27/03/2026
Sự minh triết giữa các khái niệm tổn thương, viên mãn, hay trắc trở,… trong đời người giữa quan niệm phương Đông và phương Tây, về những thứ hữu hình và vô hình, giữa khoa học hay tâm linh. Mọi thứ luôn song hành dù là nghiên cứu con người hay tâm linh vô hình, khiến con người mãi xoay vần trong vòng xoáy của chính mình.
Nền văn minh phương Tây thường nói đến khoa học, não bộ, hormone, gene, tuổi thơ, xã hội,… Nhiều khi mới nghe thường cho luôn là minh triết, là tỉnh táo, là thực chứng, với người duy vật (phải có cái kết quả nhìn thấy bằng nghiên cứu, bằng tài liệu,…) . Thật ra là có, nhưng mắt không thấy tức không đọc vì có thể phải vấn đề cần quan tâm, thì lại chỉ vin vào phần vô hình, tâm linh. Ở phương Đông và đất nước ta đang sống, thường nói đến mệnh lý, nhân quả, nghiệp lực, thiên thời. Nhưng nếu chỉ nhìn phần này mà quên đi các nghiên cứu về con người, thì lại thường cho đó là mê tín, gán cho những quan niệm này là dị đoan. Dẫn tới bất nhất, chẳng có một niềm tin hoàn hảo hay biết điều gì mình tin có đang đúng đắn. Khi đó nhận định chỉ còn mang tính chủ quan. Thật ra những điều ấy không nằm ở phương Tây hay phương Đông, khoa học hay tâm linh, mà ở chỗ con người chỉ quen nhìn danh tướng (khái niệm) mà chưa từng dò đến căn nguyên (gốc rễ)...
Thật ra người xem của mình có các anh chị ở nhiều vùng trời khác nhau, và bản thân mình cũng không ấn định những tổn thương gãy vỡ trong một con người đi theo họ từ nhỏ tới lớn qua các khái niệm phương Tây là luôn luôn nhất nhất đúng (phần bên trên). Sẽ dễ khiến bỏ qua nhiều khái niệm phương Đông (phần gốc bên dưới - vì nơi ta sống). Tìm đến tận cùng các khái niệm trong não bộ với mô thức hành động dẫn đến những thứ chiêu cảm nghiệp lực của con người, vào khoảnh khắc mình bắt gặp đúng chia sẻ của một người “lão làng” trong công việc về những phần vô hình, khái niệm “tâm linh” cũng có những lí giải chạm đúng điều mà mình muốn biết, và mình luôn nghĩ nó có mật thiết với nhau giữa duy vật - duy tâm. Có rất nhiều điểm tương đồng về các thắc mắc của những người không cổ xúy sự mê tín dị đoan và cân bằng giữa tâm linh - thực tế giống như mình. Và phù hợp cho cái bộ môn mình chọn giữa nhiều khái niệm Huyền học còn muốn theo đuổi.
Nó cũng được đúc rút từ chính mình, và cả những người có bề dày kinh nghiệm và thâm niên cao hơn, khả năng cảm biến vô tận hơn. “Tiền bối” đi trước tới cả chục năm, hẳn sẽ có rất nhiều trải nghiệm và đa pha góc nhìn hơn. May mắn, nó trùng với những gì mình mong muốn biết, và cũng không phải một người chạy theo sự mê tín dị đoan.
Thật ra con người sinh ra giữa trời đất, không phải do một niệm là thành, hay chỉ do một ý mà động. Hình hài được tạo nên là từ kết tinh của cha mẹ, khí chất cô đặc nơi thời đại khi được sinh ra, thần thức vun đắp lên và hun đúc từ những điều đã trải, cái thấy-nghe-hiểu-biết mỗi ngày sẽ bị hoàn cảnh-giáo dục-vui buồn-thương tổn, và khát cầu từ bên trong âm thầm dẫn dắt. Cho nên một lời nói ra, một việc làm thành, bề ngoài tưởng là do con người chọn lựa, kỳ thực phía sau đã có muôn ngàn mối dây ràng buộc, như trăm sông cùng đổ về một cửa biển.
Một học giả thần kinh học và sinh học hành vi Stanford Robert Sapolsky, một nhà thần kinh học, nổi tiếng với các nghiên cứu về stress (căng thẳng), hành vi sinh học con người. Đây cũng là một trong những người nghiên cứu thôi, nếu quan tâm thì mới nên tìm hiểu nhiều cái tên khác. Ông thường xét và nghiên cứu cụ thể về gốc rễ hệ thần kinh, hệ nội tiết, cấu trúc não bộ, di truyền, cùng trải nghiệm thơ ấu, nói rằng điều con người gọi là “tự do ý chí” phần nhiều chỉ là cảm giác đến sau cùng. Nghĩa là khi ý khởi, tức là tâm động, cái thân sẽ đến sau cùng quyết định hành vi được tự do hay đi ngược ý - tâm, tạo ra vòng tròn bất nhất trong ngoài, khi đó kết quả hành vi quyết định bao nhiêu phần trăm thực hiện được mọi mong muốn, liên tiếp các “ý” cứ vậy chồng chéo nhau bên trong một con người.
Còn theo phương Đông, tức đậm chất đặc thù quán tính, một niệm không phải tự nhiên sinh mà có nguồn gốc từ tập khí - trường khí. Mỗi người mang theo một trường khí - không phải bỗng dưng có, mà do huân tập/giáo dục/ những gì tiếp xúc lâu ngày và thân-tâm mang theo cái phần không định nghĩa hay nhìn thấy được. Phúc mỏng hay dày, nghiệp cũ hay mới, nghiệp quá khứ - nghiệp hiện hữu, nghiệp không nhìn thấy và nghiệp đã/đang gieo, vô tình hay cố ý, từ tàng thức đã mang theo. Rồi thời - địa - khí (nơi sinh ra và lớn lên), nhân - tình - thế sự (hiện tại), mà thành.
Chỗ khác nhau chỉ là một bên dùng nghiên cứu của sinh học và xã hội học, một bên dùng sự vận hành quy luật của nghiệp, mệnh, khí và vận. “Khái niệm” tuy khác, mà “gốc rễ” chưa hề khác nhau. Và nếu cân bằng được điều này, thì tức là không bị cuốn vào khái niệm mà bỏ quên cái gốc. Tâm linh tới mấy, vẫn nằm ở ý chí con người.
Cho nên, nếu nói người theo chủ nghĩa duy vật/ hay tin vào điịnh nghĩa con người như phương Tây, tin vào tự do ý chí, còn người Á Đông chỉ biết mê tín, đó mãi chỉ là những ám muội nửa vời của người muốn đứng ngoài cửa mà luận việc trong nhà. Bởi vì trong lòng học thuật các nghiên cứu cụ thể hôm nay, đã có nhiều người nhìn ra rằng con người không thể bị quy kết hay tán thưởng một cách tuyệt đối. Theo bất kì khái niệm nào.
Nếu hành vi của một người là kết quả của cấu trúc mã gene, nội tiết, não bộ, tuổi thơ, môi trường xã hội và những chuỗi nhân quả đi trước, thì ngược lại, những phán xét quá dễ dàng về một con người nào đó, phải chăng nhiều khi chỉ là do cái ngạo mạn của chúng ta vì chưa từng thấy hết bóng tối sau lưng người khác? Những phần không thấy liệu có ai đứng kể, và ai là người trông thấy? Đã như vậy, thì xem người, xét người, dạy người, hay cứu người, có thể chỉ cầm một hành vi trước mắt do thấy mà đòi định đoạt toàn bộ phẩm hạnh hay số phận của người khác sao?
Điều đó là không thể. Chưa kể những loạt dấu ấn bất định như chiếc chìa khóa nằm trên mỗi con người; cho phép ai mở ra để luận điệu về một người và bóc được phần gốc còn do sự cho phép của cả một hệ thống thân - tâm - trí. Ý niệm về điều gì thì cho phép điều đó. Giống như để có nghiên cứu về một hệ thần kinh não bộ của con người, phải có sự cho phép của từng ấy chủ nhân và thậm chí cả người nhà của họ vậy, đâu có tùy tiện mà có các nghiên cứu và khái niệm. Hai thứ ấy tương đồng.
Bởi vậy, khi đi chọn xem một hình thức Huyền học nào liên quan tới số mệnh, tới phần vô hình, bất - kì - bộ - môn - nào, một khi có tồn tại khái niệm ở bộ môn đó, ắt hẳn nó không tồn tại ở đó là cho vui. Hoặc chọn trên trải nghiệm đã có từ những người đã sử dụng bộ môn đó thế nào với mình. Và người xem có thể không hiểu hết, nhưng phải có đủ trình độ thì mới nên hạch sách người dùng bộ môn đó - đương nhiên với điều kiện là có tâm - có kiến thức thật sự. Nếu không thì không chọn xem, dễ đi theo mệnh lý, theo lời luận mà đi ngược chỗ không cần ngược, thuận chỗ chưa chắc cần thuận. Và nghe thôi chứ chẳng hiểu phải làm gì, chỉ gật gù ấm ớ xem đúng mà không có giải pháp hay hướng đi. Ví như những người lão làng trong bộ môn đậm chất Á Đông, là Tử Vi. Thường luận giải trong Tử Vi là khá sát với đời sống của một người, nhất là với người phương Đông. Khi xem có khi hỏi ngược lại người xem thấy gì từ lá số. Tương tự, các bộ môn khác cũng vậy, chưa kịp hiểu đã vội hỏi và thắc mắc. Những người xem mất thời gian luận điệu và ngâm cứu, sẽ không vội trả lời. Không phải vì không thấy những vụn vặt lo lắng hiện hữu, mà vì muốn thấy cho đúng, phải hỏi sâu thật sâu.
Muốn xem các bộ môn Huyền học cho anh minh và đúng đắn, đừng vội đi tìm câu trả lời cho vấn đề hiện tại. Muốn biết về chính mình hay biết cái gốc con người có thể đi tới đâu, thì phải quan tâm xem tuổi nhỏ đã sống ra sao, cha mẹ thuận hay nghịch, thân tâm từng chịu thương tổn gì. Rồi tới hiện đang ở trong hoàn cảnh nào, lòng đang cầu điều gì, đang sợ điều gì, đang bị trói buộc bởi ai, bởi nghĩa lý gì, bởi món nợ nào trong tâm chưa trả. Rồi đến nghiệp - quả quá khứ, hiện tại, rồi mới xét về tương lai. Mà đôi khi sự xét đến tương lai cũng là làm chậm tương lai nữa. Phải tùy thuộc rất nhiều thứ khác. Nhưng đại để, mô thức lặp lại hầu hết mỗi người tới một giai đoạn đều sẽ muốn đi tìm câu trả lời cho phần bên trong khi bên ngoài xáo trộn đủ nhiều. Thời điểm nào thôi. Trước khi xem cứ phải hiểu cho rõ đã, tránh tin và theo cái gì đó quá mức mà không hiểu chính bản thân mình thế nào.
Những kiểu xem bất ổn định ưa mua bán đổi chác thông tin, xem mì ăn liền, cầu cúng hóa giải thật khó nói vô cùng. Nếu thuận theo tự nhiên, thì đâu có cách gì để hóa giải, có chăng chỉ là rẽ hướng khác, sẽ rời cái “nghiệp” / cái duyên / cái mất và được sang một lúc khác, hoặc gặp điều khác mang bóng hình tương tự như thế. Một lá số/một quy chuẩn ấn định mang theo không phải bản án, nhưng cũng không có câu thần chú nào nói xong là xong. Nó chỉ là thiên tượng của một đời người tại lúc đó đang sống, ở đúng chỗ dễ vấp, dễ đau, dễ thành, dễ bại. Còn con người đang sống trong lá số ấy lại là một con người bằng xương thịt, có ký ức, có tổn thương, có vô thức, có tập khí, có môi trường, có lựa chọn trong giới hạn của chính mình.
Nếu không biết xem, không biết cách hỏi, không biết tự quan sát đời mình, mọi lời đoán / biết / xem / kể lại /,… chỉ thành trò đoán mò khoác áo huyền học. Phải được hỏi và trả lời cho dính chuẩn - tức có giao tiếp cho thật lõi. Nếu không, người đi xem rất dễ lấy cái tĩnh mà quên cái động, người xem thì lấy khuôn mà ép người.
Cho nên người học mệnh lý/ Huyền học chân chính, không được ham phán quyết, mà phải học cách truy nguyên. Thấy một cung hôn nhân trắc trở, một hai mối tình bất như ý, chớ có vội nói số khổ tình duyên; lận đận long đong, mà phải xem mô thức yêu thương nào từ thuở bé, học cách chịu đựng từ ai, quen níu giữ hay quen bỏ chạy, mắc ý nghiệp nào, thói quen gì. Xem bộ môn Huyền học đường dài đời người, thấy có sát phá cũng chớ vội bảo hung; phải hỏi xem khí mang theo đang đi vào giai đoạn hóa thành bản lĩnh hay hóa thành phá tán âm dương. Thấy tiền tài đang khó, không vội bảo vô lộc; phải xem đúng ra lúc tiêu hao tốn tài là vì vô minh, hay vì sĩ diện, vì gia đình, hay vì đang ở nhầm lúc thời vận chưa tốt thôi. Một lời nói sai, trăm ngàn ý khởi sai. Ý khởi sai, đầu óc loay quay tới điều mình khởi ý đó lên. Bất kì khái niệm nào cũng thế.
Nhìn như vậy, mới biết các bộ môn Huyền học chính thống không hề cổ súy mê tín. Nếu học cho đến nơi đến chốn, chính là một cách quan sát con người trong mạng lưới nhân quả cực kỳ tinh vi. Người hành môn chưa chắc vượt ải và có những khổ tâm riêng. Tốt nhất đừng truy cầu nếu không muốn đụng chạm tới phần mình không muốn biết về nó. Cái gan ấy cũng chẳng mấy dễ chịu, có thể cũng là nghiệp hay phúc tùy mang theo. Và đọc số vận cũng không phải cứ giàu có là thông tuệ. Khi cái biết nằm quá cái có, đó là một dạng nghiệp nội tâm.
Cho nên điều đáng sợ không phải là Đông phương hay Tây phương, khoa học hay tâm linh, vô hình hay hữu hình. Điều đáng sợ là người ta nói đến tâm linh vô hình mà quên mất đạo. Cũng như điều đáng sợ không phải là Tây phương nói đến não bộ. Điều đáng sợ là người ta nói đến khoa học mà tưởng thế là đã hiểu hết con người.
Nếu đi đến chỗ cùng lý, rốt cuộc đều gặp nhau ở một điểm: con người không hề đơn giản như cái tôi của chính họ tưởng ra. Mà đã không đơn giản, thì chớ vội kết tội. Đã không đơn giản, thì cũng chớ vội khen tặng quá lời. Nhận lời chê bôi hay khen ngợi, vốn ở mục đích gì mới được. Có những lời để động viên hoặc minh chứng cho những gì đạt được, thì vẫn nghe vẫn tin nhưng không quá quan trọng, mà lời chê cũng không định nghĩa bấy cứ góc nhìn nào về định nghĩa con người của ai. Bớt đi một phần ngạo mạn khi phán xét, thêm một phần từ bi khi nhìn người, và tăng nhiều phần tỉnh thức khi tự xét chính mình.
Biết như vậy rồi, xem cái gì đó không còn là để hỏi “Tôi sướng hay tôi khổ”, “Tôi giàu hay tôi nghèo”, “Tôi hơn ai, thua ai”. Mà là để hỏi:
Tôi đang bị dẫn bởi điều gì lúc này? Tôi đang sống bằng trường khí nào lúc này? Tôi đang lặp lại dạng nghiệp nào?…
Và từ chỗ ấy, ta có thể dưỡng lại thân-tâm, sửa lại nếp sống, thuận lại thiên thời, để điều gì mà phải gánh thì gánh cho đáng, điều được buông thì buông cho sạch sẽ tâm can.
Ấy mới là chỗ dụng của vô hình, của mệnh lý, của số phận, của tâm/linh. Không phải để trốn hay để biết, mà để hiểu. Không phải để đổ hết cho cái số cái nghiệp cái quy trình nào cả, mà để biết trong số phận có một đường là đạo, trong đường có lối quay về, để tự chỉnh mà uốn nắn mình thuận hay nghịch tùy khi.