17/05/2026
**PHÂN LOẠI XẸP PHỔI: NGUYÊN NHÂN, CƠ CHẾ VÀ BIỂU HIỆN LÂM SÀNG **
**1/ Lời mở đầu**
Xẹp phổi là tình trạng một phần hoặc toàn bộ nhu mô phổi bị mất khí do phế nang không còn duy trì được sự giãn nở bình thường, dẫn đến giảm thể tích phổi chức năng và suy giảm trao đổi khí.
Trong điều kiện sinh lý bình thường, phế nang được duy trì mở nhờ áp lực âm màng phổi, tính đàn hồi của nhu mô phổi và chất hoạt diện phế nang (surfactant). Khi các yếu tố này bị rối loạn, phế nang mất khả năng giãn nở do khí bị hấp thu, chèn ép hoặc co kéo, từ đó hình thành xẹp phổi.
Dựa trên cơ chế bệnh sinh, xẹp phổi thường được chia thành ba nhóm chính: Xẹp phổi do chèn ép - Xẹp phổi do tắc nghẽn đường thở - Xẹp phổi do co kéo hoặc xơ hóa. Cách phân loại này giúp giải thích nguyên nhân hình thành bệnh, đồng thời hỗ trợ định hướng chẩn đoán và điều trị. Ngoài ra, một số tài liệu còn mô tả xẹp phổi do rối loạn hoặc thiếu hụt chất hoạt diện phế nang, thường gặp trong ARDS, trẻ sinh non hoặc tổn thương phổi lan tỏa. Tuy nhiên, ba cơ chế trên vẫn là nhóm thường gặp nhất trong thực hành lâm sàng.
**2/ Xẹp phổi do chèn ép từ bên ngoài**
Xẹp phổi do chèn ép xảy ra khi một lực cơ học từ bên ngoài tác động lên nhu mô phổi, thường liên quan đến bệnh lý khoang màng phổi, trung thất hoặc các cấu trúc lân cận
*Nguyên nhân:* nguyên nhân thường gặp gồm tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, tràn ma:u' màng phổi, khối u hoặc hạch trung thất. Ngoài ra, béo phì nặng, liệt cơ hoành, chướng bụng, cổ trướng hoặc giảm thông khí sau phẫu thuật cũng có thể gây xẹp phổi kiểu chèn ép
*Cơ chế bệnh sinh:* Trong điều kiện bình thường, phổi được duy trì ở trạng thái giãn nở nhờ áp lực âm trong khoang màng phổi. Khi có sự tích tụ bất thường của dịch, khí, ma:u' hoặc khối choán chỗ trong khoang màng phổi hay trung thất, áp lực trong các khoang này tăng lên và làm mất cân bằng áp lực sinh lý.
Kết quả là nhu mô phổi bị đẩy ép từ ngoài vào trong, làm giảm khả năng giãn nở của phổi trong thì hít vào. Khi thể tích phổi giảm, các phế nang bị nén lại, diện tích trao đổi khí giảm và vùng phổi tổn thương dần mất khí, dẫn đến xẹp phổi. Nếu tình trạng chèn ép kéo dài, sự giảm thông khí tại vùng phổi bị tổn thương có thể gây mất cân bằng thông khí–tưới ma:u', giảm oxy ma:u' và tăng nguy cơ nhiễm trùng thứ phát.
*Biểu hiện trên lâm sàng:* bệnh nhân thường khó thở, đau ngực kiểu màng phổi, thở nhanh hoặc cảm giác tức ngực. Khám lâm sàng có thể thấy giảm di động lồng ngực, rung thanh giảm; gõ đục trong tràn dịch hoặc tràn ma:u', gõ vang trong tràn khí màng phổi; rì rào phế nang giảm hoặc mất tại vùng tổn thương. Trường hợp nặng có thể xuất hiện giảm SpO₂ và suy hô hấp.
**3/ Xẹp phổi do tắc nghẽn đường thở**
Đây là kiểu xẹp phổi thường gặp nhất trong thực hành lâm sàng, đặc biệt ở bệnh nhân hậu phẫu, nằm lâu hoặc điều trị tại khoa hồi sức tích cực. Tình trạng này xảy ra khi lòng phế quản bị bít tắc hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn, khiến không khí không thể đến các phế nang phía xa và dẫn đến xẹp phổi
*Nguyên nhân:* Nguyên nhân thường gặp gồm nút nhầy, đờm đặc, dị vật đường thở, khối u phế quản, cục ma:u' đông hoặc co thắt phế quản nặng. Tình trạng này thường gặp ở bệnh nhân sau phẫu thuật, nằm lâu, giảm ý thức, thở máy, hen phế quản, COPD hoặc giãn phế quản.
*Cơ chế bệnh sinh:* Nói một cách đơn giản, khi lòng phế quản bị bít tắc, không khí từ bên ngoài không thể đi đến các phế nang ở phía sau vị trí tắc. Tuy nhiên, lượng khí đang có sẵn trong các phế nang vẫn tiếp tục được hấp thu qua màng phế nang–mao mạch vào ma:u' như bình thường. Vì không có khí mới được bổ sung, thể tích khí trong phế nang sẽ giảm dần theo thời gian, làm các phế nang co nhỏ lại và cuối cùng bị xẹp.
Khi một vùng phổi bị xẹp, khu vực đó gần như không còn tham gia vào quá trình thông khí nhưng vẫn có ma:u' đi qua, dẫn đến mất cân bằng thông khí–tưới ma:u' (V/Q) và gây giảm oxy ma:u'. Đồng thời, dịch tiết không được tống ra ngoài sẽ dễ ứ đọng phía sau chỗ tắc, tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, làm tăng nguy cơ viêm phổi hoặc bội nhiễm phổi nếu không được xử trí kịp thời.
*Biểu hiện lâm sàng:* Bệnh nhân có thể khó thở, thở nhanh, tức ngực, ho yếu hoặc giảm khả năng khạc đờm. Trường hợp nặng có thể giảm SpO₂, tím môi đầu chi hoặc suy hô hấp. Khám lâm sàng thường ghi nhận giảm di động lồng ngực, rung thanh giảm, rì rào phế nang giảm hoặc mất tại vùng tổn thương; có thể kèm ran ẩm hoặc ran nổ nếu có ứ đọng dịch tiết hoặc bội nhiễm.
**4/ Xẹp phổi do co kéo hoặc xơ hóa**
Khác với xẹp phổi do chèn ép hoặc tắc nghẽn đường thở, xẹp phổi do co kéo xuất phát từ tổn thương cấu trúc bên trong nhu mô phổi, thường tiến triển chậm và mang tính mạn tính. Quá trình này diễn ra âm thầm nên triệu chứng ban đầu dễ bị bỏ sót.
*Nguyên nhân:* Nguyên nhân thường gặp gồm xơ phổi, đặc biệt trong các bệnh phổi mô kẽ mạn tính; di chứng lao phổi; sẹo xơ sau viêm phổi nặng hoặc áp xe phổi. Ngoài ra, tổn thương sau xạ trị vùng ngực, phơi nhiễm asbestos, silica hoặc các hóa chất độc hại kéo dài cũng có thể dẫn đến xơ hóa nhu mô phổi
*Cơ chế bệnh sinh:* Khi nhu mô phổi bị tổn thương kéo dài do viêm, nhiễm trùng hoặc các tác nhân độc hại, mô phổi bình thường sẽ dần bị thay thế bằng mô xơ hoặc mô sẹo. Khác với mô phổi khỏe mạnh có tính đàn hồi tốt, mô xơ thường cứng và có xu hướng co rút theo thời gian. Sự co kéo liên tục này làm nhu mô phổi bị thu nhỏ lại, giảm khả năng giãn nở trong thì hít vào, đồng thời kéo các phế nang xung quanh xẹp xuống. Kết quả là thể tích phổi giảm dần, diện tích trao đổi khí bị thu hẹp và hình thành xẹp phổi, có thể khu trú ở một vùng hoặc lan rộng ra nhiều vùng của phổi.
*Biểu hiện lâm sàng:* Bệnh nhân thường khó thở mạn tính, ban đầu khi gắng sức rồi tiến triển cả khi nghỉ, kèm mệt nhanh và ho khan kéo dài. Khám lâm sàng có thể ghi nhận giảm di động lồng ngực, ran nổ mịn cuối thì hít vào; trường hợp nặng có thể xuất hiện giảm oxy ma:u' mạn tính, tím đầu chi, ngón tay dùi trống và suy hô hấp tiến triển. Khác với các thể xẹp phổi khác, xẹp phổi do xơ hóa thường hồi phục kém và điều trị chủ yếu tập trung vào kiểm soát bệnh nền và hỗ trợ hô hấp lâu dài.
**5/ Kết luận**
Xẹp phổi là tình trạng bệnh lý thường gặp, có thể làm giảm thông khí, giảm trao đổi khí và ảnh hưởng chức năng hô hấp. Bệnh chủ yếu hình thành qua ba cơ chế chính gồm chèn ép, tắc nghẽn đường thở và co kéo do xơ hóa nhu mô phổi. Việc hiểu rõ từng cơ chế có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán nguyên nhân, can thiệp kịp thời và nâng cao hiệu quả điều trị, từ đó cải thiện tiên lượng cho người bệnh.
----------------------------
🎧 Y khoa Remix – Hô hấp Remix
(Nội dung mang tính giáo dục, không thay thế tư vấn y tế)...
Kính mời quý đồng nghiệp tham khảo bài gốc tại group Diễn đàn Y khoa