Tử Vi Thiên Đồng - Luận Giải Tử Vi Trọn Đời

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • Tử Vi Thiên Đồng - Luận Giải Tử Vi Trọn Đời

Tử Vi Thiên Đồng - Luận Giải Tử Vi Trọn Đời Luận giải lá số tử vi trọn đời - nhắn tin trực tiếp cho page để đặt lịch, hoặc nhắn qua zalo duy nhất 0359.202.748 (lưu ý không gọi).

Không nhận cúng lễ, giải hạn.

GIÀU CÓ ĐƯỢC THỂ HIỆN TRÊN LÁ SỐ TỬ VI❓❓ ĐÚNG✅Đây là lá số của một chị khách bên mình hiện đang là bà chủ quản lý 2 nhà ...
20/01/2026

GIÀU CÓ ĐƯỢC THỂ HIỆN TRÊN LÁ SỐ TỬ VI❓❓ ĐÚNG✅

Đây là lá số của một chị khách bên mình hiện đang là bà chủ quản lý 2 nhà hàng cao cấp, và sở hữu một số khu nghỉ dưỡng ở Phan Thiết và Nha Trang. Đương số cung tài vũ khúc miếu địa - tiền bạc dồi dào, cung điền cự môn hóa quyền tứ linh khôi việt - nhà cao cửa rộng, nhiều đất cát,...

- Các bạn đặt lịch xem vui lòng inbox trực tiếp hoặc zalo 0359.202.748 để nhận lịch trong ngày!❤️

Tử Vi Thiên Đồng 🧧

CUNG PHÚC ĐỨC.Cung Phúc Đức chủ về thế giới tinh thần của một người. Nó còn là cung di chuyển của Tài Bạch, chủ về vận đ...
19/01/2026

CUNG PHÚC ĐỨC.

Cung Phúc Đức chủ về thế giới tinh thần của một người. Nó còn là cung di chuyển của Tài Bạch, chủ về vận đầu tư. Phúc Đức, tức là tâm trí, họa phúc của các sao trong cung Phúc Đức ảnh hưởng trực tiếp đến những lựa chọn quan trọng trong cuộc đời con người. Nếu có Thiên Quý, Tử Vi và các sao khác, chủ về phẩm chất cao quý; nếu Khôi Việt đồng cung Thiên Phúc, Cự Môn thêm Sát tinh, thì chủ về lười biếng, có thể trở thành kẻ ăn chơi trộm cắp. Nếu cung Phúc Đức cát tường, người đó cả đời suy nghĩ thông thoáng, vui vẻ; nếu cung Phúc Đức hung hiểm, dù có tài có quan, người đó cả đời cũng mệt mỏi trong lòng, lo lắng sợ hãi, hoặc tự rước họa vào thân, lo lắng thái quá.
Tử Vi thủ cung Phúc Đức, nói chung chủ về phẩm chất của người đó là đôn hậu, nhưng rất chủ quan. Người đó có tư tưởng cao đẹp, hoặc có mong muốn lãnh đạo, nhưng thích chi phối và điều khiển hành động của người khác. Phúc dày hưởng phúc an lạc, Thiên Phủ Thiên Tướng đồng cung suốt đời được cát tường, Phá Quân đồng cung thì lao tâm phí sức không yên, thích tự mình làm mọi việc. Thêm Dương Đà Linh Không Kiếp thì phúc mỏng, Thiên Cơ đồng cung suốt đời hưởng phúc. Nếu hội hợp với Hình Sát và các hung tinh, thì người đó thân tâm bận rộn, sớm nắng chiều mưa. Tuy nhiên, dù bận rộn nhưng dễ cảm thấy mãn nguyện.
Thiên Cơ chủ về tư tưởng nhạy bén. Tuy nhiên, chính vì điều này cũng khiến tâm trí người đó bất an. Trước lao sau nhàn, đồng cung với Cự Môn tinh, lao tâm lao lực. Đồng độ với Thiên Lương tinh, có thể tự tìm kiếm sự hưởng thụ, Thái Âm đồng cung chủ về vui vẻ, thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì bôn ba không được yên tĩnh. Hội hợp với Thái Dương, thích sự tĩnh lặng trong sự ồn ào. Hóa Kỵ tinh, thì nhiều lo ngại, tiến thoái lưỡng nan, bất an, thao tâm mất ngủ. Kình Dương, Đà La hội chiếu, tự tìm phiền não, suốt ngày bận rộn. Hỏa Tinh, Linh Tinh, Không Kiếp, Thiên Hình, Đại Hao hội chiếu, bận rộn bôn ba, phúc mỏng tâm phiền.
Thái Dương thủ cung Phúc Đức thì chủ về người đó bôn ba không ngừng nghỉ. Phát phúc trong sự bận rộn, Thái Âm đồng cung thì vui vẻ, Cự Môn đồng cung thì phí sức không an, Thiên Lương đồng cung thì vui vẻ, phụ nữ hội cát tinh, lấy chồng hiền minh, hưởng phúc, thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ Hao, luận suốt đời không đẹp. Thái Dương thủ cung Phúc Đức, nhập miếu, chủ về vợ/chồng nhiệt tình, có nhiều niềm vui trong đời sống hôn nhân. Nếu gặp các sao đào hoa, thì cần đề phòng bản thân không hòa hợp với vợ/chồng. Thái Dương hãm địa thêm Sát tinh đồng cung Khôi Việt chủ về bệnh tâm lý.
Vũ Khúc lao tâm phí sức, nhập miếu an nhiên hưởng phúc, Phá Quân đồng cung thì đông chạy tây chạy, không yên tĩnh, Thiên Tướng đồng cung thì tuổi già an khang, Thất Sát đồng cung thì sức khỏe kém, Tham Lang đồng cung thì tuổi già hưởng phúc, gặp Hỏa Linh tinh thì an nhàn, thêm Dương Đà thì lao tâm đắc lực. Vũ Khúc hóa Kỵ, thì chủ về thường xuyên lo lắng về tiền bạc, dẫn đến thân tâm mệt mỏi.
Thiên Đồng là sao cát tường nhất trong cung Phúc Đức, chủ về người hưởng phúc. Vui vẻ có phúc có thọ, Cự Môn đồng cung thì nhiều lo ít vui, Thái Âm đồng cung thì hưởng phúc, Thiên Lương đồng cung thì thanh nhàn vui vẻ. Sự hưởng phúc của Thiên Đồng cũng khác với Tử Vi, Thiên Phủ. Sự hưởng phúc của Tử Phủ là do danh thành lợi tựu, nên cuộc sống an nhàn. Còn Thiên Đồng tuy là Phúc tinh nhưng không chủ về danh lợi, bất kể hoàn cảnh thế nào, chỉ là biết cách tận hưởng thú vui cuộc sống.
Liêm Trinh thủ cung Phúc Đức, nói chung chủ về người bận rộn, hoặc dù giàu có nhưng vẫn nhiều lo lắng thái quá, và vẫn thích bôn ba. Hoặc không chú ý đến việc bố trí và trang trí nhà cửa, có cảm giác lộn xộn. Hóa Kỵ thì càng đúng. Độc thủ bận rộn mà sinh phúc, Thiên Tướng đồng cung thì có phúc có thọ, Thiên Phủ đồng cung thì an lạc vô ưu, Phá Quân đồng cung thì không chịu an phận, lao tâm phí sức, thêm Dương Đà Hỏa Linh thì lao khổ suốt đời, cuối đời như ý.
Thiên Phủ nhập cung Phúc Đức, chủ về tư tưởng của người đó vững vàng, rộng lượng. Yên tĩnh hưởng phúc, Lộc Tồn đồng độ, thì dành nhiều tâm sức cho việc quản lý tài chính. Gặp Đà La đồng độ, thì chủ về người đó keo kiệt. Tử Vi đồng cung thì vui vẻ, Liêm Trinh đồng cung thì thân an tâm bận, Vũ Khúc đồng cung thì những năm đầu vất vả hơn, trung và hậu vận an lạc hưởng phúc, thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Kỵ thì lao khổ qua ngày. Thiên Phủ và Xương Khúc đồng cung tại Phúc Đức, chủ về văn tài.
Thái Âm nhập miếu hưởng phúc vui vẻ, có phong cách. Thái Dương đồng cung thì cực đẹp, tăng ni đạo sĩ cũng thanh tịnh hưởng phúc, Thiên Cơ đồng cung thì tâm bận, Thiên Đồng đồng cung thì yên tĩnh vô ưu, thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, thì có lo có vui, không được yên tĩnh. Thái Âm chủ tĩnh, chủ tàng, nên người có Thái Âm thủ cung Phúc Đức, nói chung đều không chịu bôn ba bận rộn. Thái Âm hóa Kỵ, thường chủ về người đó bề ngoài yên tĩnh, nhưng nội tâm thì nhiều suy tư.
Tham Lang nhập miếu, chủ về người ham mê hưởng thụ vật chất, có sở thích, hoặc ham mê tửu sắc, hoặc ham mê nghệ thuật, hoặc ham mê triết lý tôn giáo. Hãm địa lao tâm bất an, Liêm Trinh đồng cung thì phúc mỏng, Tử Vi đồng cung thì tuổi già vui vẻ. Hội hợp với các sao đào hoa, thì ham mê tửu sắc; hội hợp với các sao văn khoa, thì ham mê nghệ thuật; hội hợp với Không Sát Hoa Cái, thì ham mê triết lý. Có cát tinh hội hợp, người đó hài hước, thích nói đùa. Nếu không có cát tinh, lạc hãm, thì chủ về cuộc sống vật chất thiếu thốn, nhưng tính hài hước không đổi. Nếu hội chiếu Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì không ảnh hưởng đến việc hưởng lạc, nhưng chủ về người đó tính khí nóng nảy, hoặc cáu kỉnh, tính cách cương liệt.
Cự Môn ám diệu, cũng chủ về người thích gây chuyện thị phi, và đa nghi đa kỵ. Vì vậy, khó tránh khỏi lao tâm phí sức để lo toan nhiều việc, việc gì cũng tự tay làm. Do đó, lao lực bất an, Thái Dương đồng cung thì có lo có vui, Thiên Cơ đồng cung thì tâm bận bất an, Thiên Đồng đồng cung thì hưởng phúc, thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì cuộc đời nhiều lo âu. Nếu đồng độ hoặc hội chiếu với Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, thì tâm thị phi nghi kỵ càng nặng, do đó chịu nhiều áp lực tinh thần. Nếu thấy Hình Kỵ, thì nhiều miệng lưỡi thị phi quấy nhiễu, khiến thân tâm mệt mỏi.
Thiên Tướng miếu địa thì người đó chính trực thẳng thắn, có tinh thần chính nghĩa, giàu lòng trắc ẩn. Nếu lạc hãm địa, thì dễ rơi vào chủ nghĩa duy tâm. An nhàn hưởng phúc có thọ, Tử Vi đồng cung thì vui vẻ, Thiên Cơ đồng cung thì bận rộn mà cát tường, Thái Dương đồng cung thì phúc thọ song toàn thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì tâm không được tĩnh.
Thiên Lương tinh lâm cung Phúc Đức nhập miếu, chủ về an lạc hưởng thụ. Đồng độ với Thái Dương tinh, có Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Thiên Quý, Ân Quang, Thiên Vu và các sao khác hội chiếu, chủ về phúc dày lộc nặng, có thể giàu có thể quý. Thiên Đồng tinh đồng độ, thì an định. Thiên Cơ tinh đồng độ, lao tâm lao lực. Hóa Kỵ tinh, vô phúc nhiều phiền não, Đà La đồng độ, tự tìm bận rộn. Kình Dương, Hỏa Tinh, Linh Tinh hội chiếu, phúc mỏng nhiều tranh chấp, nhiều thị phi, bất an. Thiên Lương tinh lâm cung Phúc Đức nhập miếu, chủ về nhàn hạ, có phong thái của bậc danh sĩ, tùy tiện không câu nệ, lạc quan, không thích hoạt động. Lạc hãm thì lười biếng trì hoãn, đôi khi trì hoãn chính sự. Thiên Lương tinh ở ba cung Tỵ, Hợi, Thân, hội Thiên Mã, Không Kiếp, Đại Hao, chủ về phù động bôn ba bất an. Thích Thiên Thọ, Thiên Phúc, Thiên Quan và các sao khác đồng cung.
Thất Sát nhập miếu hưởng phúc, hãm địa thêm Dương Đà Hỏa Linh lao tâm phí sức, chủ cô độc, Vũ Khúc đồng cung thì sức khỏe kém, Liêm Trinh đồng cung thì vất vả, Tử Vi đồng cung thì trước lao sau nhàn, cuối đời mới như ý toại lòng, phụ nữ độc cư Phúc Đức, nên kết hôn muộn hoặc sống chung, nếu không e có hình thương. Thất Sát đồng độ với Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp, Đại Hao, Thiên Hình, thì chủ về người đó hao tâm tốn sức, và bôn ba bận rộn bất an. Đồng thời nhân duyên không tốt, dễ bị ghét bỏ.
Phá Quân miếu địa thì giỏi quyết đoán, hãm địa lao tâm phí sức, Vũ Khúc đồng cung thì sức khỏe kém, Liêm Trinh đồng cung thì vất vả, Tử Vi đồng cung thì an lạc, thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì thao tâm, không được yên tĩnh.
Văn Xương thêm cát tinh nhập miếu hưởng phúc vui vẻ, hãm địa gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, thân tâm đều không được yên tĩnh.
Tả Phụ thêm cát tinh hưởng phúc độc thủ, tuổi già an ninh, thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì vất vả.
Hữu Bật suốt đời phúc lộc toàn vẹn, thêm cát tinh suốt đời ít lo, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, thì lao tâm không an.
Lộc Tồn suốt đời phúc dày an tĩnh xử thế, thêm cát tinh có niềm vui có phúc, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, thân tâm không được yên tĩnh.
Khôi Việt có quý nhân, làm bạn hưởng phúc vui vẻ. Nhưng không thích gặp lại Thiên Phúc, Thiên Đồng, vì làm cho tâm lý dựa dẫm quá mạnh, ngược lại chủ về cuộc đời mất cân bằng.
Kình Dương nhập miếu động mà có phúc, hãm cung lao tâm thiếu lực, được cát tinh, cùng giảm lo âu độc thủ thân tâm bất an.
Đà La độc thủ vất vả, nhập miếu có phúc lộc, hãm địa bôn ba, thêm cát tinh tuổi già có phúc.
Hỏa Tinh sức khỏe kém, lao lực vất vả, thêm cát tinh cuối đời toại chí. Cũng chủ tính tình nóng nảy. Linh Tinh lao khổ, thêm cát tinh hòa nhã, độc thủ vất vả.
Khốc Hư cư Phúc cung, chủ không tự tin, bi quan.
Đẩu Quân gặp cát tinh thì năm đó an tĩnh, gặp sát tinh thì không yên.
Tuế Quân Đại Tiểu Hạn đi qua, gặp cát thì hưởng phúc, gặp hung thì lao lực vất vả.

Các bạn đặt lịch xem vui lòng inbox trực tiếp hoặc zalo 0359.202.748 để nhận lịch trong ngày!❤️
Thiên Đồng - 𝐍𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 đ𝐨̣𝐜 𝐬𝐨̂́ 𝐦𝐞̣̂𝐧𝐡 🧧

Feedback Tử Vi của Tử Vi Thiên Đồng - Luận Giải Tử Vi Trọn Đời ☘️✍️ Luận giải Lá số tử vi trọn đời: Tình duyên, Sự nghiệ...
17/01/2026

Feedback Tử Vi của Tử Vi Thiên Đồng - Luận Giải Tử Vi Trọn Đời ☘️
✍️ Luận giải Lá số tử vi trọn đời: Tình duyên, Sự nghiệp, Tiền bạc, Gia đình, Con cái, Bạn bè,…
✍️ Đại vận, tiểu vận
✍️ Vận hạn 12 tháng

Các bạn đặt lịch xem vui lòng inbox trực tiếp hoặc zalo 0359.202.748 để nhận lịch trong ngày!❤️

Thiên Đồng - 𝐍𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 đ𝐨̣𝐜 𝐬𝐨̂́ 𝐦𝐞̣̂𝐧𝐡 🧧

☆. Sao Thiên Tướng▲ Giải thích sao: Thiên Tướng thuộc hành Thủy âm Nhâm, tượng Dương, là ngôi sao thứ năm trong chòm Nam...
15/01/2026

☆. Sao Thiên Tướng
▲ Giải thích sao: Thiên Tướng thuộc hành Thủy âm Nhâm, tượng Dương, là ngôi sao thứ năm trong chòm Nam Đẩu, hóa khí là Ấn, quản lý quan lộc văn tinh, chủ về văn thư, ấn tín, khế ước, chi phiếu, hóa đơn, vé xe, vé tàu, quyền vị, quần áo, thức ăn. Chủ về tước lộc, là sao phúc, sao cát, đều tốt ở cả mười hai cung. Đại diện cho lòng từ ái, là sao phụ tá, sao công bằng, sao pháp luật, sao luật sư, phái trung hòa.
Thiên Tướng giống như một tể tướng, nhân vật đại diện: Văn Trọng (Văn Thái Sư). Thường được ví như con dấu của quan phủ, quan chưởng ấn, công văn phải có dấu lớn mới có hiệu lực, do đó Thiên Tướng là một biểu tượng của quyền lực. Nhưng người chưởng ấn, cuối cùng vẫn bị cấp trên kiềm chế, bản thân không có quyền chủ động, do đó tính cách của Thiên Tướng mang tính chất mưu sĩ, dễ bị môi trường chi phối, môi trường tốt thì tốt, không mất đi tính độc lập; môi trường xấu thì hung, chỉ là một tên lính chạy việc; do đó Thiên Tướng có tính chất hai mặt, gặp thiện thì thiện, gặp ác thì ác. Tính chất mưu sĩ của nó khác với Thiên Cơ, là phó tá chưởng văn thư ấn tín, thân cận và ổn định hơn.
Thiên Tướng Tam phương nhất định hội Thiên Phủ, chịu ảnh hưởng lớn hơn của Thiên Phủ, do đó có câu "phùng Tướng khán Phủ" (gặp Tướng thì xem Phủ), gặp Thiên Phủ tốt thì giàu có, gặp Tử Vi tốt thì hiển quý. Cách xem Thiên Phủ tốt xấu có thể tham khảo sao Thiên Phủ.
Trong mười bốn chính tinh, Thiên Tướng coi trọng hai cung kẹp trước sau nhất, nên xem trước là cát kẹp hay hung kẹp, sau đó mới xem Tam phương Tứ chính. Hai cung bên cạnh Thiên Tướng nhất định là Cự Môn (hoặc Đồng Cự) và Thiên Lương, nếu Cự Môn Hóa Lộc thì trở thành "Cách Tài Ấm kẹp Ấn", là cách giàu sang, các sao khác đồng cung với Cự Môn miếu vượng Hóa Lộc cũng thành cách, nhưng kém hơn; Lộc Tồn và Thiên Lương kẹp thì không thể thành cách, vì Kình Dương đồng cung với Thiên Tướng mà phá cách.
◇ Cách Hình Kỵ kẹp Ấn: Người xưa gọi Kình Dương là Hình, Đà La là Kỵ, Hình Kỵ kẹp Ấn tức là Dương Đà kẹp Thiên Tướng, nhưng có Lộc Tồn đồng cung, không có Sát Kỵ vẫn được coi là cách tốt, thành tựu sự nghiệp không giảm, chỉ tăng thêm một chút vất vả mà thôi, nếu thêm Lục Sát, Thiên Hình, Hóa Kỵ thì hung. Nếu gặp Kình Dương và Hóa Kỵ kẹp Thiên Tướng, lúc này cũng nhất định là Dương Đà kẹp, thì là một cách cục rất hung. Cá tính độc đáo, không hợp với người khác, không chịu đi theo dòng chảy, dễ vì tiền mà chiêu tai họa bất ngờ, kiện tụng khó tránh, cả đời không tốt, chỉ thích hợp làm tăng ni, đạo sĩ. Thiên Tướng bảo thủ, do đó phạm pháp cũng chỉ là đồng phạm.
Thiên Lương là sao kỷ luật hình, nếu Thiên Lương và Hóa Kỵ kẹp Thiên Tướng, cũng có người gọi là Hình Kỵ kẹp Ấn, nhưng dù sao cũng không phải chính tông, phải Thiên Tướng thêm Sát tinh, mới được coi là cách cục hình ngục, cái hung của nó chỉ đứng sau Hình Kỵ kẹp Ấn, Thiên Tướng thêm Lục Cát tinh hoặc Thiên Lương Hóa Khoa có thể giải, gặp Thiên Lương Hóa Lộc thì vì sao Hình ham tiền mà tăng thêm sự hung ác. Hỏa Linh kẹp, Không Kiếp kẹp đều không tốt, chủ về thị phi, tranh chấp, lao lực, bôn ba, trắc trở, phá bại, nếu Thiên Tướng thêm Sát Kỵ tinh thì càng hung, nhưng không lớn bằng hai cách trước, Thiên Tướng Tam phương thêm Cát tinh có thể giải.
▲ Dung mạo: Nhập Mệnh, lúc nhỏ mặt trắng xanh, lúc già trắng vàng. Khuôn mặt tròn pha vuông hoặc hình chữ Giáp, tầm trung cao, miếu vượng sau trung niên béo lên, hãm địa gầy gò và kén ăn. Dung mạo trang trọng, thanh tú, đôn hậu, lông mày rậm, ngũ quan đoan chính, da trắng, ngôn ngữ trầm ổn, vóc dáng đầy đặn, phong phú, nho nhã, thanh lịch, hành động và phản ứng có cảm giác hơi chậm chạp. Gặp Sát tinh chủ về phá tướng, có bệnh ngoài da. Xét về hai gò má, gò má rộng, cao là tướng tốt. Gặp sao Ân Quý, trán tròn, nhô ra.
▲ Tính tình, tài năng: Tính tình ôn hòa, lòng dạ lương thiện, trung hậu, thật thà, tấm lòng rộng rãi, giàu tình cảm nhưng nguyên tắc không mạnh, có lòng chính nghĩa và lòng đồng cảm, thấy người lâm nguy có lòng trắc ẩn, thấy người làm điều ác thì bất bình, giúp người không cầu báo đáp, biết thấu hiểu lòng người, thích điều đình, làm người hòa giải, thích lo chuyện bao đồng, phục vụ đại chúng; thông minh hơn người, túc trí đa mưu, đầu óc phản ứng nhanh, phát hiện sai lầm có thể sửa chữa ngay lập tức; cử chỉ tao nhã, thích cầm kỳ thi họa, thích cuộc sống nhàn nhã, yêu cái đẹp, sạch sẽ, thích món ăn ngon, chú trọng ăn mặc, trang điểm, chú trọng tiền bạc, cuộc sống tương đối xa hoa, thường ngày đối với người khác thì ích kỷ, keo kiệt, tương đối hướng nội, vì nhiệt tình và ăn mặc đẹp mà thu hút người khác phái, duyên với người khác phái tốt, sau khi kết hôn không an phận; ngôn ngữ thành thật, văn nhã, không quá sắc bén, quyết liệt, bình thường không thích nói chuyện, nhưng khi nói thì lại đâu ra đấy; đối đãi với người khác chân thành, khiêm tốn, lễ phép, giữ chữ tín, giao thiệp rộng, bạn bè nhiều, lại được cấp trên yêu quý, từ đó có được địa vị xã hội. Khi mâu thuẫn với họ, tặng một chút quà hoặc mời họ một bữa ăn, rồi dùng giọng điệu đùa giỡn nói vài lời tốt đẹp thì sẽ ổn thôi.
Đối với việc công, việc của cấp trên thì có thể hy sinh bản thân, tuân theo lợi ích chung, nghiêm túc, cẩn trọng, suy nghĩ sâu xa, suy tính chu đáo, chăm chỉ, tích cực, chịu khó, không oán trách, trung thành, có khả năng quản lý và xử lý công việc tốt, nhưng đôi khi cũng ham hưởng thụ mà lười biếng, đầu voi đuôi chuột, bảo thủ, thiếu nhiệt huyết, thiếu tinh thần thực tiễn, làm việc gì cũng theo khuôn khổ, quá cẩn thận, cố chấp, suy nghĩ quá nhiều, do dự, không quyết đoán, dễ bỏ lỡ cơ hội tốt, do đó chỉ thích hợp làm công việc phó, trợ lý, thư ký. An phận thủ thường, không giỏi đầu cơ trục lợi, tai mềm, lòng động, thích được tâng bốc, thích sĩ diện, biết làm vẻ bề ngoài, theo đuổi những người lãnh đạo sai lầm, a dua theo dòng, cũng dễ quá tin người khác, không giỏi nắm bắt cơ hội, thường nhường lại cho người khác, thậm chí bị lừa, rước lấy sai lầm và rắc rối, vì vậy không nên kinh doanh. Giỏi xử lý công việc, trên dưới thông suốt, vừa nghiêm khắc vừa hòa nhã, có lòng dạ rộng lượng, không so đo với người khác, không thích thể hiện. Giỏi bảo vệ bản thân, trong uy nghiêm có ẩn chứa sự khúm núm, có lòng tranh giành quyền lực, loại trừ người khác (loại trừ đồng nghiệp, người có quyền thế, đối với quần chúng, cấp dưới thì hòa nhã).
Thiên Tướng là sao Phúc Lộc, là sao của quần áo, thức ăn, chỗ ở, đi lại, chủ về quần áo, thức ăn đầy đủ, có khẩu phúc, có hưởng thụ, cả đời không lo thiếu ăn thiếu mặc, hãm địa thì kén ăn. Thiên Tướng tọa Mệnh Thân, sẽ cất giấu tiền riêng, nữ mệnh càng như vậy. Thiên Tướng cung đối gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, nên phát triển ở nơi xa quê.
Nhập Mệnh, là mệnh của quan lại (quản lý cơ quan hành chính), làm công chức, có uy quyền, phần lớn cả đời làm một nghề, nhưng phải dựa vào sức mạnh của người khác để làm việc, quan hệ xã giao tốt, cả đời gần gũi với người quý, có thể kết giao với người có quyền thế, địa vị. Nhưng nếu không thành “Cách Tài Ấm” và không thêm Lục Cát tinh, Tử Phủ v.v., thì khó có thành tựu lớn.
Miếu vượng nhập cách là mệnh được phong hầu bái tướng, xử lý công việc công bằng, càng thêm trầm ổn, lúc trẻ đắc chí, giàu sang, oai phong. Thêm Lục Cát tinh, nắm giữ uy quyền, vị trí cao đến công khanh; thêm Tử Phủ, an lành, phúc dày, tài quan song toàn, vị trí cao đến Tam Công; đặc biệt thích gặp Thiên Phủ ở Mệnh Thân, cả đời phúc dày, an hưởng, và sống lâu. Có công năng chế Sát, Sát ít không sợ, Sát nặng thì có tai họa.
Thất hãm, không thêm Sát tinh cũng được coi là tốt, không thiếu ăn thiếu mặc; thêm Cát tinh cũng có giàu sang; thêm Tứ Sát, Không Kiếp, ích kỷ, tư lợi, nghèo khổ hoặc tàn tật, phá tài, bại nghiệp, nên phát triển về mặt kỹ nghệ.
▲ Phối hợp thích, kỵ: Thêm Lục Cát tinh thì có thành tựu, thích thêm Xương Khúc, có tài ứng biến nhanh, nam là tài tử phong lưu, làm quan lại, nhưng dù giàu sang cũng ít nhất sẽ dính vào một trong bốn tệ nạn ăn chơi, cờ bạc, hút chích. Cũng thích gặp Thiên Quý, Ân Quang để tăng thêm sự rạng rỡ. Thêm Thiên Diêu, có sở thích hút thuốc, thậm chí nghiện, dễ vì người khác phái mà gây rắc rối, tổn hại danh lợi. Thêm Tả Hữu, trầm ổn, trang nghiêm, trẻ mà già dặn, nắm quyền. “Thiên Tướng Hữu Bật phúc lai lâm”: hai sao đồng cung thủ Mệnh Thân, không có Sát xung phá, nam nữ đều chủ về phúc dày; người sinh năm Quý tọa Mệnh ở cung Tý, người sinh năm Canh tọa Mệnh ở cung Hợi, người sinh năm Giáp Mệnh tọa ở cung Hợi, là cách thượng đẳng; cung Sửu, Mùi không có Sát có thể giàu mà không thể quý, và nhiều bệnh tật; cung Thìn, Tuất, Hợi khó có được quyền quý, dù có quyền quý cũng không lâu dài; hai cung Mão, Dậu hãm địa, mọi việc không như ý.
◇ Cách Lộc Mã bội Ấn: Lộc Tồn (hoặc Hóa Lộc), Thiên Mã và Thiên Tướng đồng cung thủ Mệnh, không có Sát xung phá tức là, chủ về có tài có thế, có quyền, có địa vị.
Thiên Tướng tương đối không sợ Sát tinh, nhưng kỵ Hỏa Linh đồng cung, bệnh tật, tàn tật hoặc mang bệnh mà sống lâu; nếu lại thấy hung kẹp, lúc nhỏ bất lợi cho cha mẹ, nếu ly tổ hoặc được nhận nuôi thì tránh được; nếu cung Phúc Đức Thất Sát hội Sát, Hình, Kỵ, Hao, thì chủ về tàn tật; nếu cung Tật Ách lại không tốt thì dễ có tai họa đổ máu bất ngờ, như phải nằm viện, phẫu thuật hoặc tai nạn xe cộ v.v., gặp hạn vận đến đây thì ứng tai họa. Thêm Lục Sát, cẩu thả, dễ có rắc rối về văn thư, ấn tín, cả đời không tránh khỏi nhiều thăng trầm, nên dùng kỹ thuật để kiếm sống; dễ bị lừa, thường vì quá tin người khác mà rước lấy rắc rối. Thêm Dương Đà, lao tâm, phúc không toàn, phá tướng; ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi thêm Đà La, không tàn tật thì tù tội. Thêm Không Kiếp, sự nghiệp không như ý, danh tiếng bị tổn hại. Hội Dương Đà, Không Kiếp, cuộc sống hoang phí, hạn vận gặp chủ về thị phi, kiện tụng. Thêm sao Đào hoa, dễ có ngoại tình hoặc chuyện tình cảm, tình cảm vợ chồng không tốt, dễ có hai lần hôn nhân. Thêm Tham, Liêm, Vũ, Phá, Dương, Đà, Sát, thì khéo tay mà sống yên thân, kiếm sống bằng kỹ thuật.
Thiên Tướng là “mưu sĩ”, cần phải có chỗ dựa, nên tham khảo cung Phụ Mẫu, cung Phụ Mẫu tốt thì có chỗ dựa, xấu thì không có, tài năng không được trọng dụng.
▲ Nữ mệnh Thiên Tướng, dung mạo đoan trang, trầm ổn, da mịn, thông minh, nhân từ, ôn hòa, hướng nội, nho nhã, lễ phép, không thích lo chuyện bao đồng, không so đo với người khác, không có chí tiến thủ mạnh mẽ trong sự nghiệp, thích ở nhà, làm vợ hiền mẹ tốt; cả đời bình ổn, không lo thiếu ăn thiếu mặc, thích ăn diện, kén ăn, thích ăn vặt, hãm địa sẽ kén ăn. Tam phương Cát củng thì chồng vinh vợ quý, vợ chồng hòa thuận. Thích thêm Tả Hữu, cả đời bình an, an lành. Không thích thêm Xương Khúc, dù giàu sang cũng được coi là vợ lẽ, vợ hai, hoặc làm nhân viên dịch vụ tình dục, nhiều trắc trở tình cảm, vì xinh đẹp mà dâm đãng, được nhiều đàn ông sủng ái, dễ tư thông với đàn ông đã có vợ; vợ chồng bất hòa, chồng là người đã kết hôn. Nhập miếu chủ về thông minh, đoan trang, ôn hòa, nhân từ, quần áo, thức ăn đầy đủ, Tam phương Cát củng thì vượng phu ích tử, có thể làm quý phu nhân. Thất hãm lại gặp Thất Sát, Phá Quân ở Mệnh Thân, chủ về không giữ đúng, là hạng tỳ thiếp. Hãm địa thêm Sát tinh gặp sao Đào hoa, tình cảm trắc trở, ly hôn xong làm tiếp viên quán bar, gái rượu, vũ nữ. Thêm Hữu Bật thì các cung đều tốt, nhất định chủ về giàu sang, phúc, thọ. Người sinh năm Kỷ an Mệnh ở cung Tý, người sinh năm Canh an Mệnh ở cung Thìn, là cách thượng đẳng, giàu sang, vinh hoa. An Mệnh ở cung Tý người sinh năm Quý, Kỷ, cung Dần người sinh năm Giáp, Kỷ, cung Thân người sinh năm Giáp, Canh, Quý, cung Ngọ người sinh năm Giáp, cung Sửu người sinh năm Canh, cũng là cách quý. Cung Sửu, Mùi, Hợi không quý, cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu ít phúc. Gặp Tứ Sát xung phá, chủ về cô độc, hình khắc, nghèo hèn hoặc làm tỳ thiếp. Người sinh năm Canh Mệnh tọa ở Dần, chủ về cô độc, hình phạt, e rằng góa bụa sớm; kỵ nhất người sinh năm Bính, Mậu tọa Mệnh ở hai cung Tý, Ngọ, là cục khắc chồng, khắc con.
△ Cung Tý, Ngọ miếu địa, đồng cung với Liêm Trinh, người sinh năm Đinh, Kỷ, Quý, Giáp là cách tài quan. Nhưng người sinh năm Quý thì quan hệ vợ chồng không tốt.
△ Cung Sửu nhập miếu, cung Mùi đắc địa, thêm Cát tinh, là cách tài quan. Cung Sửu tốt hơn cung Mùi. Người sinh năm Ất, Canh tốt.
Chịu ảnh hưởng của cung đối Tử Phá, trở nên tương đối có nhiệt huyết, chịu khó, chịu khổ, tích cực, tiến thủ, có thể được quý nhân đề bạt, đắc ý chốn quan trường, nhưng lại có tiểu nhân gây cản trở, cả đời môi trường nhiều thay đổi, vất vả mà hay điều động. Có tính quái dị, chủ quan mạnh mẽ, bình thường không thích nói chuyện, nhưng khi nói thì đâu ra đấy. Thêm Lục Cát tinh, ôn hòa, nho nhã, có thể nắm quyền, chức vụ cao, đến công khanh. Thêm Lục Sát, là người khéo tay; thêm Hỏa Linh (đồng cung hoặc đối chiếu), vì chủ quan mà chiêu thất bại, cũng chủ về tàn tật. Thêm Dương Đà, nhiều tai ương.
△ Cung Dần, Thân nhập miếu, đồng cung với Vũ Khúc, người sinh năm Kỷ, Giáp, Canh là cách tài quan.
△ Cung Mão, Dậu hãm địa, người sinh năm Ất, Tân tốt, người sinh năm Giáp, Canh thì khốn khó.
Cung Mão, Dậu, bản thân thiếu khí phách, bảo thủ, đa nghi, do dự, không quyết đoán, lúc nhỏ nhiều bôn ba, lúc già hưởng phúc. Giỏi quản lý tài chính, nên kinh doanh, nhận lương, trồng trọt, dệt vải, kỹ nghệ. Thấy Lộc Tồn, có thể được giao trọng trách, giúp người khác phát triển sự nghiệp. Phùng Tướng khán Phủ, chịu ảnh hưởng lớn hơn của Thiên Phủ, có tính cách cẩn thận, bảo thủ; ảnh hưởng của cung đối Liêm Phá cũng lớn, không được coi là trung hậu, do đó dễ dùng tình cảm để làm việc, dễ tư vị mà không có nguyên tắc, chỉ nói về tình bạn. Thích gặp Tài Ấm kẹp, tương đối chính trực mà ít dùng tình cảm để làm việc. Nếu gặp Hình Kỵ kẹp, càng dễ dùng tình cảm để làm việc. Thêm Lục Cát tinh, chính trực và thành tựu lớn. Thêm Sát Kỵ, cũng là dùng tình cảm để làm việc, giả dối, gian trá, chỉ thích hợp với kỹ nghệ. Thấy Dương Đà, thất bại sự nghiệp, kiện tụng, thị phi; Kình Dương đồng cung, cung đối Liêm Trinh, cũng thuộc “Hình Tù kẹp Ấn”. Thấy Hỏa Linh, tàn tật, thương tật. Thiên Phủ là kho thực thì Thiên Tướng cũng là chính trực; nếu là kho không lộ thì là dùng tình cảm để làm việc. Cung đối Liêm Phá được Lộc cũng là chính trực, nếu gặp Hóa Kỵ thì là dùng tình cảm để làm việc. Thêm Thiên Hình, kiện tụng, thị phi, hôn nhân nhiều thay đổi, thêm Dương Đà càng ứng nghiệm. Nữ mệnh ít phúc, dùng tình cảm không chuyên, gặp Xương Khúc cũng không tốt, phần lớn là người dâm dục, làm nhân tình hoặc dùng tình cảm không chuyên.
Cung Mão, có tài khéo, hoàn cảnh tốt không kéo dài, thị phi, tranh chấp, kiện tụng, mất tiền. Thêm Tả Hữu, Xương Khúc, nắm giữ uy quyền. Thấy Sát tinh, chỉ nên làm người khéo tay.
Cung Dậu, theo chủ nghĩa duy mỹ, thích âm nhạc, hội họa, thích hưởng thụ. Gặp Tả Hữu, Xương Khúc thì tốt lành. Thêm Sát tinh có thể làm người có kỹ nghệ.
△ Cung Thìn, Tuất đắc địa, đồng cung với Tử Vi, là cách tài quan. Không có Sát nhất định giàu sang, thêm Sát thì bình thường.
△ Cung Tỵ, Hợi đắc địa, người sinh năm Bính, Mậu, Nhâm thì có phúc.
Phát triển nơi xa quê, bôn ba, lao lực. Cá tính kiên nhẫn, không lùi bước, trung hậu, thẳng thắn, tư tưởng đơn thuần, dễ tin người khác mà bị lừa gạt; có tính sáng tạo, nhưng bản thân thiếu khí phách, phải mượn sức người khác mới làm nên việc. Gặp Tài Ấm kẹp thuộc dạng vì người mà thành công, thích hội Khôi Việt, gần người quý và nhiều cơ hội. Gặp Hình Kỵ kẹp chủ về vất vả, nhiều hình tai. Tam phương thấy Lộc cũng chủ về sáng tạo, thích thấy Tả Hữu. Thêm Tả Hữu, Xương Khúc, nắm giữ uy quyền, sự nghiệp thành công. Thấy Lục Sát, nên dùng tài khéo để kiếm sống, lao tâm, phí thần. Thấy Hỏa Linh, tai ương, bệnh tật, tàn tật. Đà La đồng cung, kiện tụng, tù tội khó tránh. Cung Tài Bạch được “Nhật Nguyệt kẹp Tài”, miếu vượng thêm Cát tinh, không giàu thì quý.
Cung Tỵ, gia đình gia giáo, có văn hóa, phong thái cao cả. Cung Hợi, làm người hậu đạo, làm điều thiện tích đức, ăn sung mặc sướng, dễ bị lừa.
Phối hợp Vũ Phá, Vũ Tướng, có thành tựu lớn trong lĩnh vực tài chính.
▲ Sự nghiệp của Thiên Tướng, thích làm công việc đơn điệu và phụ tá, có thể làm một nghề trong thời gian dài. Thích hợp với thủy sản, khách sạn, văn thư, dịch vụ, phóng viên, điện ảnh, truyền hình, quần áo, trang trí, giáo dục, học thuật, y tế, tôn giáo, không nên kinh doanh; nam có thể làm công chức, tư pháp, hành chính, nữ làm gia công quần áo, cũng có thể làm cố vấn, tuyên truyền, hoặc ngành ăn uống. Nếu Sát Phá thủ Thân cung, nên làm công việc kỹ thuật.
Thiên Tướng trong người, là kế toán, bác sĩ Tây y, nhân viên phục vụ, người hòa giải, người chưởng ấn, lãnh đạo. Trong cơ thể là trán, thận, bàng quang. Trong sự việc là hưởng thụ, quần áo, thức ăn, chức vụ, tìm việc, quyền thế, nhàn nhã, tô vẽ, cẩn thận, văn thư, hợp đồng, khế ước. Trong vật thể là quần áo, thức ăn, con dấu, văn kiện, hợp đồng, hóa đơn, vé xe, đồ trang sức, chi phiếu, hòm gỗ. Trong địa lý, là vị trí Tý phương Bắc, là đài phun nước, con suối nhỏ, cửa hàng quần áo, cửa hàng thuốc trừ sâu, rạp chiếu phim, cửa hàng bách hóa. Trong thời tiết chủ về tĩnh đến nhiều mây. Trong số học là một, sáu.
Thiên Tướng nhập nam mệnh cát hung quyết:
Thiên Tướng nhập mệnh cư nguyên tể,
Tam hợp cát phùng phúc lộc trọng,
Tài quan lộc lai vượng gia tư,
Quyền áp đương thời thùy bất sùng?
Thiên Tướng chi tinh Phá Vũ đồng,
Dương Đà Hỏa Linh lai cánh hung,
Khả tác kỹ thuật kinh thương bối,
Nhược tại không môn hưởng thanh phúc.
Dịch nghĩa:
Thiên Tướng nhập Mệnh làm tể tướng,
Tam hợp gặp Cát phúc lộc nặng,
Tài quan lộc đến thịnh vượng gia sản,
Quyền lực đương thời ai không tôn sùng?
Sao Thiên Tướng đồng cung với Phá, Vũ,
Dương Đà, Hỏa Linh đến càng hung,
Có thể làm người làm kỹ thuật, kinh doanh,
Nếu ở cửa Phật thì hưởng phúc thanh nhàn.
Thiên Tướng nhập nữ mệnh cát hung quyết:
Nữ nhân chi mệnh Thiên Tướng tinh,
Tính lương thông minh bách sự ninh,
Y lộc phong phú tài bạch túc,
Vượng phu ích tử hiển môn đình;
Phá Quân Thất Sát lai tương hội,
Dương Đà Hỏa Linh tối vi kỵ,
Cô hình khắc hại lục thân bạc,
Chỉ khả phiến phòng dữ thị tỳ.
Dịch nghĩa:
Mệnh phụ nữ có sao Thiên Tướng,
Tính hiền, thông minh trăm việc yên,
Quần áo, lương thực dồi dào, tiền bạc đủ,
Vượng phu ích tử, hiển vinh gia đình;
Phá Quân, Thất Sát đến tương hội,
Dương Đà, Hỏa Linh là kỵ nhất,
Cô độc, hình khắc, lục thân bạc bẽo,
Chỉ có thể làm vợ lẽ và tỳ thiếp.

👉 Nhắn tin cho page hoặc zalo 0359.202.748 để đặt lịch xem luận giải lá số Tử Vi chi tiết nhé!

Thiên Đồng - 𝐍𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 đ𝐨̣𝐜 𝐬𝐨̂́ 𝐦𝐞̣̂𝐧𝐡 🧧

SAO LONG TRÌ, PHƯỢNG CÁC.👉 Nhắn tin cho page hoặc zalo 0359.202.748 để đặt lịch xem luận giải lá số Tử Vi chi tiết nhé! ...
15/01/2026

SAO LONG TRÌ, PHƯỢNG CÁC.

👉 Nhắn tin cho page hoặc zalo 0359.202.748 để đặt lịch xem luận giải lá số Tử Vi chi tiết nhé!

Thiên Đồng - 𝐍𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 đ𝐨̣𝐜 𝐬𝐨̂́ 𝐦𝐞̣̂𝐧𝐡 🧧

☆. Sao Thiên Lương▲ Giải thích sao: Thiên Lương thuộc hành Thổ âm Mậu, tượng Dương, là ngôi sao thứ hai trong chòm Nam Đ...
15/01/2026

☆. Sao Thiên Lương
▲ Giải thích sao: Thiên Lương thuộc hành Thổ âm Mậu, tượng Dương, là ngôi sao thứ hai trong chòm Nam Đẩu, hóa khí là Ấm, chủ về thọ lộc, là sao chủ của cung Phụ Mẫu, là sao của cha mẹ, sao của người già, sao y học, có thể tiêu tai giải ách, kéo dài tuổi thọ, thêm phúc, được sự che chở của tổ tiên, sự giúp đỡ của trưởng bối và cấp trên, phúc đức lan truyền đến gia đình và con cháu, mở rộng ra là phục vụ người khác, giải quyết phiền muộn, khó khăn cho người khác. Thời xưa, nó là chức quan phong hiến, làm quan giám sát ngự sử, quản lý kỷ luật, pháp luật, chuyên can gián hoàng đế, đàn hặc đại thần, nhưng phần lớn ở phía sau, tức là ngầm phản ánh lên cấp trên, mang tính chất thanh cao. Phúc ấm và giải tai của Thiên Lương, nhất định phải trải qua gian nan, trắc trở trước rồi sau đó mới có được, phải trải qua tai nạn rồi mới được hóa giải. Nhân vật đại diện: Lý Tịnh, Tháp Tháp Thiên Vương. Nổi bật chữ "già", như người già, già dặn, vẻ già, muốn làm anh cả v.v.
Thiên Tướng, Thiên Lương, Thiên Quý, đều chủ về cách quý bẩm sinh. Thiên Quý bẩm sinh được trời giúp, người giúp; Thiên Tướng cũng chủ về được trời giúp và người giúp mà quý, tương đối chăm chỉ; Thiên Lương dựa vào sự tự phấn đấu mà đến quyền quý, nhiều lo âu.
Thiên Lương, Thiên Tướng, Thiên Đồng đều chủ về phúc báo, Thiên Lương nghiêng về phúc ấm, thọ, hưởng tổ nghiệp và sự nghiệp có sẵn, trọng danh không trọng lợi, làm người có thể tự phấn đấu; Thiên Đồng nghiêng về hưởng thụ, làm người không biết tiến thủ, không trọng danh lợi; Thiên Tướng nghiêng về quyền quý, làm người trọng danh lợi.
Các sao Lương, Tham, Đồng, Cơ, Tử v.v., không phát ở tuổi trẻ, phải sau tuổi trung niên mới có thể phát đạt.
Thiên Lương là sao thanh quý, sống lâu, tư tưởng siêu thoát, thanh cao, có tố chất làm thầy, có thiện căn, khả năng dự cảm mạnh, có thể gặp hung hóa cát (trước phải gặp nạn mới có thể hóa cát), gặp Hình không có tai ương (nhưng hóa giải tai ương phải lấy điều kiện không gặp Lộc Tồn và Hóa Lộc), gặp Tứ Sát không có tranh chấp, Thái Tuế xung vẫn có phúc, Bạch Hổ lâm mà không có tai ương, Bệnh Phù, Quan Phù xâm phạm mà không có hại, Đại, Tiểu Hao gặp nhau thì việc làm không thành; Lục Thân hòa thuận; ở Mệnh cung hoặc Thiên Di cung chủ về sống lâu; gặp Tấu Thư có vinh dự bất ngờ, gặp Thanh Long phát động chủ về có tin vui văn thư. Trên đây cũng nên miếu vượng thêm Cát tinh mới luận, hãm địa thêm Sát tụ cũng chủ về có hung.
Thiên Lương là sao của thần minh, sự che chở của thần, tôn giáo. Cung vị mà Thiên Lương đóng vào, là phương vị tốt để bất ngờ cầu thần, đặc biệt là ở phương Khôn, Cấn, sự che chở của thần đặc biệt linh nghiệm. Người Thiên Lương tọa Mệnh, phần lớn có khả năng dự cảm cực mạnh, cung hãm càng ứng nghiệm; có duyên với tôn giáo, Ngũ Thuật, sau khi người đó tin vào tôn giáo, Ngũ Thuật, các mặt sẽ đều khởi sắc. Thiên Lương lại là sao y học, nghiêng về Đông y; còn Thiên Tướng thì nghiêng về Tây y.
▲ Dung mạo: Nhập Mệnh, lúc nhỏ mặt trắng vàng, lúc già tím vàng. Khuôn mặt dài vuông hoặc dài tròn, mũi thẳng, lông mày dài, phần lớn mắt to và tròn, nhân trung sâu dài, trán cao, gò má cao, môi mỏng, cằm hếch lên, lưng hơi còng, tóc ít và mềm, nam dễ bị hói đầu; miếu vượng tầm trung cao và vạm vỡ, hơi mập; hãm địa gầy cao; ở cung Tỵ thân hình tương đối dài, ở cung Ngọ tương đối thấp, mập, sau trung niên béo lên. Dung mạo dày dặn, thanh tú, cử chỉ, lời nói, hành động chính trực, trang trọng, già dặn, vẻ già, có phong thái của anh cả, danh sĩ hoặc tiên phong đạo cốt. Gặp Tả Hữu, gò má hơi rộng.
▲ Tính tình, tài năng: Cá tính cực đoan, nóng nảy, không ổn định, lúc siêng lúc lười, bề ngoài ôn hòa, dày dặn, sảng khoái, nhiệt tình, ý chí kiên định, cương nghị, quyết đoán, quang minh chính đại, trong lòng có gì không giấu được, gan to, tâm cẩn thận, tư tưởng thanh cao, chính thống, nguyên tắc mạnh mẽ, ngay thẳng, công bằng, vô tư, không cúi đầu trước thế lực ác; thích lo chuyện bao đồng, thích thể hiện, thích bênh vực kẻ yếu, nói thẳng không kiêng nể, do đó chiêu hiểu lầm và oán hận; lòng dạ lương thiện, từ bi, nhiệt tình làm việc công ích, giúp đỡ người nghèo, giúp đỡ người yếu, thích quan tâm, chăm sóc người khác, thường giải quyết khó khăn, rắc rối cho người khác, thích ôm lấy trách nhiệm của người khác vào mình, và vì thế mà bị tình (bao gồm tình bạn, tình thân, tình yêu) làm khổ, nhiều vất vả và nhận được sự tôn trọng của mọi người, đôi khi vì đã hứa với người khác mà không làm được nên bị hiểu lầm là lừa dối; hơi cô độc, tự phụ, lười biếng, cố chấp, chủ quan, không hòa đồng, không dễ tiếp nhận ý kiến của người khác (hãm địa càng rõ ràng, bướng bỉnh, độc đoán, không phân biệt thiện ác, đúng sai, không nói lý lẽ, không nghe lời họ thì đối đầu với bạn, khó hòa hợp với người khác; nhưng chỉ cần bạn nể mặt họ một chút, coi mình là em út thì dễ nói chuyện hơn), có lỗi cũng không dễ dàng thừa nhận; khẩu tài tốt, giỏi ăn nói, thích thảo luận và tranh luận bằng miệng (hãm địa thì lắm lời, khoác lác, nói xấu người khác, dễ bị người khác ghét); già dặn, từng trải, có vẻ của một người lớn, một ông chủ, cũng muốn làm ông chủ, khéo léo, khôn ngoan (hãm địa thì gian trá), thích sĩ diện, nhiều kiêu ngạo, trọng danh tiếng, ham muốn quyền lực mạnh mẽ, hiếu thắng, thích cạnh tranh, thích đầu cơ trục lợi, nhưng lại thanh cao mà không trọng tiền bạc, sẽ coi nhẹ tiền bạc, tiêu tiền phung phí; thông minh, trí tuệ, có lý trí, phản ứng nhanh, có mưu lược, khả năng thích ứng mạnh, khả năng phân tích mạnh, gặp việc quyết đoán, làm việc có thứ tự, việc gì cũng thích tự mình làm, tầm nhìn xa, tinh minh, có năng lực, được người khác coi trọng, dũng cảm nhận trọng trách và chịu trách nhiệm, giỏi binh pháp, có tài của tướng soái, có khả năng chỉ huy (nhưng tương đối độc đoán), là người có thể ngồi một chỗ mà chỉ huy người khác xoay quanh mình, tức là có thể trấn giữ mà chỉ huy người khác, là người có tính chất thực nghiệp, thích hợp với công việc có thanh danh, không thích hợp với công việc kinh doanh và tài chính. Cả đời bôn ba đây đó, không được an nhàn, giao du rộng, biết thấu hiểu lòng người, quan hệ tốt (khiến người khác nể phục, nhưng người tốt thấy thì thích, tiểu nhân thấy thì ghét).
Thiên Lương nhập Mệnh, rất coi trọng giá trị của sự sống, có thể tích cực tìm kiếm phương pháp sinh tồn, do đó gần gũi với y học (Đông y, thuốc Đông y), Ngũ Thuật, thích nhàn hạ. Ở đất vượng chủ về cơ thể khỏe mạnh, sống lâu, khi đến thời khắc sinh tử khả năng tự bảo vệ rất mạnh; lại chủ về được cha mẹ che chở, dễ có tổ sản, hoặc có thể kế thừa “phúc ấm” của người khác, có cơ hội thừa kế hoặc hưởng sự nghiệp có sẵn, danh lợi có sẵn, công việc có sẵn của người khác, hoặc làm đại lý cho các sản phẩm nổi tiếng. Hãm địa rất sợ chết, càng chú trọng dưỡng sinh. Ở cung Thiên Di miếu vượng cũng sống lâu.
Người sinh vào buổi sáng, mùa xuân thì tốt hơn, người sinh vào mùa thu thì kém hơn một chút, người sinh vào mùa đông, mùa hè thì không tốt.
▲ Phối hợp thích, kỵ: Thiên Lương tọa Mệnh, thích nhất nhập miếu và đồng cung với Khoa, Quyền, cực tốt, nếu lại thêm Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt, Lộc Tồn, cả đời tiền tài bình ổn, có phúc, có thọ, đại phú đại quý, có thể ở vị trí cấp bộ, cấp tỉnh, ở cung Ngọ càng tốt hơn.
Thiên Lương là sao thanh cao, liêm khiết, mang ý nghĩa cô độc, hình khắc, không coi trọng tiền bạc, gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc đồng cung hoặc hội chiếu, dù có tài kinh doanh và phát tài bất ngờ, nhưng không phù hợp với khí chất thanh cao, tăng thêm cô độc, kỵ, lo nghĩ, phí thần và biến động, trắc trở, ích kỷ, giả dối; thêm Sát, Hình, Kỵ, càng tăng tính cô độc, kỵ, chủ về cô độc, hình khắc, giả dối, gian trá, quan hệ kém, vì tiền mà có sự nguy hiểm, trắc trở, phá bại. Lúc này không nên kinh doanh nhất, chỉ nên tranh thủ học lên cao để làm công chức. Thiên Lương Hóa Khoa và thêm Lục Cát tinh cũng như Tam phương hội Khoa, Quyền, Lộc đều chủ về tăng tính hòa hợp, có thể kiềm chế tính cô độc, kỵ, quan hệ trở nên tốt, cuộc đời gặp nhiều may mắn, có địa vị, quyền lực. Hội Thái Dương miếu vượng có thể hóa giải sự cô độc, hình khắc của Thiên Lương. Nên làm các công việc tư pháp, kỷ luật, kỹ nghệ, học thuật hoặc phúc lợi xã hội, y học, tổ chức từ thiện, bác sĩ, giáo viên, bảo hiểm v.v., các công việc giúp người khác giải quyết phiền muộn, khó khăn, có thể hóa giải tính cô độc, hình khắc của nó.
Thiên Lương thích thêm Tả, Hữu, Xương, Khúc, nếu miếu vượng thì là “Xương Khúc Tả Hữu gia hội, xuất tướng nhập tướng”, ý là trước làm võ quan sau chuyển sang văn quan, nghĩa rộng là lúc trẻ làm các công việc có tính động lớn, kiếm tiền trong sự bận rộn, sau trung niên chuyển sang công việc tương đối ổn định. Cũng chủ về rất có lợi cho việc học, thi cử.
◇ “Xương Khúc ngộ Lương tinh, vị chí đài cương (cấp thị, tỉnh)”: Hai sao ở cung Ngọ an Mệnh, cách thượng đẳng, cung Dần kém hơn; cũng nên Thiên Lương miếu vượng, không có Sát xung phá. Hoặc Thiên Lương ở Ngọ an Mệnh, Văn Khúc ở cung Tý củng xung, chức quan cũng cao.
Thiên Lương không thích gặp Tứ Sát, sẽ tăng tính cô độc, kỵ, bề ngoài chính trực, bên trong gian trá, thỉnh thoảng có hành vi lừa gạt, nhỏ thì lừa tiền bạc, lớn thì trộm quyền đoạt nước, lúc này nếu được Xương Khúc thêm vào thì có thể điều hòa. Kỵ nhất Đà La đồng cung, tính chất chính trực và tinh minh đều mất. Miếu vượng thêm Sát cũng là cách cục hạ đẳng, thấy Dương Đà, có thói quen xấu, đầu cơ cờ bạc, ngủ muộn về muộn. Hãm địa thêm Sát, có mầm mà không nở hoa, cô độc, nghèo hèn, đầu cơ trục lợi, lao động mà không có kết quả, và là kẻ thích cờ bạc, ham sắc; thêm Dương Đà, làm tổn hại phong tục, đổ máu, hình thương; Đà La đồng cung, đề phòng tai họa tù tội; Tứ Sát gặp lại, cô độc, nghèo hèn, hoặc có tai họa hình ngục, nặng thì tàn tật, chết yểu; Không Kiếp đồng cung hoặc hội chiếu hoặc kẹp, phá bại, nghèo khổ.
Thiên Lương gặp Không Kiếp, phóng túng, không kiềm chế, chán đời, thoát tục, phá tài, bại gia, sự nghiệp khó như ý, lại thêm Thiên Cơ, chỉ thích hợp làm tăng ni, đạo sĩ.
◇ “Thiên Lương ngộ Mã, phiêu đãng vô nghi, nữ mệnh tiện thả dâm”: Thiên Lương ở cung hãm và không có Cát tinh thêm Sát tinh mới luận như vậy, thấy Không Kiếp, Hỏa Linh mới là phiêu dạt, vô căn cứ, không giữ một nghề, và không làm công việc chính đáng, ham chơi, ghét làm việc; vượng, Cát vẫn có giàu sang, nhưng vẫn chủ về phát triển nơi xa quê. Thiên Lương ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi thủ Mệnh, và Thiên Mã thủ chiếu, cả đời môi trường nhiều thay đổi, rời xa quê hương phát triển, tương đối bôn ba, thường xuyên đổi nghề; làm người hoạt bát, hướng ngoại, nhiệt tình, sảng khoái, kết bạn nhiều, duyên với người khác phái khá tốt; thêm Sát, chết nơi xứ lạ.
Thiên Lương và Thái Âm phân thủ Mệnh Thân, hãm địa, cả đời nhiều biến động, là khách phiêu bạt, nên phát triển ở nơi khác, ở nhà không yên, đặc biệt là Thiên Lương tọa Mệnh ở cung Dậu, Thái Âm tọa Thân cung ở Tỵ, là nghiêm trọng nhất. Thêm Thiên Mã càng là cả đời di chuyển đặc biệt nhiều. Nữ mệnh nhiều trắc trở tình cảm, hoặc yêu, sống chung với người đã có chồng; hãm địa càng dâm đãng, nghèo hèn, khắc chồng, khắc con.
Thiên Lương sợ hội Tham Lang, nảy lòng tham, làm loạn xã hội, gia đình, làm tổn hại luân thường đạo lý. Lương và Tham phân thủ Mệnh Thân cũng kỵ, làm việc không tuân theo phép tắc, không có đạo đức, luân lý, loạn luân, chết yểu.
Thiên Lương sợ hội Cự Môn, gây chuyện thị phi. Thiên Lương và Cự Môn phân thủ Thân Mệnh, hãm địa cả đời lao lực, hôn nhân trắc trở, tình cảm nhiều phiền muộn; làm người không màng luân thường đạo lý, không tôn trọng phong tục, hoặc lấy người thân làm vợ/chồng.
Thiên Lương gặp Thiên Hình, tính nguyên tắc càng mạnh, lại thêm Kình Dương, như Bao Công sắt mặt vô tư, không sợ quyền quý, đề cao pháp luật; nhưng tính cách càng kiêu ngạo, cô độc, kỵ. Thiên Lương, Dương, Đà, Thiên Hình ba sao tụ hội, cả đời sẽ có một lần nguy hiểm cận kề cái chết.
▲ Gặp Hóa Lộc, mâu thuẫn với bản chất thanh quý của Thiên Lương, sẽ thay đổi bản chất mạnh mẽ, nguyên tắc và coi nhẹ tiền bạc của nó, dễ chạy theo dòng chảy, theo đuổi tiền bạc, cũng dễ có tiền, vì tiền hoặc đào hoa mà mang đến thị phi, phiền muộn tinh thần, trắc trở, giảm khả năng giải tai, bề ngoài hào nhoáng mà bên trong trống rỗng, coi người khác là khán giả, tự mình làm nhân vật chính; dễ bị người khác loại trừ, chỉ trích, cung Tỵ, Ngọ hung nhất; đặc biệt không nên làm thương nhân, nhất định phải trải qua gian khổ mới có tiền; vì giải quyết phiền muộn, khó khăn là bản tính của Thiên Lương, tương đối thích hợp làm bác sĩ, kế toán và nhân viên từ thiện. Vẫn có tính chất gặp hung hóa cát, thêm phúc thêm thọ, không làm mà có ăn, miếu vượng thì giỏi ăn nói, địa vị cao, nhưng tinh thần có phiền muộn; thất hãm càng dễ chạy theo dòng chảy, dễ có chuyện nguy hiểm. Nên chú ý cung Nô Bộc, nếu hung thì phiền muộn tương đối lớn, tôi tớ lừa chủ, cấp dưới làm loạn.
▲ Gặp Hóa Quyền, có thể tăng cường bản chất thanh quý, tăng khả năng giải tai và làm việc, nâng cao địa vị, có thể sai khiến người khác làm việc cho mình. Miếu vượng có cái nhìn độc đáo, giỏi ăn nói mà khiến người khác nể phục, có phong độ danh sĩ, có thể nắm giữ chức trách hình pháp, kỷ luật, nắm quyền. Hãm địa thì thích bênh vực kẻ yếu, lo chuyện bao đồng, nhiều lần bị oán trách. Thấy Hỏa Linh, dễ dùng mưu mô, quyền thuật.
▲ Hóa Khoa, điềm tốt, phù hợp với bản chất, tăng cường trí tuệ, khả năng quan sát và khả năng giải ách, có lợi cho danh tiếng và thi cử, nhưng không có nhiều tiền tài. Làm người dễ tính, nhưng cô độc, không hòa đồng. Người Thiên Lương có tài năng về lý thuyết và kỹ thuật, không ngừng học hỏi kiến thức mới, do đó thích hợp hơn với việc nghiên cứu lịch sử, triết học, y học, Ngũ Thuật, gặp Hóa Khoa thì càng có sáng kiến, và có hiệu quả, thêm vào lòng dạ lương thiện, do đó danh tiếng tốt, quan hệ tốt. Miếu vượng, có thể phát triển ổn định, danh tiếng ngày càng cao, đường quan vận hanh thông; hãm địa thì hơi kém, chỉ có thể làm vẻ bề ngoài.
▲ Nữ mệnh Thiên Lương, dung mạo đoan chính, có tư duy và chí khí của đàn ông, giàu tình cảm, thích làm chị cả, nhiệt tình chăm sóc người khác, trong tập thể là một nhân vật trụ cột. Làm người thông minh, có năng lực, lanh lợi, thẳng thắn, trang trọng. Nhập miếu chủ về quý, vượng phu ích tử. Hãm địa, chủ về chiêu thị phi, không đoan trang, dâm đãng và nghèo hèn. Gặp Tử Phủ, Xương Khúc, Tả Hữu củng phù, có phong cáo. Thêm Tứ Sát, Hóa Kỵ, phù phiếm, nghèo hèn, khắc chồng, khắc con. Cung Tỵ, Hợi thủ Mệnh, chủ về đa tình, dâm đãng, nghèo hèn. Cung Thân, Hợi thủ Mệnh, Thái Âm ở Dần, Tỵ xung chiếu, cũng chủ về dâm, nghèo. Ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi thấy Thiên Mã, nhiều dâm đãng.
△ Cung Tý, Ngọ nhập miếu, người sinh năm Đinh, Kỷ, Quý phúc dày, cách tài quan. Vóc dáng không cao, hơi mập. Sự nghiệp nên làm công chức, chính trị, giáo dục, luật sư, bác sĩ, đại biểu dân ý, nghề tự do. Không nên kinh doanh.
Chủ về thông minh, ngay thẳng, trung hậu, từ bi, thích nhàn hạ, có danh vọng, nhưng nhiều lần nói thẳng không kiêng nể, bị người khác hiểu lầm, hoặc bị tiểu nhân hãm hại. Hôn nhân không thuận, dễ xảy ra thay đổi tình cảm, thêm sao Đào hoa càng như vậy. Phải thêm Lục Cát tinh, mới chủ về sự nghiệp thuận lợi, giàu sang và có địa vị xã hội. Thêm Tứ Sát, thường có tranh chấp, lại thêm Lộc Tồn thì vì tiền mà nảy sinh tranh chấp. Cung Tý, vì cung đối Thái Dương miếu vượng mà giải được tính cô độc, kỵ của Thiên Lương, tương đối hòa hợp, làm người trầm ổn, hòa nhã, hàm súc, không kiêu ngạo, không tự ti, quan hệ tốt, cuộc đời gặp nhiều may mắn hơn. Cung Ngọ, vì Thái Âm, Thái Dương hội đều thất hãm mà dẫn đến cô độc, hình khắc, kiêu ngạo, tự phụ, không hòa đồng, nhiều lần bị oán trách, cuộc đời nhiều trắc trở. Người sinh năm Đinh là cách thượng đẳng, người sinh năm Kỷ là cách thứ đẳng, người sinh năm Quý chỉ chủ về giàu mà không quý, thêm Cát tinh, giàu sang hiển vinh.
Thiên Lương ở cung Tý thủ Mệnh, Thái Dương ở Ngọ, thêm Lộc Tồn (Hóa Lộc cũng được) Xương Khúc, là cách Lương Dương Xương Lộc, là “Lô truyền đệ nhất danh”, ý là đường học hành và thi cử rất tốt, đỗ đầu, không bị phá cách, có Cát tinh có thể một lần thành danh, lúc trẻ đắc chí, làm quan thanh quý, danh lợi song toàn. Thiên Lương thủ Mệnh, Tam phương Tứ chính gặp Thái Dương, Xương Khúc miếu vượng cũng là.
Thiên Lương ở Ngọ thủ Mệnh, cung Dần Cơ Âm, cung Tuất Thiên Đồng, không có Sát là cách Thọ tinh nhập miếu, chủ về chức quan thanh hiển, công bằng, liêm khiết, người sinh năm Đinh, Kỷ, Quý hợp cách. Nên làm công chức. Gặp Cát tinh phúc thọ song toàn, nếu cung Thân có Thiên Đồng, chủ về cả đời không sợ nguy hiểm. Thích nhất gặp Xương Khúc; hội Tả Hữu, Xương Khúc là xuất tướng nhập tướng, phần lớn là quan chức ủy viên kỷ luật, giám sát, pháp chế; thêm Xương Khúc, Lộc Tồn (Hóa Lộc cũng được), cũng là “Lô truyền đệ nhất danh”. Kỵ nhất Thái Dương ở cung Tý Hóa Kỵ đến xung, không thấy Cát tinh, phần lớn chủ về lao lực, nghèo khó, bận rộn.
△ Cung Sửu, Mùi vượng địa, người sinh năm Nhâm, Ất, là cách tài quan.
Thiên Lương ở Sửu Mùi, làm người trầm ổn, làm việc tỉ mỉ, từ thiện, đại lượng, nguyên tắc mạnh mẽ, thanh liêm, vô tư, nhưng dễ bất hòa với người khác, và nhiều động荡. Thêm Cát tinh, địa vị cao, được người khác kính trọng, phúc thọ. Thấy Tứ Sát, hơi thể hiện tài năng đã kết oán với người khác. Gặp Hóa Lộc, cách cục tương đối tốt, tài quan đều lợi, danh lợi song toàn, cung Sửu tốt, cung Mùi kém. Gặp Hóa Quyền, cung đối Thiên Cơ Hóa Lộc, cung Tài Thái Âm Hóa Kỵ, có lợi cho sự nghiệp, bất lợi cho tiền bạc, vẫn có thành tựu và địa vị.
Cung Sửu, cương nhu kết hợp, lão luyện, từng trải, có thể công có thể thủ, thông minh, hùng biện, thị phi miệng lưỡi nhiều; hội Cát tinh, cả đời giàu sang, phúc thọ; Nhật Nguyệt tịnh minh, không thêm Sát cũng có thể giàu sang; Xương Khúc đồng cung ra đời vinh quang; thêm Tả Hữu, Xương Khúc, xuất tướng nhập tướng.
◇ Cách Nhật Nguyệt tịnh minh: “Nhật Nguyệt tịnh minh, tá cửu trùng ư Nghiêu điện”, Thiên Lương ở Sửu tọa Mệnh, Thái Dương ở Tỵ, Thái Âm ở Dậu, là Nhật Nguyệt hội hợp, là tịnh minh, là cách giàu sang; người sinh năm Ất, Tân hợp cách, người sinh năm Bính chủ về quý, người sinh năm Đinh chủ về giàu. Thêm Tứ Sát, Không Kiếp, Kỵ thì phá cách, bình thường. “Nhật Tỵ Nguyệt Dậu, Sửu cung an Mệnh, bộ thiềm cung”, cách này rất có lợi cho thi cử, ý là đỗ cao, học hành rất tốt, là học sinh giỏi, có thể danh lợi song toàn. Người sinh năm Giáp gọi là cách Tọa Quý Hướng Quý, Liêm Trinh Hóa Lộc ở Tý, Lộc Tồn ở Dần kẹp Mệnh, cũng là cách rất cao, nhất định giàu sang, toàn vẹn; Đà La đồng cung, với bất kỳ việc gì cũng nghiêm túc truy tận gốc.
Cung Mùi, xuất thân thấp kém, nhưng cuối cùng có thể thành công, có tình người, lão luyện, từng trải, giàu có và sống lâu; thêm Cát tinh cả đời phúc thọ; thêm Tả Hữu, Xương Khúc, xuất tướng nhập tướng; thêm Xương Khúc chủ về vinh quang, chức vụ cao, có thể một lần thành danh.
△ Cung Dần nhập miếu, cung Thân hãm địa, đồng cung với Thiên Đồng, người sinh năm Đinh, Kỷ, Giáp, Canh là cách tài quan.
◇ “Lương Đồng Cơ Nguyệt Dần Thân vị, nhất sinh lợi nghiệp thả thông minh”: Lương Đồng thủ Mệnh, Tam phương Cơ Âm củng chiếu, là cách Cơ Nguyệt Đồng Lương, không có Sát có Cát, là mệnh của quan lại, hoặc chủ về làm kỹ nghệ mà thành danh, kiêm nhiều chức vụ, cũng chủ về sống lâu, danh tiếng tốt, nhưng có ý nghĩa phụ tá, chỉ thích hợp làm phó, không thể làm lãnh đạo chính, chủ quản. Hội Cát tinh, danh lợi song toàn. Dần tốt hơn Thân. Cung Dần, cung Tài Phúc Âm Dương đều ở đất vượng, nếu Tam phương hội Cát, không có Sát xung phá, hạn vận lại tốt, thì chức quan cao, vị trí hiển hách, có thể đạt đến cấp bộ, cấp tỉnh. Cách Cơ Nguyệt Đồng Lương này là tốt nhất, ít tâm cơ, so đo. Không có Cát tinh có Sát tinh, nhiều bôn ba, không ổn định, danh hão, lợi hão, bề ngoài chính trực, bên trong gian trá.
△ Cung Mão nhập miếu, cung Dậu đắc địa, đồng cung với Thái Dương, người sinh năm Ất, Nhâm, Tân là cách tài quan.
◇ “Lương cư Dậu, Âm cư Tỵ, khước tác phiêu bồng chi khách”: Tức là Thiên Lương ở cung Dậu thủ Mệnh, Thái Âm ở cung Tỵ thủ cung Tài Bạch, hoặc hai sao phân thủ Mệnh Thân, đều thuộc hãm địa, do đó nghèo hèn, phiêu bạt, rời xa quê hương; thêm Cát tinh ở ngoài có thể giàu sang, thêm Sát thì vất vả mà không thành công.
△ Cung Thìn, Tuất nhập miếu, đồng cung với Thiên Cơ, người sinh năm Đinh, Kỷ, Nhâm, Canh là cách tài quan. Xem thêm Thiên Cơ cung Thìn, Tuất.
Lương Cơ đồng cung, là cách quân sư, giỏi đàm luận binh pháp, là nhân tài về hoạch định, cố vấn, thư ký.
△ Cung Tỵ, Hợi hãm địa, người sinh năm Ất, Bính, Mậu, Nhâm, nhiều Cát tinh có thể giàu sang, nhưng phải nỗ lực, chăm chỉ mới có thành công. Làm người tính tình thanh cao, nhiệt tình quá mức, quái dị, hiếu thắng, thích thể hiện; hào phóng, thiếu quan niệm quản lý tài chính và tiền bạc, dù nghèo khổ cũng coi tiền bạc như rác, thích cuộc sống nhàn nhã; thường tự đa tình, phục vụ người khác, nhưng lại thường làm mà không được ơn, bị người khác hiểu lầm. Phần lớn có tính chất phù phiếm, bôn ba không ổn định. Ít Cát tinh, không có thành tựu, lao lực, nghèo hèn; nam thì nhiều lang thang, không có nghề nghiệp cố định; nữ thì nhiều dâm đãng, tư thông với người khác, hoặc làm vợ lẽ, vợ hai, hoặc nghèo hèn. Thêm Cát tinh, giảm tính phù phiếm, nếu cung Sự nghiệp kém, thì nhàn rỗi mà không thiếu ăn thiếu mặc. Bản thân Hóa Lộc không bằng Tam phương hội Lộc. Thêm Sát, Hình, Kỵ, càng phù phiếm, không làm việc chính đáng, nghèo khổ, hèn mọn, cả đời nhiều tai ương và nguy hiểm. Thấy Dương Đà, làm tổn hại phong tục, hoặc có tà ác, dễ có kiện tụng, hình phạt. Thiên Lương Hóa Lộc, nhất định hội Lộc Tồn, kiếm tiền bằng dịch vụ, thỏa mãn với hiện trạng, không có Sát mà ít phiền muộn, phá tổ nghiệp, và cung Tật Ách Vũ Khúc Hóa Kỵ, cơ thể nhiều thương tật, bệnh tật.
Cung Tỵ, phù phiếm hơn cung Hợi, rời xa quê hương, biến động không ngừng, nhiều nhiệm vụ đặc biệt, như gián điệp, tình báo, hoặc kiêm nhiều chức vụ. Đồng cung với Lộc Tồn lại có Sát, Hình xung phá, thì vào năm Dậu hoặc Sửu đề phòng tai họa tù tội.
Cung Hợi, ít nói, tài năng cao mà ít người đồng điệu, cô độc, tự phụ, phóng khoáng, phù phiếm, không câu nệ đạo đức, luân thường thế tục, dễ loạn luân.
Thiên Lương ở Tỵ, Hợi thủ Mệnh, Thái Âm ở cung Dần thì chủ về dâm đãng (có Sát mới luận). Nếu đồng cung với Thiên Mã, hoặc gặp Hỏa, Đà, Không, Kiếp, dễ thường xuyên phiêu dạt, bôn ba bên ngoài.
▲ Sự nghiệp của Thiên Lương, có thể làm các công việc từ thiện, đại lý, dịch vụ, giáo dục, phúc lợi, y tế, nông nghiệp, kiến trúc, làm vườn, pháp luật, công việc nội chính, nhân viên quản lý, kỹ thuật viên, nghệ thuật, tôn giáo, Ngũ Thuật. Bất lợi cho kinh doanh.
Thiên Lương trong người, là cán bộ cao cấp, lãnh đạo, bác sĩ Đông y có giấy phép, nhân viên công ích, nhà lập pháp, người theo tôn giáo, Ngũ Thuật, thầy phong thủy, địa lý. Trong cơ thể là tim, lá lách, dạ dày, gò má đến lông mày (tốt thì khoảng cách rộng). Trong sự việc là công việc từ thiện, phúc lợi, tôn giáo, giáo dục, triết học, nói khoác, kỷ luật, giám sát, quan tâm người khác, hòa giải, y tế, công việc tôn giáo. Trong địa lý là phương Mùi Tây Nam, là nơi tôn giáo, tổ chức từ thiện, phòng khám Đông y, biệt thự, ruộng đất, sườn đất, đất hơi cao, cồn cát, công viên, nông thôn, đường cong, nhà cổ kính hoặc nhà cô lập. Trong vật thể là gỗ, cột, xà, quan tài, thuốc, dụng cụ y tế, đồ dùng tôn giáo, đồ cổ, đồ đánh bạc, đồ bói toán, đồ vệ sinh. Trong thời tiết là buổi sáng mây mù bao phủ, sau đó trời cao, khí trong lành. Trong số học là năm, mười.
Thiên Lương nhập nam mệnh cát hung quyết:
Thiên Lương hậu trọng hữu phúc thọ,
Sinh lai vô tai văn chương hảo;
Nhược hội Cự Môn lao thả bần,
Thiên Cơ tương phùng hỉ tăng đạo.
Tả Hữu Xương Khúc hội Thiên Lương,
Quản giáo phú quý liệt triều cương;
Cơ Nhật Văn Xương Tả Hữu đồng,
Nhập miếu quan vị chí Tam Công.
Thiên Lương Hỏa Linh lạc hãm cung,
Dương Đà Thất Sát điệt cánh hung,
Cô hình đới tật phá gia tài,
Không môn kỹ nghệ khả doanh công.
Dịch nghĩa:
Thiên Lương dày dặn có phúc thọ,
Sinh ra không tai họa, văn chương hay;
Nếu hội Cự Môn thì vất vả lại nghèo,
Gặp Thiên Cơ thì thích làm tăng ni, đạo sĩ.
Tả Hữu, Xương Khúc hội Thiên Lương,
Đảm bảo giàu sang, quý hiển trong triều;
Cơ, Nhật, Văn Xương, Tả Hữu đồng,
Nhập miếu chức quan đến Tam Công.
Thiên Lương, Hỏa Linh rơi vào cung hãm,
Dương Đà, Thất Sát lặp lại càng hung,
Cô độc, hình khắc, mang tật, phá gia tài,
Cửa Phật, nghề kỹ thuật có thể làm.
Thiên Lương nhập nữ mệnh cát hung quyết:
Nữ mệnh Thiên Lương miếu vượng quý,
Vượng phu ích tử hữu ấm thọ;
Thất hãm gia Sát vi bất lương,
Thương phu khắc tử thủ lãnh phòng.
Dịch nghĩa:
Mệnh phụ nữ Thiên Lương miếu vượng thì quý,
Vượng phu ích tử, có phúc ấm, thọ;
Thất hãm thêm Sát thì không tốt,
Khắc chồng, khắc con, giữ phòng lạnh.

👉 Nhắn tin cho page hoặc zalo 0359.202.748 để đặt lịch xem luận giải lá số Tử Vi chi tiết nhé!

Thiên Đồng - 𝐍𝐠𝐮̛𝐨̛̀𝐢 đ𝐨̣𝐜 𝐬𝐨̂́ 𝐦𝐞̣̂𝐧𝐡 🧧

Address

Ba Đình
Hanoi
100000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tử Vi Thiên Đồng - Luận Giải Tử Vi Trọn Đời posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category