Home Care Tuấn Hoàng Đà Nẵng

Home Care Tuấn Hoàng Đà Nẵng Sức khỏe của bạn là sứ mệnh của chúng tôi
chúng tôi sinh ra là để phục vụ sức khỏe cho gia đình và tất cả mọi người ! Hảy tin ở chúng tôi !

🔔🔔🔔Phát hiện đột quỵ: Làm gì ngay để không bỏ lỡ “thời gian vàng”?Đột quỵ có thể xảy ra bất ngờ ngay khi người bệnh đang...
24/03/2026

🔔🔔🔔Phát hiện đột quỵ: Làm gì ngay để không bỏ lỡ “thời gian vàng”?

Đột quỵ có thể xảy ra bất ngờ ngay khi người bệnh đang sinh hoạt bình thường như ăn uống, trò chuyện hay xem tivi. Những dấu hiệu như nói khó, méo miệng hoặc làm rơi đồ vật đang cầm thường xuất hiện rất nhanh, khiến nhiều người lầm tưởng chỉ là mệt mỏi hay chóng mặt thoáng qua. Tuy nhiên, chính sự chần chừ trong vài phút đầu có thể khiến người bệnh đánh mất cơ hội điều trị quan trọng.

Đột quỵ là tình trạng cấp cứu khi dòng máu lên não bị gián đoạn hoặc mạch máu não bị vỡ, làm tổn thương tế bào não. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật trên toàn cầu. Điều đáng nói là nếu được xử trí kịp thời trong “thời gian vàng”, nguy cơ biến chứng nặng có thể giảm đáng kể.

Để nhận biết sớm đột quỵ, các chuyên gia khuyến nghị áp dụng quy tắc FAST. Theo đó, cần chú ý nếu người bệnh có biểu hiện méo mặt, yếu tay chân, nói khó hoặc mất thăng bằng đột ngột. Khi các dấu hiệu này xuất hiện, khả năng cao là một cơn đột quỵ đang xảy ra.

Việc quan trọng nhất lúc này là gọi cấp cứu ngay lập tức hoặc nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất. Việc trì hoãn, chờ đợi triệu chứng tự hết có thể làm giảm đáng kể cơ hội hồi phục. Nếu có thể, hãy ghi nhớ thời điểm khởi phát triệu chứng để cung cấp cho bác sĩ.

Trong thời gian chờ cấp cứu, nên đặt người bệnh nằm ở tư thế an toàn, đầu nâng nhẹ và nới lỏng quần áo để dễ thở. Nếu người bệnh nôn, cần cho nằm nghiêng để tránh sặc. Đồng thời, theo dõi ý thức, nhịp thở và tình trạng tổng thể cho đến khi nhân viên y tế đến.

Bên cạnh đó, cần tránh những sai lầm thường gặp như cho ăn uống, tự ý dùng thuốc, cạo gió hay chích máu. Những cách xử trí này không có cơ sở khoa học và có thể làm tình trạng trở nên nghiêm trọng hơn.

Các chuyên gia luôn nhấn mạnh: “Thời gian là não”. Mỗi phút trôi qua, hàng triệu tế bào não có thể bị tổn thương không hồi phục. Do đó, phát hiện sớm và hành động nhanh chóng chính là chìa khóa giúp cứu sống và giảm thiểu di chứng cho người bệnh.

Muốn tìm Phật, đừng chỉ vào chùa, đừng chi hàng chục triệu vào rừng chữa lành, hãy thử một lần bước vào bệnh viện. Bệnh ...
23/03/2026

Muốn tìm Phật, đừng chỉ vào chùa, đừng chi hàng chục triệu vào rừng chữa lành, hãy thử một lần bước vào bệnh viện. Bệnh viện không có tiếng chuông chùa, không có nhà sư nhưng lại dạy Lâm rất rõ về vô thường.

Hồi nhỏ, Lâm từng nghĩ muốn bình yên thì phải đi chùa, phải tìm đến những nơi thật yên tĩnh, gần gũi thiên nhiên. Và cũng từng nghĩ, muốn hạnh phúc thì phải có nhiều tiền.

Nhưng rồi, nhiều lần theo má, ba, mẹ chồng vào viện khu người cao tuổi
Lâm thấy những người già đi đứng khó khăn, nói chuyện cũng khó, ăn uống cũng vất vả. Thấy những cuộc chia tay lặng lẽ. Thấy những ánh mắt mệt mỏi, buông xuôi. Thấy cả những vong linh vất vưởng.

Tự nhiên Lâm nhận ra… thời gian của mỗi người thật ra không nhiều như mình tưởng.

Ở đó, không ai còn bận tâm mình giàu hay nghèo. Không ai còn ganh đua hơn thua. Chỉ còn lại một điều duy nhất: “được sống thêm một ngày khỏe mạnh”.

Và cũng từ đó, Lâm học cách yêu bản thân hơn, sống chậm lại.
Lâm rời xa những mối quan hệ phán xét, rời xa những cảm xúc tiêu cực. Rời xa cả những người Lâm từng xem là người thân, rời xa những nơi mà dù đã cố gắng sống tốt đến mấy, trong mắt họ Lâm vẫn luôn là người sai.

Lâm chọn buông. Những ngày tháng sau này lười phải giải thích. Trả lại cho họ sự yên ổn, và trả lại cho Lâm bình yên.

60KM- 130KM VÀ CÁI GIÁ CỦA SỰ CHỦ QUAN.Có những ca trực bực bệnh nhân 1, nhưng bực người nhà gấp đôi. Không phải vì họ k...
22/03/2026

60KM- 130KM VÀ CÁI GIÁ CỦA SỰ CHỦ QUAN.

Có những ca trực bực bệnh nhân 1, nhưng bực người nhà gấp đôi. Không phải vì họ không biết, mà vì họ biết nhưng lại xem thường. Đã được dặn dò, đã từng điều trị, đã hiểu rõ bệnh của người thân mình nguy hiểm thế nào, nhưng rồi vẫn chủ quan, vẫn nghĩ “chắc chưa sao đâu”, cho đến khi mọi thứ vượt khỏi tầm kiểm soát.

Ngày trực hôm nay vẫn như mọi ngày trực khác, bệnh nhân ra vào đều, công việc trôi đi trong nhịp quen thuộc. Cho đến khoảng 12h30, một bệnh nhân nữ hơn 60 tuổi từ Quỳnh Lưu vào viện.

Đây không phải lần đầu cô nhập viện bọn mình, cô là “khách quen” của khoa cấp cứu và mới xuất viện tròn 14 ngày. Cơn khó thở đã xuất hiện từ 3 ngày trước nhưng vẫn cố chịu, đến khi không chịu nổi nữa thì người nhà mới đưa đi.

Gần 60km di chuyển bằng xe nhà, nhưng trên xe không có bất kỳ dụng cụ hỗ trợ nào, kể cả oxy. Khi vào đến nơi, bệnh nhân đã tím tái, kiệt sức, gần như không còn khả năng tự thở hiệu quả. Mọi thứ được xử lý nhanh nhất có thể, bác sĩ đặt ống nội khí quản và chuyển thẳng vào hồi sức tích cực để thở máy.

Chưa kịp hết căng thẳng thì buổi chiều lại thêm một ca tương tự. Một ông 73 tuổi, vừa điều trị ở bệnh viện huyện và ra viện được 2 ngày, nhưng tình trạng khó thở vẫn không cải thiện. Vậy mà ông và người nhà vẫn quyết định di chuyển gần 130km từ Quỳ Hợp xuống bằng xe nhà, cũng không có oxy hỗ trợ, hay dụng cụ gì.

Khi vào viện, tình trạng gần như giống hệt ca buổi trưa: khó thở, tím tái, kiệt sức. Và kết quả vẫn vậy, đặt ống nội khí quản, chuyển hồi sức tích cực, thở máy.

Qua hai ca trực hôm nay và rất nhiều ca trực trước đó, mình nhận ra một điều rất rõ: không phải bệnh trở nặng quá nhanh, mà là người bệnh đã cho nó đủ thời gian để trở nặng. Chỉ cần đi viện sớm hơn một chút, chỉ cần có oxy hỗ trợ trong quá trình di chuyển, chỉ cần đừng chủ quan, thì có thể mọi thứ đã khác.

Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính không đáng sợ ở việc nó tồn tại, mà đáng sợ ở chỗ nó âm thầm xấu đi trong sự cố chịu của người bệnh và sự chủ quan của người nhà. Nếu bạn hoặc người thân đang mắc bệnh này, hãy thực sự nghiêm túc với những gì nhân viên y tế đã căn dặn, vì có những cơn khó thở không phải cứ cố thêm một chút là qua được, và có những lần chậm trễ phải trả giá bằng những can thiệp nặng nề hơn rất nhiều.

Khám,xét nghiệm tại nhà người cao tuổi,bệnh nặng,tiêm truyền, kê đơn ở TP.ĐÀ NẴNG     0908.786.168
20/03/2026

Khám,xét nghiệm tại nhà người cao tuổi,bệnh nặng,tiêm truyền, kê đơn ở TP.ĐÀ NẴNG 0908.786.168

ĐAU ỐM CÓ THỂ XẢY RA BẤT KỂ LÚC NÀO. ĐỂ GIẢM BỚT LÚNG TÚNG TRONG TÌM KIẾM DỊCH VỤ Y TẾ, ĐẶC BIỆT TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN C...
26/02/2026

ĐAU ỐM CÓ THỂ XẢY RA BẤT KỂ LÚC NÀO. ĐỂ GIẢM BỚT LÚNG TÚNG TRONG TÌM KIẾM DỊCH VỤ Y TẾ, ĐẶC BIỆT TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP, MỖI NGƯỜI NÊN CHUẨN BỊ ĐỦ CÁC NỘI DUNG SAU:
1️⃣️ Số điện thoại của bác sĩ/ phòng khám để tham vấn hay đặt lịch khám.
2️⃣️số điện thoại khẩn cấp: 115.
3️⃣️Số điện thoại người nhà để liên hệ trong trường hợp khẩn cấp: cần lưu 2 số người nhà dễ tìm kiếm nhất.
4️⃣️Thông tin nhóm máu.
5️⃣️Tiền sử dị ứng của bạn: Bạn nên chủ động nói với nhân viên y tế về tiền sử dị ứng của bạn.
6️⃣️Tiền sử bệnh của bạn.
7️⃣️Giấy chứng minh nhân dân.
8️⃣️Thể bảo hiểm y tế: Phải đảm bảo còn hạn sử dụng.
9️⃣️Sổ y bạ: mỗi người nên có một sổ y bạ duy nhất để ghi chép tất cả quá trình điều trị của bạn.Để những lần khám chữa bệnh sau có thông tin để tham chiếu.
🔟Hồ sơ khám chưa bệnh. thuốc đã và đang sử dụng.
️💯Một trung tâm chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện ưu tín: Để chăm sóc cho bạn khi người nhà của bạn không có thời gian để ở bên bạn 24/24h khi bạn cần phải nằm viện.
HÃY LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI. BẠN SẼ GIẢM BỚT NHIỀU NỖI LO KHI PHẢI NẰM VIỆN ĐIỀU TRỊ.

Chia sẽ cho nhiều người chắc sẽ cần ! Khô da đơn thuần ko phải nấm da nhé mọi người
25/02/2026

Chia sẽ cho nhiều người chắc sẽ cần !
Khô da đơn thuần ko phải nấm da nhé mọi người

HÃY CỐ MÀ ĐỌC MỘT LẦN TRONG ĐỜISói đi ngàn dặm để có thức ăn...Ngựa đi ngàn dặm để có nước uống...Cá sống khi bơi ngược ...
24/02/2026

HÃY CỐ MÀ ĐỌC MỘT LẦN TRONG ĐỜI

Sói đi ngàn dặm để có thức ăn...
Ngựa đi ngàn dặm để có nước uống...
Cá sống khi bơi ngược dòng, cá ch*t mới thuận nước trôi xuôi...

Đạo lý trên đời cũng là như vậy.

Có một câu khiến người ta cảm thấy vô cùng chí lý:
"Cuộc sống có phải thực sự mệt mỏi? Mệt mỏi là đúng rồi , thoải mái chỉ dành cho những người đã khuất".

Đường đi dễ dàng là đang xuống dốc, khó khăn là bởi vì bạn đang lên dốc.

Khổ mới là nhân sinh
Mệt mỏi, mới là công việc
Biến hóa mới là vận mệnh
Nhẫn nhịn mới là từng trải
Cho đi mới là trí tuệ
Tĩnh lại mới là tu dưỡng
Buông bỏ mới chính là đạt được...

Nếu như lúc này bản thân cảm thấy v.ấ.t v.ả thì hãy tự nói với mình rằng, đường đi dễ dàng chính là đang xuống dốc, mệt mỏi, bởi vì bạn đang lên dốc.

🚑🏥BỘ Y TẾ SẼ KIỂM TRA ĐỘT XUẤT CÔNG TÁC TRỰC CẤP C.Ứ.U TẠI CÁC BỆNH VIỆN DỊP TẾTTheo Bộ Y tế, giám đốc các bệnh viện trự...
09/02/2026

🚑🏥BỘ Y TẾ SẼ KIỂM TRA ĐỘT XUẤT CÔNG TÁC TRỰC CẤP C.Ứ.U TẠI CÁC BỆNH VIỆN DỊP TẾT

Theo Bộ Y tế, giám đốc các bệnh viện trực thuộc Bộ, Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thủ trưởng Y tế các Bộ, ngành chỉ đạo các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo đảm thực hiện thường trực 4 cấp, 24/24 giờ.

Nhằm bảo đảm công tác cấp cứu, khám chữa bệnh phục vụ nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Bộ Y tế đã ban hành văn bản gửi Giám đốc các bệnh viện trực thuộc Bộ, Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thủ trưởng Y tế các Bộ, ngành.

Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện thường trực 4 cấp, bảo đảm 24/24 giờ, bao gồm: Trực lãnh đạo và xử lý thông tin đường dây nóng; trực chuyên môn; trực hành chính - hậu cần; trực bảo vệ - tự vệ. Danh sách cán bộ trực phải được niêm yết công khai tại các khoa, phòng.

Cùng với đó, các đơn vị cần tổ chức tốt việc thu dung, cấp cứu, điều trị người bệnh; chủ động bảo đảm đầy đủ nhân lực, thuốc, máu và chế phẩm máu, dịch truyền, vật tư, hóa chất, thiết bị y tế, ôxy y tế; bố trí đầy đủ giường bệnh và phương tiện phục vụ cấp cứu. Công tác tiếp nhận, điều trị cần tập trung vào các trường hợp tai nạn giao thông, cháy nổ, chấn thương, ngộ độc thực phẩm cũng như các bệnh truyền nhiễm thường gặp trong mùa đông – xuân, nhằm hạn chế biến chứng nặng và tử vong.

Các cơ sở khám chữa bệnh phải xây dựng phương án sẵn sàng đáp ứng các tình huống tai nạn, ngộ độc, cấp cứu hàng loạt có thể xảy ra trên địa bàn; chuẩn bị phương án cấp cứu tại các điểm du lịch, vui chơi, giải trí, sự kiện tập trung đông người trong dịp Tết và mùa lễ hội đầu năm. Ngoài nhiệm vụ chuyên môn, các bệnh viện cần tổ chức thăm hỏi, động viên và đón Tết cho người bệnh còn điều trị nội trú, đặc biệt quan tâm đến người bệnh nghèo và các đối tượng chính sách.

Bộ Y tế đặc biệt yêu cầu thực hiện chế độ báo cáo trực tuyến hằng ngày trên hệ thống của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đối với tất cả các cơ sở có giường bệnh. Nội dung báo cáo bao gồm tổng hợp số liệu cấp cứu, khám chữa bệnh và danh sách ca bệnh chi tiết, trong đó lưu ý các trường hợp tai nạn do pháo nổ, pháo hoa, vũ khí, vật liệu nổ tự chế và tai nạn giao thông. Các ca tử vong hoặc nặng xin về phải được báo cáo riêng theo đúng quy định.

Bộ Y tế cho biết sẽ tổ chức các đoàn kiểm tra đột xuất công tác chuẩn bị và thực hiện thường trực tại một số bệnh viện, viện có giường bệnh trực thuộc Bộ và các bệnh viện địa phương trước và trong dịp Tết Bính Ngọ 2026.

Theo: Phương Thúy - VietNamNet

Thở máy còn gọi là thông khí cơ học nhân tạo (TKCH) cho bệnh nhân là một giai đoạn quyết định trong quá trình điều trị b...
07/02/2026

Thở máy còn gọi là thông khí cơ học nhân tạo (TKCH) cho bệnh nhân là một giai đoạn quyết định trong quá trình điều trị bệnh nhân tại khoa Hồi sức tích cực (HSTC), đặc biệt là đối với bệnh nhân sau ngừng tuần hoàn.
Thở máy là một kỹ thuật quan trọng hàng đầu trong chuyên khoa Hồi sức tích cực (HSTC) mà bất cứ bác sĩ nào thuộc chuyên khoa này đều phải nắm vững.

Khi có chỉ định TKCH, người bác sĩ HSTC phải tiến hành thực hiện hàng loạt các công việc theo một trình tự khoa học mang tính bắt buộc, còn gọi là các bước tiến hành thở máy:

(1) Đánh giá bệnh nhân
(2) Lựa chọn và cài đặt bước đầu
(3) Theo dõi bệnh nhân thở máy
(4) Chăm sóc bệnh nhân thở máy
(5) Điều chỉnh máy thở
(6) Thôi thở máy và cai thở máy
(7) Dọn dẹp và vệ sinh máy thở.

Trong thực tế còn nhiều bác sĩ HSTC gặp không ít khó khăn, đôi khi lúng túng trong việc thực hiện các công việc của mình do nhiều nguyên nhân như: chưa được huấn luyện bài bản, chưa được thống nhất (về thuật ngữ), không nắm chắc mục tiêu của từng bước, không nắm chắc cơ sở khoa học của từng bước, không hiểu hết ý nghĩa của các thông số khi cài đặt - điều chỉnh và cuối cùng là không thực hiện đúng quy trình tiến hành thở máy.

I. Mục đích hay tác dụng của thở máy.

Mục đích chủ yếu của thở máy nhằm cung cấp sự trợ giúp nhân tạo và tạm thời về thông khí và oxy hóa máu. Ngoài ra thở máy còn nhằm chủ động kiểm soát thông khí khi có nhu cầu như dùng thuốc mê để vô cảm (trong gây mê toàn thể qua nội khí quản), thuốc an thần gây ngủ…, làm giảm áp suất nội sọ ngay lập tức trong điều trị tụt não do tăng áp nội sọ, hoặc cho phép làm thủ thuật như nội soi khí phế quản, hút rửa phế quản.

II. Chỉ định của thở máy

Thở máy (thông khí cơ học hay nhân tạo) thường được chỉ định khi cơ quan hô hấp không đảm bảo được chức năng của mình

1. Ngừng thở.
2. Suy hô hấp cấp có tăng CO2 máu.
3. Suy hô hấp cấp có giảm oxy máu.
4. Suy hô hấp mạn lệ thuộc vào máy thở.
5. Mệt cơ hô hấp, tăng công thở và/hoặc tăng nhu cầu tiêu thụ Oxy.
6. Cần chủ động kiểm soát thông khí (gây mê, tăng ALNS…).
7. Cần ổn định thành ngực hay phòng và chống xẹp phổi.

Trong cấp cứu hồi sinh tim phổi thì TKCH là một chỉ định hiển nhiên cùng với các động tác hồi sinh khác.

Đối với suy hô hấp do suy bơm cấp, khi PaCO2 tăng cao đủ để gây ra toan hô hấp cấp mất bù (pH 60% hoặc CPAP ≥ 10 cmH2O thì TKCH cần được chỉ định, quyết định thở máy lúc này có thể không nhất thiết phải có các bằng chứng về khí máu động mạch.

Ngoài nhóm chỉ định chủ yếu trong suy hô hấp cấp và mạn, thở máy còn được chỉ định ngay cả khi không có suy hô hấp. Đó là khi sử dụng thở máy như là một công cụ nhằm chủ động kiểm soát tình trạng thông khí (trong gây mê, điều trị tăng áp nội sọ, làm thủ thuật trong khí phế quản hoặc trong llồng ngực …). Đó là các tình trạng bệnh lý có tăng nhu cầu sử dụng oxy (sốc, trụy tim mạch, suy tim trái cấp …), tình trạng mệt mỏi cơ hô hấp (bệnh thần kinh cơ, nội tiết).

Cuối cùng thở máy còn được chỉ định cho một số tình trạng bệnh lý thành ngực (mảng sườn di động) nhằm ổn định thành ngực, hội chứng ngưng thở lúc ngủ (sleep apnea syndrome - SAS) và một số bệnh thần kinh cơ có nhiều nguy cơ xẹp phổi do giảm thông khí phế nang.

Tuỳ theo bệnh nền, bệnh nhân được phân loại thành một trong 3 nhóm sau theo cơ chế bệnh sinh:
1. Phổi bình thường (không có tổn thương): Chấn thương đầu – cột sống – cổ, Viêm não – màng não, Đột quỵ não, Ngộ độc thuốc, Bệnh thần kinh – cơ
2. Phổi hạn chế (giảm trao đổi phế nang): Viêm phổi, Phù phổi, ARDS, Ngạt nước, Bệnh màng trong…
3. Phổi tắc nghẽn (tăng kháng trở đường thở): Hen, COPD, Viêm tiểu phế quản…

III. Đánh giá bệnh nhân khi có chỉ định thở máy

Đánh giá BN khi bắt đầu tiến hành thở máy là công việc đầu tiên bắt buộc phải được thực thi.
Trước hết nhằm xếp loại mức độ nặng của BN, từ đó tiên lượng người bệnh, sau đó là nhằm phân loại BN theo nhóm suy hô hấp để có cơ sở đưa ra những quyết định tiếp theo. Bao gồm:

3.1. Đánh giá về tổng trạng:
− APACHE II (Acute PhysiologyAnd Chronic Health Evaluation).
− Tiền sử bệnh: có liên quan đến cơ quan hô hấp (hút thuốc, khói bụi nghề nghiệp, yếu cơ, …)

3.2. Đánh giá về cơ quan hô hấp
− Có hay không có tổn thương tại phổi?
− Ngưng thở hoàn toàn hay còn tự thở ?
− Tự thở đạt mức nhạy của máy thở (sensitivity level)?

3.3. Đánh giá về khí máu động mạch.
− Mức độ nặng của suy hô hấp ? đáp ứng bù trừ ?
− Cơ chế chính gây suy hô hấp ?

IV. Chọn & cài đặt lúc bắt đầu thở máy

4.1. Mục tiêu:
− Chọn chiến lược thở máy sẽ áp dụng cho BN
− Chọn được máy thở và phương thức thở.
− Cài đặt bước đầu các thông số cơ bản

4.2. Cơ sở khoa học:
− Tình trạng của BN: loại suy hô hấp (tổn thương phổi hay suy bơm?), bệnh nền sẵn có?, khả năng tự thở và mức nhạy trigger đạt được?.
− Mục tiêu sinh lý cần đạt được khi tiến hành TKCH cho BN.
− Trang bị sẵn có và kinh nghiệm của thầy thuốc?.

4.3. Tiến hành chọn và cài đặt

4.3.1. Chọn chiến lược thở máy sẽ áp dụng cho bệnh nhân
Chọn lựa chiến lược thở máy sẽ áp dụng cho BN là một công việc có tầm quan trọng quyết định các bước tiếp theo. Có ba chiến lược để chọn lựa cho các nhóm BN thường gặp trên lâm sàng bao gồm chiến lược bảo vệ phổi, chiến lược chống auto-PEEP và chiến lược chống xẹp phổi.

− Chiến lược bảo vệ phổi thường được chọn cho nhóm BN bị những bệnh lý có tổn thương nghiêm trọng tại phổi như ALI (Acute Lung Injury – tổn thương phổi cấp), ARDS (Acute Respiratory Distress Syndrome – nguy ngập hô hấp cấp hay suy hô hấp cấp tiến triển). Nhằm tránh gây ra thêm những tổn thương do quá trình thở máy (Ventilation Induced Lung Injury – VILI) như barotrauma, volutrauma, atelectrauma, biotrauma, …. Chiến lược này bao gồm việc sử dụng thể tích khí lưu thông thấp (Vt thấp ≈ 6 – 8 ml/kg) nhằm tránh làm căng phế nang quá mức và cài đặt mức áp lực dương cuối kỳ thở ra cao hơn bình thường (PEEP ≈ 10 – 20 cmH2O) nhằm tăng cường khả năng trao đổi khí và duy trì phổi luôn mở, hạn chế tình trạng phổi đóng và mở lập lại theo chu kỳ tạo nguy cơ phóng thích các chất trung gian gây viêm.

− Chiến lược chống auto-PEEP thường được chọn cho nhóm BN bị COPD (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính) và hen phế quản. Nhằm sửa chữa các yếu tố tạo ra auto-PEEP. Bao gồm can thiệp vào các yếu tố ngoại sinh làm gia tăng sức cản đường thở như dùng ống nội khí quản (NKQ) kích cỡ lớn nhất có thể được, tránh đọng nước trên ống thở ra, chọn thể tích lưu thông vừa phải (VT ≈ 7 – 8 ml/kg); giảm tần số máy thở (F 35 cmH2O.
+ Có thể tạo PEEP tự chế.
+ Cần phối hợp thuốc an thần thoả đáng

− Tình huống có đủ loại máy thở để chọn: tùy thuộc vào tình trạng BN có hay không có tổn thương tại phổi:
+ Nếu suy hô hấp không có tổn thương phổi, nên chọn máy thở đơn giản.
+ Nếu suy hô hấp có tổn thương tại phổi, nên chọn máy thở hiện đại có nhiều chức năng, nhiều công cụ giúp thầy thuốc có thể sử dụng để cải thiện oxy hóa máu, giảm chống máy và cai máy thở …

4.3.3. Chọn phương thức thở máy (Modes)
Cho đến hiện nay, có quá nhiều các phương thức thở máy (mode thông khí cơ học) đã được biết đến. Nhưng vẫn không có bất cứ một hướng dẫn thống nhất hoặc một nghiên cứu khoa học nào cho thấy một phương thức thở máy này tốt hơn một phương thức khác. Tuy vậy hầu hết các tác giả đều có chung một ý kiến đó là việc lựa chọn phương thức thở máy phải trước hết dựa vào tình trạng của người bệnh. Khi khởi đầu tiến hành thở máy, người bệnh chưa ổn định thì nên chọn các phương thức thở máy kiểm soát/hỗ trợ (A/C). Khi người bệnh đã dần ổn định, đã xuất hiện những nhịp tự thở (BN đã khởi động được máy thở một cách thường xuyên) thì nên chuyển sang các phương thức hỗ trợ (PSV) nhằm tôn trọng hay bảo tồn những nhịp thở tự nhiên, tránh được chống máy và giảm nhu cầu sử dụng thuốc an thần. Do người bệnh được tự mình quyết định thời điểm bắt đầu và kết thức một nhịp thở. Ở người lớn, nên khởi đầu với mode kiểm soát/hỗ trợ về thể tích (V A/C) trong hầu hết các trường hợp, chỉ nên chuyển sang mode kiểm soát áp suất khi thở kiểm soát thể tích tạo ra áp suất trên đường thở quá cao (Pplateau >30 cmH2O) đe dọa chấn thương phổi do áp lực hoặc những trường hợp có tổn thương phổi trầm trọng, có nhiều nguy cơ xuất hiện thêm những tổn thương phổi do thở máy (VILI). Ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ có cân nặng dưới 15 kg thì nên chọn mode định hướng áp lực vì phải sử dụng ống nội khí quản không có bóng chèn (có thể gây rò thoát khí đáng kể). Phần lớn các mode đặc biệt khác thường được chọn để cai máy hoặc có chỉ định đặc biệt.

4.3.4. Cài đặt các thông số lúc bắt đầu thở máy
Khi TKCH được chỉ định, việc cài đặt các thông số lúc bắt đầu phải được cân nhắc cẩn thận, dựa vào mục tiêu cụ thể cần đạt được khi cho BN thở máy, loại máy thở được dùng, phương thức TKCH mà ta đã chọn.

Đối với các phương thức định hướng thể tích:
Đầu tiên phải cài đặt (ấn định) các thông số về thể tích, tùy theo máy thở:
Các máy có nguồn gốc từ châu Âu (hoặc dùng ngôn ngữ châu Âu)
Thường cần cài đặt thể tích thông khí phút (Minute Volume, Minute Ventilation – VE), theo công thức sau: VE (1) = VT (2) × f (3)
Trong đó:
− (1) Thông khí phút (VE) là thể tích khí được lưu thông (vào hoặc ra khỏi phổi) trong một phút. Thông khí phút (lít/phút) thường được ước tính khoảng 4 lần diện tích da (BSA: Body Surface Area) của cơ thể bệnh nhân nam hoặc 3,5 lần diện tích da cơ thể của BN nữ. VE tính được phải được cộng thêm nếu BN có các tình trạng sau:
+ Sốt: cộng thêm 9% cho mỗi một độ C tăng thêm.
+ Toan chuyển hóa: cộng thêm 20% cho mỗi sự tụt giảm 0,1 của pH.
+ Stress: cộng thêm 50 % - 100 % nếu có bỏng rộng, đa chấn thương…
− (2) Thể tích khí lưu thông (Tiđal Volume – VT): là thể tích khí lưu thông (vào hoặc ra khỏi phổi) trong một lần thở (chu kỳ). Còn gọi là thể tích khí thường lưu, tính bằng mililit (ml). Thể tích khí lưu thông thường được ước tính khoảng từ 5 đến 15 ml cho mỗi một kilogram trọng lượng cơ thể lý tưởng (IBW – Ideal Body Weight):
+ Chọn VT = 5 – 8 ml/ kg cho nhóm SHHC có nguy cơ chấn thương phổi do áp lực (barotrauma), hoặc khi có auto-PEEP đáng kể.
+ Chọn VT = 10 – 15 ml/kg cho nhóm SHHC không có tổn thương phổi.
+ Nên chọn VT sao cho áp lực bình nguyên cuối thì thở vào (Pplateau) tạo ra luôn thấp hơn 35 cmH2O.
+ Chú ý: phải tính đến thể tích khí bị nén (Compressible Volume) khi sử dụng ống dẫn khí có độ đàn hồi cao và thể tích khoảng chết cơ học (Mechanical Dead Space) khi dùng thêm các ống nối, đặc biệt khi chọn VT thấp hoặc thở máy ở trẻ em.
− (3) Tần số máy thở (ventilator frequency – f): là số lần thông khí trong một phút của máy thở (máy thở đẩy không khí vào phổi) mà người thầy thuốc cài đặt. Tần số máy (chu kỳ/phút) được ước lượng tùy theo tuổi của BN:
+ Sơ sinh: 30 – 50 lần/phút.
+ Trẻ lớn: 20 – 30 lần/phút.
+ Người lớn: 8 – 20 lần/phút.
Theo bệnh sinh:
+ Bệnh phổi tắc nghẽn: 8 – 12 lần/phút.
+ Bệnh phổi co hẹp (hạn chế): 16 – 25 lần/phút.
+ Phổi bình thường: 12 – 16 lần/phút.
Các máy thở chế tạo tại Hoa Kỳ :
Thường cần cài đặt tốc độ dòng khí (Flow Rate) mà máy thở sẽ thổi vào phổi bệnh nhân hay lưu lượng dòng đỉnh (Peak Flow). Có thể tính được theo công thức sau:
V (1) = VT (2) / TI (3)
= (VT) × (f) × (I + E) / I
Trong đó:
− (1) Tốc độ dòng khí thở vào - V (lít/phút). Thường cài đặt bằng 4 – 6 lần thể tích thông khí phút để đảm bảo đủ nhu cầu thở vào của BN. Tốc độ dòng khí có liên quan trực tiếp đến thể tích khí cài đặt, áp lực tạo ra trên đường thở, độ giãn nở (compliance) của phổi và hệ thống ống, kháng trở (resistance) đường thở theo phương trình chuyển động của dòng khí như sau:
Pressure = (Volume/ Compliance) + Flow × Resistance
− (2) Thể tích khí lưu thông - VT (lít) (đã nói ở phần trên).
− (3) Thời gian thở vào - TI (phút).
Ngoài việc cài đặt tốc độ dòng khí, các máy thở sử dụng ngôn ngữ US còn yêu cầu cài đặt thêm một thông số đặc biệt khác nữa là dạng sóng của dòng khí (flow waveforms) thổi vào phổi của BN. Có 3 dạng sóng dòng khí cần phải chọn là dạng dốc thoải (Ramp) giảm dần (Descending), dạng hình vuông (Rectangular) và dạng hình sin (Sinusoidal). Mỗi dạng sóng của dòng khí có tác dụng sinh lí (cải thiện oxy hóa máu, cải thiện phân phối khí và tạo ra áp suất trung bình, áp suất đỉnh khác nhau). Nhiều tác giả khuyến cáo chọn dạng sóng dòng khí kiểu giảm dần khi dùng phương thức thể tích để tạo được tác động đến cơ học phổi tương tự như khi dùng phương thức thở định hướng áp suất.

Đối với các phương thức định hướng áp suất
Không có sự khác biệt giữa các máy thở có nguồn gốc khác nhau. Thông số quan trọng nhất cần cài đặt là Áp lực thở vào (Inspiratory Pressure – PI). PI thường chọn từ 12 – 30 cmH2O sao cho thể tích lưu thông (VT) tạo ra (còn gọi là thể tích mục tiêu cần đạt được – volume target) tương đương với VT dự tính:
− 12 – 20 cmH2O cho SHHC có phổi bình thường.
− 20 – 30 cmH2O cho SHHC có tổn thương phổi.
− Không vượt quá 40 cmH2O trong mọi trường hợp.

Các thông số khác
Áp lực dương cuối thì thở ra (Positive End Expiratory ure – PEEP)
− PEEP phải được cài đặt tối thiểu là 5 cmH2O trong mọi trường hợp lúc bắt đầu thở máy nhằm dự phòng biến chứng xẹp phổi. Ở mức này, PEEP hầu như không có bất kỳ một tác động bất lợi nào cho hệ thống tuần hoàn cũng như thần kinh.
− Nên chọn mức PEEP tối ưu (Optimal) ngay khi có tình trạng giảm oxy hóa máu (khi phải dùng FiO2
> 0,6 hoặc PaO2/ FiO2 < 300) và/hoặc có tổn thương phổi lan tỏa. PEEP optimal là mức PEEP đem lại lợi ích nhiều nhất cho BN (bảo vệ phổi, giữ cho phổi luôn mở, tránh gây VILI, cải thiện oxy hóa máu và chống auto-PEEP) nhưng không gây (hoặc ít gây ra các tác hại trên hệ tuần hoàn, thần kinh).
− Có nhiều cách để chọn PEEP tối ưu, tùy thuộc vào mục đích, vào phương tiện có sẵn và cả vào
quan niệm:
+ Nếu với mục đích bảo vệ phổi và oxy hóa máu (trong ALI và ARDS) thì thường chọn PEEP tối ưu là mức giữ cho phổi luôn mở (trên mức áp suất đóng/mở phế nang 1 – 2 cmH2O). Nhiều nghiên cứu cho thấy mức PEEP tối ưu để bảo vệ phổi trong khoảng 12 – 18 cmH2O.
+ Nếu với mục đích chống auto-PEEP (trong COPD) thì thường đặt PEEP ở mức 50 – 80 % mức auto-PEEP đo được.
− Khi không có điều kiện sử dụng máy thở hiện đại có các công cụ giúp chọn lực PEEP tối ưu (có biểu đồ tương quan áp lực/thể tích – loops P/V), có thể chọn PEEP tối ưu bằng cách tăng dần mức PEEP sử dụng cho đến khi đạt được mục tiêu oxy hóa máu (PaO2 = 60 – 70 mmHg với FiO2 < 0,4 hoặc PaO2/FiO2 > 300) mà huyết động vẫn ổn định. Khi cần thiết, phải truyền dịch và dùng thuốc vận mạch để giữ HA ở mức chấp nhận được để sử dụng PEEP tối ưu.
Tỉ lệ thở vào/thở ra (I/E):
− Thường chọn I/E = 1/2.
− Chọn I/E = 1/3 – 1/4 nếu có tắc nghẽn hoặc auto-PEEP.
− Chọn I/E đảo ngược (inverse) trong PT PCV khi PEEP thất bại.
FiO2 :
− Thường chọn 100% lúc khởi đầu rồi giảm dần tới mức thấp nhất có hiệu quả,
− Không nên chọn > 60% quá 2 giờ.
Mức nhậy trigger:
Mức ngưỡng để BN cần vượt qua để khởi động (trigger) máy thở. Có ba loại trigger để chọn:
− Trigger dòng có thể đặt ở mức 2 - 4 lít/phút, chỉ có ở máy thở hiện đại
− Trigger áp lực thường chọn từ – 1 đến – 2 cmH2O hoặc dưới mức PEEP 1 – 2 cmH2O.
− Trigger Timer (thời gian) được dùng trong các PTTKCH kiểm soát (thông qua điều chỉnh tần số máy).
Thở dài (Sigh):
Nên chọn khi đặt VT thấp (5 cmH2O để phát hiện hở đường dẫn khí, hoặc tuột máy.
Về thể tích phút thở ra: thường dành cho các PT áp lực.
− Giới hạn trên và dưới nên đặt ở mức ± 15% so với VE thở ra,
− Nếu có SIGH thì giới hạn trên + 25%.
Về giới hạn FiO2: nên đặt Max và Min ở mức ±10% mức FiO2 chọn.
Về các sự cố: Ngưng thở (chỉ có ở các PT hỗ trợ), mất nguồn điện, nguồn khí nén, oxy …thường được nhà chế tạo thiết kế sẵn.

V. Viết y lệnh thở máy trong bệnh án

Kết thúc bước 2 (chọn lựa và cài đặt lúc bắt đầu thở máy), người bác sĩ tiến hành thở máy phải thể hiện được những việc đã làm của mình trên bệnh án như sau:
− Thở máy gì?
− Phương thức thông khí nào?
− Cài đặt tối thiểu các thông số gì?
+ Thông số hệ thống:
* mode A/C: VT (VE), f, trigger, PEEP, FiO2, I:E, Flow-P….
* mode SIMV: VT, fSIMV, trig, PEEP, FiO2, I:E, Flow-P, Pram,...
* mode PSV: PI, PEEP, FiO2, Pram, ETS...
+ Thông số báo động:
− Theo dõi ra sao?

👉 Tóm lại

Khi có chỉ định TKCH, người bác sĩ HSTC phải tiến hành thực hiện hàng loạt các công việc theo một trình tự khoa học mang tính bắt buộc, cần nắm chắc mục tiêu, cơ sở khoa học của từng bước, và ý nghĩa của các thông số khi cài đặt và cuối cùng là phải thể hiện được những việc đã làm của mình trên bệnh án theo quy định.

Người nhà bạn đang cần dịch vụ chúng tôi Hảy nhắc máy lên và alo đừng ngại 0908.786.168
31/01/2026

Người nhà bạn đang cần dịch vụ chúng tôi
Hảy nhắc máy lên và alo đừng ngại 0908.786.168

Thanh toán lương từ 5tr trở lên phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Cục quản lý, giám sát chính sách thuế, ...
27/01/2026

Thanh toán lương từ 5tr trở lên phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Cục quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí.

Address

Lô 02-b2-5 Hoàng Trung Thông/Hoà Minh/Liên Chiểu
Da Nang
550000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Home Care Tuấn Hoàng Đà Nẵng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Home Care Tuấn Hoàng Đà Nẵng:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram

Trung Tâm Chăm Sóc Bệnh Tại Nhà Đà Nẵng

Cung cấp các dịch vụ y tế tại nhà như: