Quầy thuốc chị Danh_bệnh viện Hương Khê

Quầy thuốc chị Danh_bệnh viện Hương Khê Nhà thuốc bệnh viện Hương Khê

Bệnh ghẻ là sự xâm nhập của loài ve Sarcoptes scabiei trên da. Bệnh ghẻ gây ra các tổn thương rất ngứa với các sẩn đỏ và...
03/04/2024

Bệnh ghẻ là sự xâm nhập của loài ve Sarcoptes scabiei trên da. Bệnh ghẻ gây ra các tổn thương rất ngứa với các sẩn đỏ và các đường hầm, luống ghẻ ở vùng giữa các ngón, cổ tay, vòng eo và bộ phận sinh dục.
Ghẻ là bệnh lý có khả năng lây rất nhanh từ người này sang người khác nên dễ thành dịch trong cộng đồng. Tuy không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe nhưng các triệu chứng của ghẻ gây ra sự khó chịu không nhỏ cho người bệnh. Vậy ghẻ là gì và làm sao để nhanh khỏi ghẻ, bài viết sau sẽ bàn về vấn đề này. Hiện nay tại Nhà Thuốc Bệnh Viện Hương Khê đã có đầy đủ bộ sản phẩm điều trị ghẻ cho mọi lứa tuổi
LH: Dược sĩ danh 0904944838 để được tư vấn về các vấn đề về sức khoẻ
ĐC: Nhà Thuốc BV Hương Khê

Sẵn : _Máy đo đường huyết          _Máy đo hàm lượng oxi          _Nhiệt kế hồng ngoạiKhách cần ship tận nơi Lh: 0972.39...
28/08/2022

Sẵn : _Máy đo đường huyết
_Máy đo hàm lượng oxi
_Nhiệt kế hồng ngoại

Khách cần ship tận nơi
Lh: 0972.390.250

Sử dụng thuốc ở người bị bệnh thận 💥💥💥1. Bệnh thận ảnh  đến việc dùng thuốc như thế nào?Gan và thận là hai cơ quan thải ...
02/07/2022

Sử dụng thuốc ở người bị bệnh thận 💥💥💥

1. Bệnh thận ảnh đến việc dùng thuốc như thế nào?
Gan và thận là hai cơ quan thải trừ thuốc, có những thuốc thải trừ chủ yếu qua gan, có những thuốc lại thải trừ chủ yếu qua thận. Khi bị bệnh thận, chức năng thận bị suy giảm, vì vậy sử dụng thuốc ở người bị bệnh thận có ba nguy cơ:
Thứ nhất: Thuốc gây độc cho thận làm suy giảm chức năng thận nặng hơn.
Thứ hai: Thuốc được thải trừ chậm sẽ bị tích lũy trong cơ thể, gây tăng tác dụng.
Thứ ba: Rối loạn nội môi do suy thận gây ra làm cho dễ bị nhiễm độc thuốc ngay cả ở liều đã được tính toán coi như phù hợp.
2. Các thuốc gây độc trực tiếp cho thận
Những thuốc này có thể gây suy thận cấp hoặc làm bệnh thận nặng lên:
- Các kháng sinh:
+ Nhóm Amynoglycosid: Streptomycin, Gentamycin, Amikacin, Tobramycin, Kanamycin.
+ Nhóm quinolon: Ciprofloxacin, Ofloxacin, Norfloxacin, Pefloxacin, Cyprobay, Sparfloxacin Levofloxacin.
+ Nhóm Vancomycin.
+ Nhóm Cyclin: Tetracyclin, Doxicyclin.
+ Nhóm Cephalosporin thế hệ 1: Cephalexin, Cefalothin, Cephazolin, Cephadroxil, Cephalosporin. Thế hệ 2 ít gây độc cho thận hơn.
- Các kháng sinh chống nấm:
Amphotericin B, Ketoconazol, Itraconazol, Fluconazol…
- Các thuốc cản quang:
Thuốc cản quang dùng để chụp X-quang có độ thẩm thấu cao (Độ thẩm thấu 600-2100 mOsm/kg): Diatrizoate, Iodomide, Iotalamate, Ioxitalamate, Metrizoate.
- Các hóa chất điều trị ung thư:
Cisplatin, Methotrexat.
- Các thuốc dùng kéo dài có thể gây ra viêm thận kẽ:
Nhóm thuốc hạ sốt phenacetin, thuốc điều trị bệnh tâm thần Litium carbonat.
- Các thuốc gây viêm thận kẽ do miễn dịch - dị ứng:
Betalactamin (Penicillin A và M), Cephalosporin, Rifampicin, Sulfamid, Quinolon, Thuốc kháng viêm không steroid, Allopurinol, Kháng Vitamin K,
- Một số thuốc có thể gây ra hội chứng thận hư:
D-penicilamin, Catopril, Trimethadion, các muối bismuth.
- Một số thuốc có thể làm tắc ống thận:
Khi dùng liều cao và uống ít nước như: Sulfamid, Cotrimoxazol.
- Các thuốc y học dân tộc:
Đặc biệt là các loại thuốc “gia truyền” mà không được Bộ Y tế (Cục quản lý Dược) cấp phép lưu hành. Nhiều trường hợp uống thuốc y học dân tộc bị suy thận cấp hoặc làm bệnh thận tiến triển nặng lên.
2. Các thuốc không gây độc trực tiếp lên thận nhưng gây thiếu máu thận làm giảm mức lọc cầu thận
Các thuốc này gây suy thận chức năng, nhưng nếu dùng kéo dài sẽ gây suy thận thực thể:
- Các thuốc hạ huyết áp:
Khi dùng quá liều gây tụt huyết áp gây thiếu máu thận và làm suy giảm mức lọc cầu thận đặc biệt là nhóm thuốc ức chế men chuyển và thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II.
- Các thuốc chống viêm không steroid:
Loại tác dụng không chọn lọc lên COX2 như: Indomethacin, Diclofenac, Ibuprofen, Tenoxicam… Các thuốc này ức chế tổng hợp prostaglandin là yếu tố gây dãn mạch dẫn đến thiếu máu thận.
3. Người bệnh dễ nhiễm độc thuốc vì rối loạn nội môi do suy thận
Ngoài tác dụng độc với thận, ở người có bệnh thận tùy theo mức độ suy giảm chức năng thận làm giảm đào thải thuốc, do đó thuốc bị tích lũy trong cơ thể gây ra các tác dụng không mong muốn trên các cơ quan khác, hoặc rối loạn nội môi do suy thận gây ra có thể làm dễ bị nhiễm độc thuốc. Ví dụ, giảm kali máu làm dễ nhiễm độc Digoxin. Bệnh nhân có hẹp động mạch thận, khi dùng nhóm thuốc ức chế men chuyển có thể gây suy thận cấp. Bệnh nhân suy thận nặng, có thiểu niệu hoặc vô niệu, nếu dùng thuốc ức chế men chuyển có thể gây tăng kali máu làm rối loạn nhịp tim…
4. Những chú ý khi dùng thuốc ở người bị bệnh thận
Vì các lý do trên, khi phải dùng thuốc, đặc biệt ở người đã có bệnh thận cần lưu ý:
- Điều chỉnh liều thuốc:
Đối với những thuốc được thải trừ chủ yếu qua gan, rất ít hoặc không thải trừ qua thận và những thuốc mà tác dụng phụ không liên quan đến liều dùng thì không cần điều chỉnh liều ở người bị bệnh thận. Những thuốc thải trừ chủ yếu qua thận và những thuốc mà tác dụng phụ liên quan đến liều, có khoảng an toàn hẹp thì phải điều chỉnh liều tùy theo mức lọc cầu thận. Các bệnh nhân bị bệnh thận thường kèm theo các rối loạn bệnh lý khác như rối loạn chức năng gan, suy tim… vì vậy, mức điều chỉnh liều theo mức lọc cầu thận có trong hướng dẫn sử dụng kèm theo mỗi loại thuốc chỉ được coi là khuyến cáo ban đầu, trong quá trình sử dụng thuốc cần theo dõi chặt chẽ để điều chỉnh cho sát với từng bệnh nhân. Ngoài căn cứ vào mức lọc cầu thận cần phải cân nhắc đến tuổi người bệnh, cân nặng của người bệnh, các bệnh kết hợp, các thuốc phối hợp khác để điều chỉnh liều và cách sử dụng cho phù hợp.
- Dùng thuốc đúng chỉ định, đúng người:
Lưu ý người già, người có thai, trẻ nhỏ, người suy kiệt có cân nặng thấp, tình trạng mất nước, các thuốc phối hợp, để chỉ định liều, cách uống cho phù hợp. Hạn chế dùng nhiều thứ thuốc và chú ý các tương tác thuốc. Nếu dùng thuốc dài ngày cần được theo dõi chức năng thận, chức năng gan. Người đã bị bệnh thận, khi dùng thuốc phải rất thận trọng: Cần kiểm tra chức năng của thận trước khi sử dụng thuốc để biết rõ và chính xác tình trạng bệnh của thận, mức lọc cầu thận. Tuân thủ các điều kiện dùng thuốc theo hướng dẫn và chỉ định của bác sĩ để tránh ảnh hưởng xấu đến thận. Không tự động mua, uống thuốc mà không có chỉ định của bác sĩ để tránh mắc phải những nguy hại trên do sử dụng thuốc không đúng.

PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm, BV103, Học viện Quân y

💊  TÁO BÓN Ở TRẺ EM 💊✅  Táo bón là tình trạng trẻ đi đại tiện phân quá ít, rắn và khô, hoặc khoảng cách giữa hai lần đi ...
21/05/2022

💊 TÁO BÓN Ở TRẺ EM 💊

✅ Táo bón là tình trạng trẻ đi đại tiện phân quá ít, rắn và khô, hoặc khoảng cách giữa hai lần đi ngoài quá lâu. Đối với trẻ số lần đại tiện hàng ngày khác nhau theo từng lứa tuổi.

🍀 Đối với trẻ dưới 1 tuổi: Thường đi đại tiện 2-3 lần một ngày, nhưng nếu trẻ chỉ đi 1 lần 1 ngày nhưng phân mềm dẻo, khối lượng bình thường thì vẫn không gọi là táo bón.

🍀 Ngược lại, đối với ở trẻ lớn đi đại tiện 1lần/ngày, nhưng có khi đi 2-3 lần/ngày nhưng phân rắn và ít thì vẫn gọi là táo bón.

Vì vậy, táo bón là tình trạng trẻ đi ngoài phân ít rắn và khô.

✅ Dấu hiệu trẻ bị táo bón

👉🏿 Biếng ăn - ăn ít hơn bình thường
👉🏿 Trẻ có biểu hiện đau rát khi đi vệ sinh: việc phân trở nên cứng khiến cho hậu môn của trẻ bị rách gây đau và chảy máu, nguy hiểm hơn nữa là khi trẻ sợ đau, chúng sẽ càng cố nhịn đi vệ sinh điều đó dẫn đến tình trạng táo bón trở nên nghiêm trọng hơn.
👉🏿 Són phân không có kiểm soát: Một khi trẻ bị táo bón đồng nghĩa với việc dịch ruột sẽ ứ lại quanh khối phân cứng gây tắc nghẽn. Trong trường hợp dịch ứ nhiều sẽ gây nên triệu chứng són phân lỏng, khiến trẻ bị táo bón nhiều, phân bón thường cứng.
Bên cạnh đó đau bụng quanh rốn cũng có thể xảy ra đối với trẻ bị táo bón, thậm chí là tái đi tái lại nhiều lần
✅/ Nguyên nhân gây nên táo bón

Có rất nhiều nguyên nhân gây nên táo bón ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ..

👉+ Không đủ lượng nước và chất sơ

Do bé uống quá nhiều nước ngọt , ít uống nước lọc và ăn ít hoa quả cũng như rau tươi.

👉+ Lười vận động

Thói quen ít vận động, chỉ quanh quẩn trong nhà xem tivi, chơi điện tử, internet,… khiến nhu động ruột bị “ì” lâu ngày dẫn đến táo bón.

👉+ Sử dụng thuốc

Các loại thuốc giảm đau, hạ sốt, thuốc giảm ho, điều trị tiêu chảy,… có thể gây tác dụng phụ làm phân trở nên khô rắn, khó di chuyển gây táo bón.

👉+ Rối loạn cảm xúc

Bé nhịn đại tiện vì sợ bẩn, sợ thối, hoặc ngại đi đại tiện vì phải xin phép cô giáo,… lâu dài dẫn đến táo bón hoặc có thể bé bị rối loạn cảm xúc do bầu không khí gia đình căng thẳng, cha mẹ ly hôn, có em bé mới,… cũng là nguyên nhân gây nên táo bón.

👉+ Một số bệnh lý

Những căn bệnh liên quan đến đại trực tràng, hệ thần kinh, suy dinh dưỡng, thiếu máu,… khiến trương lực ruột bị giảm, làm bé bị táo bón.

👉+ Nứt hậu môn

nguyên nhân gây táo bón ở trẻ

✅/ Cách chăm sóc và điều trị

👉+ Tăng chất sơ

Cung cấp thêm chất xơ cho bé thông qua ngũ cốc nguyên cám, hoa quả chín và rau xanh như: cam, quýt, bưởi, chuối, bơ, đu đủ chín, súp lơ, mồng tơi, rau dền...

👉+ Uống đủ nước

Trẻ bắt đầu ăn dặm từ 6 - 12 tháng cần uống 600 ml nước/ngày (bao gồm: sữa, nước, nước trái cây…).
Trẻ 1 - 3 tuổi cần uống 900 ml nước/ngày.
Trẻ 3 - 5 tuổi cần uống 1200 ml nước/ngày.
Trẻ lớn hơn 10 tuổi uống bằng người lớn: 1500 - 2000 ml nước/ngày.
Đối với nước ép hoa quả, các bà mẹ nên chế biến từ hoa quả tươi chứ không nên mua nước hoa quả ép sẵn đóng hộp.

👉+ Đi vệ sinh đúng giờ

Tập cho bé đi vệ sinh vào một giờ nhất định trong ngày để hình thành cho cơ thể bé phản xạ đi vệ sinh hàng ngày. Khi thấy bé đang chơi bỗng nhiên chạy vô góc nhà đứng hoặc ngồi: đó là dấu hiệu bé đang nín nhịn. Mẹ nên khuyến khích bé đi tiêu lúc này.

Nếu bé đi tiêu phân khô, rắn, đau rát phần hậu môn hoặc có kèm 1 ít máu các mẹ có thể thoa một ít kem dưỡng ẩm vào vùng hậu môn sau khi vệ sinh sạch với nước và lau khô bằng khăn mềm để giúp bé dễ chịu hơn.

👉+ Xoa bụng bé hàng ngày

Xoa bụng hàng ngày cho bé để kích thích nhu động ruột của bé, giúp ruột già đào thải phân dễ dàng hơn. Trước khi xoa bụng cho bé, mẹ nên xoa 2 bàn tay vào nhau cho ấm lên rồi xoa bụng nhẹ nhàng cho bé theo chiều kim đồng hồ. Mỗi lần thực hiện kéo dài từ 10 - 15 phút.

👉+ Sử dụng dinh dưỡng công thức phù hợp với bé

Nếu trẻ đang bú mẹ thì vẫn tiếp tục cho bú mẹ. Nếu đang uống sản phẩm dinh dưỡng công thức thì xem lại việc tuân thủ cách pha theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Tìm hiểu và có chế độ cho trẻ bú cho phù hợp. Sử dụng công thức dễ tiêu hóa và giảm táo bón (những công thức không chứa dầu cọ và chứa đạm whey thủy phân) sẽ giúp trẻ ít bị táo hơn.

Nguồn : sưu tầm

PHÒNG NGỪA VÀ XỬ TRÍ PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC  💊💊💊Bất kỳ thuốc nào cũng có thể tạo ra các phản ứng không mong muốn, có ...
20/05/2022

PHÒNG NGỪA VÀ XỬ TRÍ PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC 💊💊💊
Bất kỳ thuốc nào cũng có thể tạo ra các phản ứng không mong muốn, có hại khi sử dụng. Hiện nay cụm từ này thường được viết tắt là ADR (Adverse Drug Reactions).
Định nghĩa
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), ADR là các phản ứng không định trước, gây tác hại cho cơ thể khi sử dụng thuốc ở liều bình thường để điều trị, dự phòng hoặc chẩn đoán.
Phân loại
Có thể phân loại ADR theo nhiều cách nhưng 2 cách sau đây hay được sử dụng nhất:
Theo tần suất gặp
Theo cách phân loại này, một phản ứng có hại có thể xếp vào một trong các mục sau:
Rất thường gặp: ADR >1/10
Thường gặp: ADR > 1/100
Ít gặp: 1/1 000 < ADR < 1/100
Hiếm gặp: ADR < 1/1 000
Rất hiếm gặp: ADR

XỬ TRÍ KHI BỊ CHÍN MÉ 😫😫😫Chín mé là bệnh nhiễm trùng sinh mủ hay áp-xe ở đầu múp của ngón tay, ngón chân, có tên khoa họ...
17/05/2022

XỬ TRÍ KHI BỊ CHÍN MÉ 😫😫😫
Chín mé là bệnh nhiễm trùng sinh mủ hay áp-xe ở đầu múp của ngón tay, ngón chân, có tên khoa học là Panaris.
Đây là một bệnh ngoài da thường gặp, nếu không biết cách chữa trị, giữ vệ sinh thì bệnh sẽ diễn biến dai dẳng, dễ tái phát.
Nguyên nhân gây chín mé thường gặp là do tụ cầu vàng, liên cầu sinh mủ, virus Herpes gây nên, bằng cách xâm nhập qua vết xước từ cắt móng, vết châm, vết thương nhỏ... hoặc chín mé do móng đâm vào phần mềm. Khi bị trầy, xước, rách vết da nhỏ, đặc biệt ở những người thường đổ mồ hôi nhiều, vi khuẩn sẽ xâm nhập qua các vết xước này dễ dàng, sinh sôi và phát triển, gây nhiễm trùng. Do vết xước thường là vết thương nhỏ nên người bệnh hay chủ quan, không điều trị. Thông thường, người bị chín mé ít khi được điều trị khi tổn thương ở giai đoạn nhẹ, đến khi chuyển sang giai đoạn nặng, chín mé mưng mủ thì người bệnh mới khám và điều trị. Lúc này, người bệnh sẽ gặp phải biến chứng chín mé nếu không được điều trị kịp thời.
Yếu tố nguy cơ của bệnh chín mé thường do những tác động của cuộc sống hiện đại gây ra. Cụ thể, việc đi làm móng tay, móng chân ở tiệm của phụ nữ và hiện nay cũng có không ít nam giới bắt đầu sử dụng dịch vụ này rất thường xuyên, có thể trung bình 1 tuần/lần; việc mang giày cao gót, bít mũi; chơi các môn thể thao có nguy cơ cao bị chấn thương các đầu ngón tay, ngón chân; người béo phì, người đang điều trị HIV... Tất cả những nguyên nhân này góp phần làm bệnh chín mé xảy ra nhiều hơn.
Các giai đoạn của bệnh
Khoảng 1-3 ngày đầu, ở đầu ngón tay, ngón chân xuất hiện một chỗ sưng phồng, tấy đỏ, ngứa. Sau đó đau nhức, khó chịu, có khi cứng ngón, khó cử động. Khoảng ngày thứ 4-7, thời kỳ viêm lan tỏa, lan rộng ra chung quanh cả ngón, bệnh nhân có cảm giác nhức nhối, căng tức, đau giật theo nhịp mạch đập, có thể sốt nhẹ. Trong khoảng 7 - 10 ngày đầu sau khi chín mé xuất hiện, tổn thương có thể chuyển sang giai đoạn mưng mủ. Lúc này, nếu không được điều trị kịp thời bằng cách rạch để thoát lưu mủ, hoặc rạch nhưng không đủ độ sâu để mủ có thể được dẫn lưu hết ra bên ngoài, chín mé có thể gây ra các biến chứng: viêm xương, viêm bao hoạt dịch, viêm khớp hoặc nhiễm khuẩn huyết, có thể gây ra tử vong. Với những biến chứng nêu trên, chín mé có thể khiến xương bị viêm, làm sưng, đau, tấy đỏ, để lâu gây ra lỗ rò. Bác sĩ sẽ chỉ định chụp X-quang để kiểm tra và xem xét biến chứng.
Tuy nhiên, riêng trường hợp chín mé do Herpes có thời gian ủ bệnh khoảng 2-20 ngày. Các triệu chứng toàn thân như sốt và mệt mỏi có thể xuất hiện như là biểu hiện đầu tiên của bệnh, nhưng ít gặp. Các dấu hiệu hay gặp hơn là cảm giác đau, rát bỏng, châm chích ở đốt ngón tay có nhiễm virus Herpes. Sau đó, đốt ngón tay trở nên đỏ, phù nề, xuất hiện các đám mụn nước có đường kính 1-3mm trên nền da đỏ, tồn tại trong 7-10 ngày. Các mụn nước có thể bị loét, vỡ ra, thường chứa dịch trong suốt, hoặc có màu đục hoặc có máu.
Sau đợt nhiễm trùng đầu tiên, virus Herpes từ ngón tay xâm nhập đầu mút của các dây thần kinh cảm giác ở da, di chuyển vào các hạch thần kinh ngoại vi và tế bào Schwann, sống tiềm ẩn ở đó trong thời gian rất lâu. Khi gặp điều kiện thuận lợi như suy giảm miễn dịch, sang chấn tâm lý, tiếp xúc với tia xạ, tia cực tím, laser, virus tái hoạt động, di chuyển ra da, tạo nên hình ảnh lâm sàng của nhiễm Herpes thứ phát. Thông thường, các triệu chứng lâm sàng của nhiễm Herpes tiên phát rầm rộ nhất, còn nhiễm thứ phát thì nhẹ hơn với thời gian ngắn hơn.
Chăm sóc và xử trí
Khi mắc bệnh, cần giữ sạch chỗ bị chín mé để tránh bị nhiễm trùng thêm. Có thể ngâm rửa bằng thuốc tím pha loãng, sau đó bôi mỡ kháng sinh. Nếu chín mé lên mủ thì cần rạch thoát mủ, dẫn lưu, kết hợp dùng kháng sinh. Khi vết thương sưng đau nhiều, đáp ứng kém với điều trị thì cần chụp Xquang để xác định tình trạng biến chứng của chín mé.
Biện pháp phòng bệnh
Bệnh chín mé xảy ra một phần là do thói quen không giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, vì vậy để phòng bệnh cần rửa tay, chân sạch sẽ hàng ngày. Tránh ngâm tay, chân trong nước quá lâu. Thường xuyên thay tất, tránh để cho chân bị ẩm ướt. Không đi chân đất, tránh để cát bụi dính vào các kẽ ngón chân. Hạn chế mang giày cao gót, giày bít ngón; không đi giày, dép quá chật.
Khi cắt móng, cần lưu ý không cắt quá sát vào da hoặc lấy khóe sâu ở 2 bên cạnh của ngón chân, ngón tay, không cắt móng tròn. Móng nên được cắt thẳng và giữ cho đầu móng luôn dài hơn da. Điều này ngăn chặn góc móng đâm vào da. Tránh làm chấn thương hay trầy xước đầu ngón, khi bị trầy xước da cần bôi thuốc sát trùng và giữ sạch. Với trẻ em, cần tránh thói quen mút tay.
Nguồn: BS. Quang Minh

BỆNH THOÁI HÓA CỘT SỐNG THẮT LƯNG (Spondylosis)💊💊💊Thoái hóa cột sống thắt lưng (Spondylosis hoặc Oteoarthritis of lumbar...
15/05/2022

BỆNH THOÁI HÓA CỘT SỐNG THẮT LƯNG (Spondylosis)
💊💊💊
Thoái hóa cột sống thắt lưng (Spondylosis hoặc Oteoarthritis of lumbar spine) là bệnh mạn tính tiến triển từ từ tăng dần gây đau, hạn chế vận động, biến dạng cột sống thắt lưng mà không có biểu hiện viêm. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa sụn khớp và đĩa đệm cột sống phối hợp với những thay đổi ở phần xương dưới sụn và màng hoạt dịch.
NGUYÊN NHÂN
Thoái hóa cột sống là hậu quả của nhiều yếu tố: tuổi cao; nữ; nghề nghiệp lao động nặng; một số yếu tố khác như: tiền sử chấn thương cột sống, bất thường trục chi dưới, tiền sử phẫu thuật cột sống, yếu cơ, di truyền, tư thế lao động … Do tình trạng chịu áp lực quá tải lên sụn khớp và đĩa đệm lặp đi lặp lại kéo dài trong nhiều năm dẫn đến sự tổn thương sụn khớp, phần xương dưới sụn, mất tính đàn hồi của đĩa đệm, xơ cứng dây chằng bao khớp tạo nên những triệu chứng và biến chứng trong thoái hóa cột sống.
Triệu chứng : Có thể có dấu hiệu cứng cột sống vào buổi sáng. Đau cột sống âm ỉ và có tính chất cơ học (đau tăng khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi). Khi thoái hóa ở giai đoạn nặng, có thể đau liên tục và ảnh hưởng đến giấc ngủ. Bệnh nhân có thể cảm thấy tiếng lục khục khi cử động cột sống. Đau cột sống thắt lưng do thoái hóa không có biểu hiện triệu chứng toàn thân như sốt, thiếu máu, gầy sút cân. Nói chung bệnh nhân đau khu trú tại cột sống. Một số trường hợp có đau rễ dây thần kinh do hẹp lỗ liên hợp hoặc thoát vị đĩa đệm kết hợp. Có thể có biến dạng cột sống: gù, vẹo cột sống. Trường hợp hẹp ống sống: biểu hiện đau cách hồi thần kinh: bệnh nhân đau theo đường đi của dây thần kinh tọa, xuất hiện khi đi lại, nghỉ ngơi đỡ đau (Cộng hưởng từ cho phép chẩn đoán mức độ hẹp ống sống).
Phân biệt : Trường hợp đau cột sống có biểu hiện viêm: có dấu hiệu toàn thân như: sốt, thiếu máu, gầy sút cân, hạch ngoại vi…cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý dưới đây:
− Bệnh lý cột sống huyết thanh âm tính (đặc biệt viêm cột sống dính khớp): nam giới, trẻ tuổi, đau và hạn chế các động tác của cột sống thắt lưng cùng, Xquang có viêm khớp cùng chậu, xét nghiệm tốc độ lắng máu tăng.
− Viêm đốt sống đĩa đệm (do nhiễm khuẩn hoặc do lao): tính chất đau kiểu viêm, đau liên tục, kèm theo dấu hiệu toàn thân; Xquang có diện khớp hẹp, bờ khớp nham nhở không đều; cộng hưởng từ có hình ảnh viêm đĩa đệm đốt sống, xét nghiệm bilan viêm dương tính.
− Ung thư di căn xương: đau mức độ nặng, kiểu viêm; kèm theo dấu hiệu toàn thân, Xquang có hủy xương hoặc kết đặc xương, cộng hưởng từ và xạ hình xương có vai trò quan trọng trong chẩn đoán.

ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc
− Điều trị theo triệu chứng (thuốc chống viêm, giảm đau, giãn cơ...) kết hợp với các thuốc chống thoái hóa tác dụng chậm.
− Nên phối hợp các biện pháp điều trị nội khoa, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng. Trường hợp có chèn ép rễ có thể chỉ định ngoại khoa.
Điều trị cụ thể
Vật lý trị liệu
Bài tập thể dục, xoa bóp, kéo nắn, chiếu hồng ngoại, chườm nóng, liệu pháp suối khoáng, bùn nóng, paraphin, tập cơ dựng lưng....
Điều trị nội khoa
− Thuốc giảm đau theo bậc thang giảm đau của WHO:
+ Bậc 1 - paracetamol 500 mg/ngày uống 4 đến 6 lần, không quá 4g/ngày. Thuốc có thể gây hại cho gan.
+ Bậc 2 - Paracetamol kết hợp với codein hoặc kết hợp với tramadol: Ultracet liều 2-4 viên/24giờ, tuy nhiên uống thuốc này thường gây chóng mặt, buồn nôn.
Efferalgan-codein liều 2-4 viên/24giờ.
+ Bậc 3 - Opiat và dẫn xuất của opiat.
− Thuốc chống viêm không steroid:
Chọn một trong các thuốc sau. Lưu ý tuyệt đối không phối hợp thuốc trong nhóm vì không tăng tác dụng điều trị mà lại có nhiều tác dụng không mong muốn.
+ Diclofenac viên 25mg, 50 mg, 75mg: liều 50 - 150mg/ ngày, dùng sau khi ăn no. Có thể sử dụng dạng ống tiêm bắp 75 mg/ngày trong 2-3 ngày đầu khi bệnh nhân đau nhiều, sau đó chuyển sang đường uống.
+ Meloxicam viên 7,5 mg: 2 viên/ngày sau khi ăn no hoặc dạng ống tiêm bắp 15 mg/ngày x 2- 3 ngày nếu bệnh nhân đau nhiều, sau đó chuyển sang đường uống.
+ Piroxicam viên hay ống 20 mg, uống 1 viên /ngày uống sau khi ăn no, hoặc tiêm bắp ngày 1 ống trong 2-3 ngày đầu khi bệnh nhân đau nhiều, sau đó chuyển sang đường uống.
+ Celecoxib viên 200 mg liều 1 đến 2 viên/ngày sau khi ăn no. Không nên dùng cho bệnh nhân có bệnh tim mạch và thận trọng ở người cao tuổi.
+ Etoricoxib (viên 60mg, 90mg, 120mg), ngày uống 1 viên, thận trọng dùng ở người có bệnh lý tim mạch.
+ Thuốc chống viêm bôi ngoài da: diclofenac gel, profenid gel, xoa 2-3 lần/ngày ở vị trí đau.
− Thuốc giãn cơ: eperison (viên 50mg): 3 viên/ngày, hoặc tolperisone (viên50mg, 150mg): 2-6 viên/ngày.
− Thuốc điều trị triệu chứng tác dụng chậm:
+ Piascledine 300mg (cao toàn phần không xà phòng hóa quả bơ và đậu nành): 1 viên/ngày
+ Glucosamine sulfate và chondroitin sulphat, uống trước ăn 15 phút, dùng kéo dài trong nhiều năm.
+ Thuốc ức chế IL1: diacerhein 50mg (viên 50mg) 1-2 viên /ngày, dùng kéo dài trong nhiều năm.
− Tiêm corticoid tại chỗ: tiêm ngoài màng cứng bằng hydrocortison acetat, hoặc methyl prednisolon acetate trong trường hợp đau thần kinh tọa, tiêm cạnh cột sống, tiêm khớp liên mấu (dưới màn tăng sáng hoặc dưới hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính).
Điều trị ngoại khoa
Chỉ định khi thoát vị đĩa đệm, trượt đốt sống gây đau thần kinh tọa kéo dài, hoặc có hẹp ống sống với các dấu hiệu thần kinh tiến triển nặng ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống mà các biện pháp điều trị nội khoa không kết quả. Trong trường hợp đĩa đệm thoái hóa nhiều, có thể xem xét thay đĩa đệm nhân tạo.
TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG
− Thoái hóa cột sống thắt lưng tiến triển nặng dần theo tuổi và một số yếu tố nguy cơ như: mang vác nặng ở tư thế cột sống xấu.
− Dấu hiệu chèn ép rễ dây thần kinh thường gặp ở thoái hóa cột sống nặng khi những g*i xương thân đốt sống phát triển chèn ép vào lỗ liên hợp đốt sống. Cùng với sự thoái hóa đốt sống, đĩa đệm cũng bị thoái hóa và nguy cơ phình, thoát vị đĩa đệm sẽ dẫn tới chèn ép rễ dây thần kinh (biểu hiện đau dây thần kinh tọa).
PHÒNG BỆNH
− Theo dõi và phát hiện sớm các dị tật cột sống để điều trị kịp thời.
− Giáo dục tư vấn các bài tập tốt cho cột sống, sửa chữa các tư thế xấu.
− Định hướng nghề nghiệp thích hợp với tình trạng bệnh, kiểm tra định kỳ những người lao động nặng (khám phát hiện triệu chứng, chụp Xquang cột sống khi cần...).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Clifton O. Bingham, “Bone and Osteoarthritis”, Novel Osteoarthritis Therapeutics, Vol 4, 2007; p 181 2. Kenneth C, Kanulian, “Diagnosis and classification of osteoarthritis”, Uptodate 17.1, January 2009.
3. Shari M.Ling, Yvette L.Ju, ”Osteoarthritis” – chapter 116, 2009; p 1411- 1420. 4. Stephanie G Wheeler, “Approach to the diagnosis and evaluation of low back pain in adults”, UpToDate 2010, Last literature review version 18.2: May 2010 | This topic last updated: May 6, 2010

TUYÊN BỐ MIỄN TRỪ TRÁCH NHIỆM
Thông tin cung cấp mà chúng tôi đưa ra chỉ nhằm mục đích cập nhật thông tin cho thầy thuốc và bệnh nhân, và không có ý nghĩa hướng dẫn điều trị bệnh nhân.
Chúng tôi không khuyến cáo sử dụng bất cứ phương pháp chẩn đoán hay điều trị nào chưa có sự phê duyệt cần thiết của cơ quan có thẩm quyền.

' BÓNG ĐÈ' - DÙNG THUỐC GÌ ? 💊💊💊“Bóng đè” là một rối loạn giấc ngủ, tên khoa học là chứng tê liệt khi ngủ. Khi gặp hiện ...
14/05/2022

' BÓNG ĐÈ' - DÙNG THUỐC GÌ ? 💊💊💊

“Bóng đè” là một rối loạn giấc ngủ, tên khoa học là chứng tê liệt khi ngủ. Khi gặp hiện tượng này thường xuyên người bệnh nên được tư vấn và điều trị bởi bác sĩ chuyên khoa.
“Bóng đè” - Một rối loạn ngủ
Một số người khi ngủ có cảm giác có vật nặng đè lên người, không thể cử động, khó thở, nhiều lúc nhìn thấy những hình ảnh đáng sợ. Dân gian vẫn hay gọi đó là hiện tượng “bóng đè”.
Chứng tê liệt khi ngủ xảy ra khi trong giai đoạn ngủ REM (rapid eye movement), trương lực cơ giảm trong giai đoạn này, và kéo dài đến lúc thức. Sự kết hợp giữa chứng mất trương lực cơ (không cử động được) cùng với những cơn ác mộng, ảo giác khiến “bóng đè” trở thành một trải nghiệm rất khó chịu với hầu hết mọi người. Ở một số nơi, “bóng đè” được cho là có vai trò siêu nhiên, ma quỷ hay trải nghiệm về thế giới khác. Rối loạn này ngày càng được biết đến nhiều hơn bởi sách, báo, phim ảnh…
“Bóng đè” tương đối phổ biến. Các nhà nghiên cứu cho thấy: 7,6% dân số đã từng trải qua ít nhất một lần bị “bóng đè”, tỷ lệ này cao hơn ở sinh viên (28,3%) và bệnh nhân tâm thần (31,9%). Nữ giới trải nghiệm “bóng đè” thường xuyên hơn nam giới.
Do nguyên nhân của “bóng đè” là giấc ngủ bị chập chờn hoặc dễ thức giấc, nên những thay đổi đơn giản với hành vi khi ngủ có thể có hiệu quả. Các kỹ thuật vệ sinh giấc ngủ khác nhau như đi ngủ và thức dậy ở những thời điểm cố định, không sử dụng rượu hoặc caffein/trà trước khi đi ngủ… có thể được coi là các biện pháp phòng tránh. Các hướng dẫn riêng cho “bóng đè” như tránh ngủ ở tư thế nằm ngửa hoặc nằm sấp. Nếu “bóng đè” kèm theo những rối loạn giấc ngủ khác, hoặc bệnh lý tâm thần khác, thì một phương pháp điều trị chuyên dụng cho các bệnh lý kèm theo cần phải được hỗ trợ.
Thuốc dùng khi bị “bóng đè” 💊💊💊
Nhóm thuốc hay được dùng nhất là thuốc chống trầm cảm 3 vòng và thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI). Cơ chế hoạt động của các thuốc này là ức chế giấc ngủ REM. Các thuốc chống trầm cảm 3 vòng như clomipramine, imipramine, protriptyline và desmethylimipramine đều được báo cáo là thuyên giảm “bóng đè”. Các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc như fluoxetine và femoxetine đã được chứng minh có hiệu quả. Một số thuốc ức chế tái hấp thunorephinephrine chọn lọc như viloxazine không cho thấy hiệu quả điều trị đáng kể so với giả dược.
Một số thuốc bình thần, giải lo âu cũng có thể được các bác sĩ kê đơn như nhóm thuốc giải lo âu benzodiazepins: diazepam, bromazepam, lorazepam, zolpidem, flurazepam... Các thuốc khác như etifoxin, grandaxin đôi khi được chỉ định trong các rối loạn giấc ngủ nói chung. Đông y và kinh nghiệm dân gian có nhắc đến một số vị thuốc có tác dụng làm người bệnh dễ vào giấc ngủ như củ bình vôi (rotunda), tâm sen, hạt sen, lá vông, hoa thiên lý, lạc tiên, long nhãn, đan sâm, nữ lang.
Tuy nhiên, người bệnh không được tự ý sử dụng các thuốc trên, hoặc không tự ý tiếp tục mua thuốc mà không khám lại (tái sử dụng đơn thuốc cũ), vì hầu hết các thuốc đều có tác dụng không mong muốn có hại và nguy hiểm. Tất cả các thuốc điều trị “bóng đè” cần phải được theo dõi đặc biệt khi kê đơn bởi các bác sĩ chuyên khoa giấc ngủ hoặc bác sĩ tâm thần.
Các thuốc chống trầm cảm 3 vòng có tác động trên cả hệ muscarin, cholinergic, ardrenergic và histaminergic nên có thể gây nhìn mờ, khô miệng, táo bón, bí tiểu, mê sảng, tăng cân và giảm khoái cảm, khó cương cứng. Tác dụng chẹn kênh natri nhanh làm chậm dẫn truyền của thần kinh tim và loạn nhịp tim tiềm tàng. Quá liều thuốc chống trầm cảm 3 vòng rất nguy hiểm, thường là gây loạn nhịp tim và có thể tử vong.
Nếu tự dừng thuốc đột ngột sau khi điều trị vài tháng, các hội chứng cai các thuốc chống trầm cảm 3 vòng và SSRI có thể xuất hiện, với các biểu hiện: đau bụng, nôn, buồn nôn, đi ngoài lỏng, mất ngủ, chảy nước mũi, đau đầu nhẹ và hội chứng giả cúm. Chính vì vậy, không tự ý dừng thuốc.
Các biện pháp hỗ trợ khác
Điều trị tâm lý: Liệu pháp cơ bản nhất là trấn an và giáo dục sức khỏe về bản chất của “bóng đè”. Thực tế, người bệnh thường thông báo cảm giác căng thẳng một cách quá mức hoặc phân tích sai nguyên nhân của các đợt “bóng đè” như (do ma quỷ ám, do có người hãm hại, do mình bị điên). Do đó, việc bình thường hóa và giúp người bệnh hiểu rõ về “bóng đè” hay chứng tê liệu khi ngủ có thể mang lại tác động tích cực về mặt lâm sàng (kể cả khi không được điều trị bằng thuốc).
Liệu pháp nhận thức hành vi cho chứng tê liệt khi ngủ bao gồm vệ sinh giấc ngủ dành riêng cho rối loạn này, kỹ thuật thư giãn để sử dụng trong các đợt rối loạn, kỹ thuật ngắt đoạn thử nghiệm, cách đối phó với các ảo giác đáng sợ, đối phó lại với những suy nghĩ tiêu cực và diễn tập tưởng tượng về các giải pháp cho các đợt rối loạn.
Một phương pháp trị liệu tâm lý tương tự sử dụng thiền và thư giãn đã được công bố là có hiệu quả điều trị. Phương pháp điều trị này có thể được áp dụng cho cả trường hợp trực tiếp hay điều trị từ xa.
Việc có hay không cần phải điều trị “bóng đè” hay chứng tê liệt khi ngủ, nên được xem xét. Vì phần lớn những người gặp rối loạn này không gặp tình trạng quá căng thẳng hay suy giảm nghiêm trọng về các mặt lâm sàng. Kể cả một số trường hợp gặp căng thẳng nghiêm trọng, họ cũng ít tìm cách điều trị này do một vài lý do (không tự nhiên, sợ kỳ thị, sợ tốn kém…).

ThS.BS. Nguyễn Khắc Dũng (Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương)

Address

Khối 10/Thị Trấn Hương Khê
Ha Tinh

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Quầy thuốc chị Danh_bệnh viện Hương Khê posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram