24/12/2025
CẬP NHẬT TỔNG QUAN HỆ THỐNG VÀ PHÂN TÍCH GỘP VỀ GIÁ TRỊ CỦA DOPPLER ĐỘNG MẠCH MẮT TRONG DỰ ĐOÁN TIỀN SẢN GIẬT
Tiền sản giật (PE) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ trên toàn cầu, với tỷ lệ mắc chung khoảng 5–8% trong tất cả các thai kỳ. Việc sàng lọc PE vẫn là một ưu tiên y tế toàn cầu, và các thử nghiệm quy mô lớn đã chứng minh hiệu quả của aspirin khi sử dụng sớm trong thai kỳ để phòng ngừa PE.
Các mô hình truyền thống nhằm xác định những phụ nữ có nguy cơ cao phát triển PE chủ yếu tập trung vào các yếu tố nguy cơ như đặc điểm của mẹ và tiền sử y khoa, sản khoa; tuy nhiên, hiệu quả của các mô hình này còn hạn chế.
Gần đây, các mô hình dự đoán PE được phát triển dựa trên sự kết hợp giữa các yếu tố của mẹ, đánh giá Doppler động mạch tử cung (UtA) và các dấu ấn sinh hóa, cho thấy sự cải thiện đáng kể trong khả năng phát hiện PE so với các mô hình sàng lọc truyền thống.
Giả thuyết truyền thống về sinh lý bệnh của PE cho rằng căn nguyên xuất phát từ sự rối loạn chức năng nhau thai, chủ yếu do sự xâm nhập không đầy đủ của nguyên bào nuôi vào các động mạch xoắn. Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây sử dụng các dấu ấn như giảm chỉ số tim và tăng sức cản mạch máu đã gợi ý rằng những thay đổi trong chức năng hệ tim mạch của mẹ có thể xảy ra trước khi PE biểu hiện lâm sàng. Điều này lý giải cho sự quan tâm ngày càng tăng của y văn đối với việc khảo sát các mạch máu ngoại biên khác nhau như những dấu ấn sinh lý tiềm năng trong dự đoán PE.
Động mạch mắt (ophthalmic artery – OA) của mẹ là một trong những mạch máu được nghiên cứu nhiều nhất, nhờ các đặc điểm thuận lợi sau: đây là nhánh đầu tiên của động mạch cảnh trong và có những đặc điểm hình thái cũng như chức năng tương đồng với hệ mạch não, dễ tiếp cận để khảo sát Doppler, việc đánh giá chỉ cần thiết bị siêu âm tiêu chuẩn và các khoảng tham chiếu của các thông số Doppler OA đã được thiết lập trong suốt thai kỳ.
Mục tiêu chính của tổng quan hệ thống và phân tích gộp này là tổng hợp tất cả các dữ liệu hiện có nhằm đánh giá giá trị gia tăng tiềm năng của các chỉ số Doppler động mạch mắt của mẹ khi kết hợp với một số dấu ấn sinh lý đã được thiết lập trong dự đoán tiền sản giật sinh non và đủ tháng.
Chúng tôi hy vọng rằng kết quả của phân tích gộp này sẽ cập nhật những hiểu biết hiện tại về ý nghĩa lâm sàng của doppler động mạch mắt, cũng như làm rõ sự cần thiết của các nghiên cứu bổ sung nhằm đánh giá giá trị ứng dụng của nó trong thực hành lâm sàng.
Phương pháp
Tổng quan hệ thống và phân tích gộp này được thiết kế theo hướng dẫn PRISMA (Preferred Reporting Items for Systematic Reviews and Meta-Analyses). Các cơ sở dữ liệu MEDLINE, Scopus, ClinicalTrials.gov, EMBASE, Cochrane Central Register of Controlled Trials và Google Scholar được tìm kiếm từ khi thành lập đến ngày 31/01/2025, đồng thời rà soát danh mục tài liệu tham khảo của các bài toàn văn thu được. Chúng tôi đưa vào các nghiên cứu quan sát báo cáo hiệu quả sàng lọc của các chỉ số Doppler OA trong dự đoán PE, PE sinh non (< 37 tuần) và PE đủ tháng (≥ 37 tuần) (kết cục chính). Độ chính xác chẩn đoán được đánh giá bằng diện tích dưới đường cong ROC tổng hợp (AUC), so sánh các chiến lược sàng lọc sử dụng đơn thuần các yếu tố của mẹ hoặc kết hợp các yếu tố của mẹ, Doppler động mạch tử cung (UtA) và huyết áp động mạch trung bình (MAP), có và không bổ sung các chỉ số Doppler OA.
Kết quả
Tổng cộng có sáu bài báo được bình duyệt đưa vào phân tích gộp, với 10.408 bệnh nhân. Đối với kết cục PE, AUC gộp của sàng lọc chỉ dựa trên các yếu tố của mẹ là 0,71 (KTC 95%, 0,68–0,75), và AUC gộp của mô hình các yếu tố của mẹ kết hợp Doppler OA là 0,79 (KTC 95%, 0,72–0,87).
Trong các trường hợp PE sinh non, AUC gộp của mô hình các yếu tố của mẹ cộng Doppler OA là 0,88 (KTC 95%, 0,82–0,94), trong khi con số tương ứng ở nhóm PE đủ tháng là 0,76 (KTC 95%, 0,65–0,88).
AUC gộp của mô hình kết hợp các yếu tố của mẹ và chỉ số xung động (PI) của UtA trong dự đoán PE là 0,76 (KTC 95%, 0,66–0,88), trong khi AUC gộp của mô hình các yếu tố của mẹ, UtA-PI và Doppler OA là 0,85 (KTC 95%, 0,76–0,94).
Đối với nhóm PE sinh non, AUC gộp của mô hình các yếu tố của mẹ và UtA-PI là 0,84 (KTC 95%, 0,78–0,91), còn mô hình các yếu tố của mẹ, UtA-PI và Doppler OA là 0,88 (KTC 95%, 0,82–0,93).
Đối với nhóm PE đủ tháng, AUC gộp của mô hình các yếu tố của mẹ và UtA-PI là 0,70 (KTC 95%, 0,62–0,78), trong khi mô hình có bổ sung Doppler OA đạt 0,77 (KTC 95%, 0,70–0,85).
AUC gộp của mô hình các yếu tố của mẹ, UtA-PI và MAP trong dự đoán PE là 0,80 (KTC 95%, 0,61–1,06), và khi bổ sung Doppler OA là 0,84 (KTC 95%, 0,61–1,15).
Kết luận
Nghiên cứu cho thấy việc bổ sung Doppler OA vào các phương pháp sàng lọc đã được thiết lập có thể làm tăng AUC trong dự đoán PE, đặc biệt là PE sinh non, so với các mô hình không bao gồm dấu ấn này.
Tuy nhiên, sự chồng lấp của các khoảng tin cậy 95% làm hạn chế độ vững chắc và khả năng áp dụng của các kết quả này. Do đánh giá OA là kỹ thuật tương đối đơn giản và chính xác, đồng thời là đại diện gián tiếp cho tuần hoàn nội sọ khó tiếp cận hơn, chỉ số này cần được đánh giá thêm trong các nghiên cứu tương lai, tập trung chủ yếu vào PE sinh non – nhóm mà OA Doppler có thể mang lại giá trị lớn hơn.