinh.
Tuy nhiên, vai trò của YHCT như một liệu pháp diệt trừ HP độc lập vẫn cần được nghiên cứu thêm và hiện chưa thể thay thế hoàn toàn các phác đồ kháng sinh chuẩn.

Theo quan điểm của Y Học Cổ Truyền (YHCT), hút thuốc lá gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe con người, ảnh hư...
01/06/2025

Theo quan điểm của Y Học Cổ Truyền (YHCT), hút thuốc lá gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe con người, ảnh hưởng đến sự cân bằng âm dương, khí huyết, tân dịch và công năng của các tạng phủ. Dưới đây là những phân tích chi tiết:

1. Thuốc lá là một dạng "Tà khí" xâm nhập cơ thể:

Khói thuốc lá mang theo các yếu tố gây bệnh (tà khí) xâm nhập vào cơ thể, chủ yếu là:

• Táo tà (Tính khô): Khói thuốc có tính chất khô nóng (táo), dễ làm tổn thương phần dịch (tân dịch) trong cơ thể. Điều này dẫn đến các triệu chứng như khô họng, ho khan, da khô, táo bón. Lâu ngày, "táo" có thể chuyển hóa thành "hỏa", làm bệnh tình trở nên phức tạp hơn.

• Hỏa tà (Tính nóng): Tính nóng (nhiệt) của thuốc lá khi tích tụ trong cơ thể sẽ trở thành "hỏa độc" hoặc "nhiệt độc". Hỏa tà này có thể gây ra các chứng như miệng khát, họng đau, tâm phiền bất an, thậm chí có thể làm tổn thương huyết lạc gây chảy máu (như chảy máu cam, ho ra máu).

2. Tổn thương Âm Dương, Khí Huyết và Tân Dịch:

• Hao tổn Tân dịch và Âm huyết: "Táo tà" và "Hỏa tà" từ khói thuốc sẽ thiêu đốt và làm cạn kiệt tân dịch (phần nước nuôi dưỡng cơ thể), dẫn đến tình trạng âm hư. Âm hư không thể kiềm chế dương, gây ra chứng âm hư hỏa vượng với các biểu hiện như nóng trong người, ra mồ hôi trộm, mất ngủ.

• Hao tổn Chính khí và Vệ khí: Vị cay nồng của thuốc lá có tính phát tán mạnh. Nếu hút thuốc kéo dài, sự phát tán quá mức này sẽ làm hao tổn chính khí (năng lượng nền tảng của cơ thể) và vệ khí (khí bảo vệ bên ngoài), khiến sức đề kháng của cơ thể suy giảm, dễ bị các yếu tố gây bệnh khác xâm nhập. Sách xưa có câu: "khí làm thương tinh" (tức là khí độc làm tổn hại đến phần tinh hoa của cơ thể).

3. Suy giảm Công năng Tạng Phủ:

YHCT quan niệm các tạng phủ trong cơ thể có mối liên hệ mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau. Hút thuốc lá tác động xấu đến nhiều tạng phủ:

• Phế: Đây là tạng bị ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất.

• Phế chủ khí, quản lý hô hấp. Khói thuốc (tà khí) xâm nhập thẳng vào Phế, làm tổn thương Phế khí, cản trở chức năng tuyên phát và túc giáng của Phế, gây ra các chứng ho, suyễn, khó thở, tức ngực.

• Phế chủ bì mao (da lông) và khai khiếu ra mũi. "Táo tà" và "Hỏa tà" từ thuốc lá làm khô da, tổn thương bì mao, khiến chức năng bảo vệ của da suy yếu. Đồng thời, khói thuốc kích ứng mũi, làm tổn thương niêm mạc mũi.

• Theo lý luận Ngũ vị quy kinh, vị cay của thuốc lá sẽ đi vào Phế. Việc hút thuốc thường xuyên và kéo dài sẽ làm tổn thương Phế âm và Phế khí.

• Tỳ:

• Tỳ chủ vận hóa thủy cốc, là nguồn sinh hóa khí huyết. Nhiệt độc và hỏa tà từ thuốc lá có thể làm tổn hại Tỳ vị, ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng, dẫn đến khí huyết suy kém.

• Thận:

• Thận tàng tinh, là gốc của tiên thiên, chủ về thủy dịch. Hút thuốc lá lâu ngày làm hao tổn tân dịch và âm huyết, có thể dẫn đến Thận âm hư, gây các chứng đau lưng, mỏi gối, ù tai, tóc bạc sớm.

• Tâm:

• Tâm tàng thần, chủ huyết mạch. Hỏa độc từ thuốc lá có thể nhiễu loạn Tâm thần, gây ra các triệu chứng như mất ngủ, hồi hộp, tâm phiền, bứt rứt.

• Can:

• Can tàng huyết, chủ về sơ tiết. Khi âm huyết bị thuốc lá làm hao tổn, chức năng của Can cũng bị ảnh hưởng, có thể dẫn đến Can huyết hư hoặc Can âm hư, làm khí cơ không thông, dễ sinh cáu gắt.

4. Gây Ứ trệ Khí Huyết và Sinh Đàm:

• Việc hút thuốc kéo dài làm tổn thương chính khí, ảnh hưởng đến sự vận hành bình thường của khí huyết trong cơ thể, dễ dẫn đến tình trạng khí trệ, huyết ứ.

• Nhiệt độc và táo tà từ khói thuốc có thể cô đặc tân dịch lại thành đàm. Đàm trọc khi hình thành có thể gây tắc trở kinh lạc, làm nặng thêm các chứng ho, suyễn và là yếu tố gây ra nhiều bệnh lý khác.

5. Tạo điều kiện cho "Phục tà":

Các tà khí (táo, hỏa, độc tố) từ thuốc lá khi xâm nhập và tích tụ lâu ngày trong cơ thể có thể trở thành "phục tà" (tà khí ẩn náu). Phục tà là nguồn gốc của nhiều bệnh tật mãn tính, khó chữa và dễ tái phát về sau.

6. Đi ngược lại Nguyên tắc Dưỡng sinh của Y Học Cổ Truyền:

YHCT rất coi trọng việc dưỡng sinh để bảo vệ sức khỏe, bao gồm "giữ gìn tạng phủ bì phu", "dưỡng tinh, dưỡng khí, dưỡng thần", "ăn uống thanh đạm, điều độ" và "tránh xa các yếu tố gây hại". Hút thuốc lá rõ ràng đi ngược lại những nguyên tắc dưỡng sinh căn bản này, làm tổn hại đến nền tảng sức khỏe của con người.

Tóm lại, theo Y Học Cổ Truyền, hút thuốc lá là một thói quen có hại, đưa các yếu tố "táo tà", "hỏa tà" và "độc tà" vào cơ thể, làm mất cân bằng âm dương, hao tổn khí huyết và tân dịch, gây rối loạn công năng của các tạng phủ, đặc biệt là Phế, từ đó sinh ra nhiều bệnh tật.

KINH NGHIỆM TRỊ CHỨNG BIẾNG ĂN Ở TRẺ EM CỦA QUỐC Y ĐẠI SƯ LÝ NGỌC KỲ (phần 2)Trong Phần I chúng ta đã cùng nhau khám phá...
27/03/2025

KINH NGHIỆM TRỊ CHỨNG BIẾNG ĂN Ở TRẺ EM CỦA QUỐC Y ĐẠI SƯ LÝ NGỌC KỲ (phần 2)
Trong Phần I chúng ta đã cùng nhau khám phá tư duy biện chứng và cách thức vận dụng bài thuốc Trừ cam thang của Giáo sư Lý Ngọc Kỳ. Còn trong Phần II này, hãy cùng nhau phân tích chi tiết hai bệnh án điển hình nhé. Nếu chưa đọc phần I, bạn có thể tìm lại bài viết trên FB Nhân Hoà Y Đạo nhé.
Bệnh án 1:
Bệnh nhân: Bé gái, 4 tuổi rưỡi, khám lần đầu vào tháng 10 năm 2000. Gia đình cho biết trẻ biếng ăn, ăn kém, kèm theo táo bón hơn một tháng. Bình thường trẻ thích ăn đồ sống lạnh, hơn một tháng nay ăn ít, kém ngon miệng, đại tiện khô, 4–5 ngày mới đi một lần. Trẻ có thể trạng gầy, miệng khô, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch hoạt sác.
Chẩn đoán: (Thể vị nhiệt âm thương, tỳ mất kiện vận) Cam tích ở trẻ em (Tây y gọi là chứng biếng ăn).
Nguyên tắc điều trị: Thanh nhiệt tiêu cam, kiện tỳ trợ vận.
Phương thuốc: Dùng bài Trừ Cam Thang gia giảm - Hồ hoàng liên 6g, hoắc hương 6g, thương truật 6g, sa nhân 6g, sơn dược 10g, kê nội kim 10g, mạch nha 10g, sơn tra 10g, trần bì 10g, hoàng cầm 6g, hoàng liên 6g. Sắc uống trong 6 ngày, mỗi ngày 1 thang.
Tái khám lần 2: Trẻ ăn uống cải thiện, đại tiện mềm hơn, 1–2 ngày đi một lần, lưỡi bớt đỏ, bỏ hoàng liên, tiếp tục dùng thêm 6 thang.
Tái khám lần 3: Trẻ ăn uống bình thường, đại tiện điều hòa, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng.
Bàn luận: Biếng ăn thuộc về chức năng tiêu hóa của tỳ vị bị rối loạn. Sách "Ấu khoa phát huy" có viết: "Trẻ nhỏ ăn ít, dễ no, đó là do vị không tiếp nhận, tỳ không thể tiêu hóa." Vị thuộc dương thổ, chủ thực nạp; tỳ thuộc âm thổ, chủ vận hóa. Bệnh ở vị thường có thực nhiệt, bệnh ở tỳ thường hư hàn. Vì vậy, chứng biếng ăn ở trẻ thường do vị nhiệt làm mất chức năng giáng hạ, hoặc do tỳ hư khiến công năng vận hóa bị rối loạn.
Trường hợp này, trẻ có nhiệt tích ở vị, hao tổn tân dịch, dẫn đến khí cơ ở phủ không thông lợi, gây táo bón; lại thêm thói quen ăn đồ sống lạnh, làm tổn thương tỳ vị, khiến tỳ mất chức năng vận hóa, vị kém hấp thu, gây biếng ăn, ăn ít. Do đó, phép trị cần lấy thanh nhiệt tiêu cam, kiện tỳ trợ vận làm cốt lõi.
Dựa trên bài Trừ Cam Thang, gia thêm trần bì để điều khí, hỗ trợ tỳ vị vận hóa tốt hơn; hoàng cầm, hoàng liên thanh nhiệt phế vị, giúp thông đại tiện. Tuy nhiên, hoàng liên, hoàng cầm là dược liệu có tính khổ hàn, nếu dùng lâu có thể tổn thương tỳ vị. Trẻ nhỏ vốn có “nguyên khí chưa đầy đủ, âm dương chưa vững”, vì vậy khi bệnh đã thuyên giảm thì nên ngừng thuốc, tránh làm hại đến chức năng tiêu hóa của trẻ.
Bệnh án 2:
Bệnh nhân: Bé gái, 11 tháng tuổi.
Thời gian khám lần đầu: Tháng 2 năm 1999.
Triệu chứng: Chán ăn, tiêu chảy kéo dài nửa tháng.
Tiền sử bệnh: Theo lời kể của mẹ bé, trước đó nửa tháng, bé bị viêm đường hô hấp trên, được cho uống thuốc đông y thanh nhiệt giải độc và kháng sinh nhóm cephalosporin. Sau khi dùng thuốc, bé dần chán ăn, lượng ăn giảm rõ rệt, xuất hiện tình trạng tiêu chảy phân lỏng, ngày đi ngoài 4–5 lần, không có nhầy máu. Hiện tại, bé biếng ăn nghiêm trọng, thậm chí từ chối ăn hoàn toàn, đôi khi buồn nôn, nôn ói, bụng sôi, tiêu chảy, ngủ không yên giấc, sắc mặt nhợt nhạt. Lưỡi đỏ, rêu trắng nhờn, chỉ văn tím.
Chẩn đoán: (Thể tỳ hư thấp trệ, uất mà hóa nhiệt) – Chứng cam tích ở trẻ em (Tây y gọi là chứng biếng ăn).
Phương pháp điều trị: Thanh nhiệt tiêu cam, kiện tỳ trợ vận.
Phương thuốc: Trừ cam thang gia giảm – Hồ hoàng liên 6g, hoắc hương 6g, thương truật 6g, sa nhân 6g, sơn dược 10g, phục linh 10g, mạch nha 10g, trần bì 6g, bạch đậu khấu 10g, chi tử 6g. Sắc uống 6 thang, mỗi ngày 1 thang.
Lần khám thứ hai: Bé ăn uống có cải thiện, phân hơi sệt lại, số lần tiêu chảy giảm còn 2 lần/ngày, bụng bớt sôi, không còn buồn nôn, nôn ói, giấc ngủ cải thiện đôi chút. Lưỡi đỏ nhạt hơn. Giảm liều chi tử còn 3g, thêm kê nội kim 10g, tiếp tục dùng 3 thang.
Lần khám thứ ba: Bé ăn uống gần như bình thường, phân gần như thành khuôn, đại tiện 2 lần/ngày, bụng không còn sôi nhiều, ngủ tốt hơn. Lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi mỏng trắng. Ngừng dùng chi tử, tiếp tục dùng 3 thang.
Lần khám thứ tư: Bé ăn uống ổn định, phân thành khuôn, đại tiện 1 lần/ngày, lưỡi hồng nhạt, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch bình.
Bàn luận:
Trẻ này vốn tỳ vị hư nhược, sau khi uống thuốc kháng sinh và các thuốc có tính hàn lương mạnh, tỳ vị lại càng bị tổn thương, khiến chức năng vận hóa suy yếu, sinh thấp trệ. Thấp tích lâu ngày hóa nhiệt, dẫn đến tình trạng tỳ hư, thấp, thực và nhiệt kết hợp thành chứng bệnh vừa hư vừa thực.
Khi điều trị, cần xem xét đặc điểm thể chất "tỳ vị hư nhược" của trẻ em, lấy kiện tỳ trợ vận làm chính, đồng thời kết hợp hóa thấp, tiêu thực, thanh nhiệt. Trong bài thuốc, chi tử được dùng liều nhỏ để thanh nhiệt tam tiêu, nhưng khi bệnh tình thuyên giảm, liều được giảm dần để tránh làm tổn thương tỳ vị do tính hàn của thuốc. Vì thế, bệnh đến đâu trị đến đó, điều trị vừa đủ, không kéo dài quá mức.
Lưu ý quan trọng: Do thể trạng và tình trạng bệnh của mỗi người khác nhau, phương thuốc và liều lượng trong bệnh án này chỉ phù hợp với bệnh nhân cụ thể trong thời điểm điều trị. Không được tự ý áp dụng công thức và liều lượng này khi chưa qua chẩn đoán và biện chứng của thầy thuốc Đông y. Nếu có nhu cầu điều trị, độc giả nên đến các cơ sở y tế uy tín để được thăm khám và điều trị kịp thời, tránh ảnh hưởng đến sức khỏe.

16/07/2024

CAN UẤT, ĐAU RÚT THẦN KINH LIÊN SƯỜN, TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN

Lấy một mẩu phèn phi (phèn chua rang cho mất nước nở trắng xốp) bằng đốt ngón tay, một nhánh nghệ bằng khoảng ngón tay. Hai thứ giã nhuyễn, cho nước một quả dừa (dừa xiêm) vào quấy đều, chắt nước trong uống.
Bài này cũng chữa thần kinh liên sườn rất tốt, thường chỉ 1 đến hai ngày uống là khỏi bệnh thần kinh liên sườn.

Khi đến phải dìu đến, đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, đau dạ dày, đau lưng đứng không nổi..Sau 5 gói và 3 buổi châm cứu th...
10/06/2024

Khi đến phải dìu đến, đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, đau dạ dày, đau lưng đứng không nổi..
Sau 5 gói và 3 buổi châm cứu thì tự đi đến lấy thuốc được, và cười tươi ko cần tưới kaka
Lại biếu nhà thuốc 1 lọ trám tự làm 😜

Những ca suy tim chờ ghép đã thành công 90%Còn những ca suy độ 1-2 thì miễn bàn 😊THÀNH CÔNG CỦA NHÀ THUỐC LÀ NIỀM VUI CỦ...
13/03/2024

Những ca suy tim chờ ghép đã thành công 90%
Còn những ca suy độ 1-2 thì miễn bàn 😊

THÀNH CÔNG CỦA NHÀ THUỐC LÀ NIỀM VUI CỦA NGƯỜI BỆNH .

Kỳ y dị thuật – CHỌC TỨC ĐỂ TRỊ BỆNH HIỂMY học hiện đại gọi là liệu pháp tâm lý nhưng kỳ thực đó là tài tình vận dụng ng...
07/01/2024

Kỳ y dị thuật – CHỌC TỨC ĐỂ TRỊ BỆNH HIỂM

Y học hiện đại gọi là liệu pháp tâm lý nhưng kỳ thực đó là tài tình vận dụng nguyên lỹ ngũ hành và tương sinh tương khắc để chuyển bệnh.

Liệu pháp tâm lý trị liệu của người xưa không những xảo diệu mà còn rất phát triển! Tâm lý trị liệu liên quan đến toàn bộ hệ thống học thuật, hệ thống học thuật này chính là ngũ hành mà chúng ta thường nói tới.

Trung y cổ cho rằng, hỉ, nộ, ai, lạc (mừng, giận, buồn, vui) của con người, bản chất của những thay đổi tâm tình này có quan hệ mật thiết với ngũ hành “Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ”. Theo học thuyết tạng tượng, cơ thể con người có 5 hệ thống lớn, cũng chính là Tâm chủ Hỏa, Thận chủ Thủy, Can chủ Mộc, Tỳ chủ Thổ, Phế chủ Kim; 5 hệ thống lớn này đối ứng với ngũ hành của vũ trụ và khi chúng cùng chuyển động một cách tương hỗ sẽ sản sinh các tình chí hỉ, nộ, ai, lạc…

Căn cứ theo nguyên lý tương sinh tương khắc thì Trung y cho rằng: “nộ thương Can, bi thắng nộ; hỉ thương Tâm, khủng thắng hỉ; tư thương Tỳ, nộ thắng tư; ưu thương Phế, hỉ thắng ưu; khủng thương Thận, tư thắng khủng.” (giận quá hại Can, buồn thắng giận; mừng quá hại Tâm, sợ thắng mừng; tư lự suy nghĩ quá hại Tỳ, giận thắng tư; ưu buồn quá hại Phế, vui thắng buồn; sợ hãi quá hại Thận, suy nghĩ thắng sợ).

Liệu pháp chọc giận chính là vận dụng tài tình loại quy luật ngũ hành sinh khắc: “nộ thắng tư”. Tức giận thuộc dương, tư lự suy nghĩ thuộc âm, do đó tức giận có thể làm cho người ta quên đi tư lự, hóa giải muộn phiền, tiêu trừ tích tụ ứ kết, ức chế sợ hãi. Thế nên trong y án cổ đã xuất hiện rất nhiều câu chuyện chữa bệnh thú vị

Văn Chí chọc giận chữa chứng u uất của Tề vương

Thời Chiến quốc, Tề Mẫn vương mắc chứng u uất, cho người đi mời danh y Văn Chí. Sau khi Văn Chí đến nước Tề và chẩn bệnh cho Tề vương, ông nói với Thái tử: “Bệnh của đại vương có thể chữa, nhưng sau khi bệnh của Tề vương khỏi, có thể ông ấy sẽ giết tôi.”

Thái tử hỏi ông: ” Sao lại như vậy?”. Văn Chí nói: “nhất định phải chọc giận Tề vương, mới có thể trị khỏi bệnh của ông.”

Bởi vì tinh thần tiêu trầm, ngày đêm tư lự đều là thuộc âm. Còn tức giận thuộc dương, do đó có thể tiêu trừ tích tụ ứ kết.

Thế là Văn Chí khi bái kiến Tề vương cố ý lỡ hẹn, vào phòng Tề vương không cởi giày, trèo thẳng lên giường, lại vừa đạp lên y phục của quốc vương vừa hỏi bệnh tình của ông ta, còn không ngừng dùng lời lẽ chọc tức Tề vương. Cuối cùng, Tề vương không thể nhịn được nữa, quát mắng chửi Văn Chí ầm lên, đem hết buồn bực trong lòng phát tiết ra một hồi, sau đó chứng u uất của Tề vương cũng hết.

Diệp Thiên Sỹ chọc giận chữa bệnh mắt cho Thái thú

Trong y án cổ, hầu như các đời đều có ghi chép về liệu pháp chọc giận. Thời nhà Thanh, có Thái thú Phiên Hiến được phái đến nhậm chức ở Tô Châu, sau khi vừa mới thăng đường, hai mắt đột nhiên tối sầm lại. Thái thú vội vàng phái người đi mời danh y địa phương Diệp Thiên Sỹ đến trị bệnh.

Diệp Thiên Sỹ sau khi nghe xong tình hình, nói với quan sai: “Ta đúng là một danh y, mời ta đi trị bệnh, phải dùng đầy đủ đội nghi trượng đến rước ta mới được.” Quan sai đành trở về bẩm báo đúng như lời họ Diệp, Phiên Hiến đùng đùng nổi giận. Tùy tùng thân thuộc hai bên hết lần này đến lần khác khéo léo thuyết phục: Diệp Thiên Sỹ là danh y Giang Nam, trị bệnh thường giống như được thần trợ giúp, vô cùng lợi hại, hay là đáp ứng hắn đi… Thái thú nóng lòng muốn chữa bệnh, liền phái đội nghi trượng đi nghênh đón họ Diệp.

Sau khi đội nghi trượng đã đến y quán của họ Diệp, Diệp Thiên Sỹ lại để đệ tử ra đáp lời: “Cần phải là bà vợ chính của Thái thú đích thân nghênh tiếp mới được.” Phiên Hiến sau khi nghe người dưới bẩm báo, đập bàn đứng dậy, gầm thét lên mắng đến nỗi các quan nha đều sợ run rẩy cả lên, tôi tớ hai bên không ai dám chen thêm lời, chỉ đứng nín lặng run rẩy. Chính lúc cơn giận dữ của Thái thú hừng hực nhất, đột nhiên, thị lực của ông ta khôi phục trở lại.

Lúc này, Diệp Thiên Sỹ mới đến nhà thỉnh tội, ông dùng lý luận: “tạng phủ tàng thần”, “hình thần tương y” (gắn bó nương tựa vào nhau) cùng với “ngũ chí tương thắng” (năm loại tình chí thắng lẫn nhau như ở trên) để giải thích cho Thái thú: “Tâm, là nhà ở của Thần. Thái thú lần đầu nhậm chức, trong tâm ắt sẽ vui mừng lớn. Người ta nếu vui mừng quá, tâm thần sẽ tiêu tán, cho nên bỗng nhiên tối sầm mặt lại. Vui mừng lớn thuộc âm, còn giận dữ thuộc dương, tôi cố ý chọc giận Thái thú, lấy dương trị âm, mới làm cho bệnh mắt tiêu mất. Phiên Hiến bỗng nhiên tỉnh ngộ, những nghi vấn trước đây được giải hết, liền đáp lễ tạ ơn Diệp Thiên Sỹ.

Diệp Thiên Sỹ trước khi chẩn bệnh, còn chưa gặp qua Thái thú, chỉ dựa vào miêu tả của người dưới mà đã nhanh chóng đưa ra phương án chữa bệnh, không cần kê phương, không cần uống vị thuốc nào, mắt của Thái thú đã khôi phục thị lực rồi.

Đương nhiên, tức giận vốn không phải là một loại tâm tình tốt lành gì, nhưng tại thời khắc cực kỳ đặc biệt, một chút sáng suốt của thầy thuốc mà qua chọc giận để trị liệu nhắm vào một số bệnh tâm lý, có thể vừa vặn giải khai được then chốt của bệnh.

Theo Epoch times

Address

Tiên Du Bắc Ninh
Bac Ninh
84

Telephone

+84946089298

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phòng Khám Đông Y Phạm Đức Mừng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category