16/06/2020
🔥 VIÊM QUANH KHỚP VAI THỂ THÔNG THƯỜNG 🔥
Viêm quanh khớp vai thông thường (periartheritis of the shoulder), là bệnh lý đặc trưng bởi đau khớp vai, không kèm theo hạn chế vận động khớp vai hoặc chỉ hạn chế vận động do đau. Nguyên nhân do thoái hóa gân, viêm các tổ chức phần mềm quanh khớp (gân cơ, dây chằng, bao hoạt dịch) không có tổn thương sụn và xương khớp vai, không do chấn thương mới khớp vai và không do vi khuẩn. Viêm quanh khớp vai thông thường là thể hay gặp nhất của hội chứng viêm quanh khớp vai, chiếm khoảng 90% số bệnh nhân bị viêm quanh khớp vai.
❌ Nguyên nhân
+ Thoái hóa gân, viêm gân chóp xoay, có thể rách, đứt gân chóp xoay không hoàn toàn hoặc hoàn toàn.
+ Viêm bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai
+ Viêm bao hoạt dịch và viêm gân dài cơ nhị đầu cánh tay
❌ Yếu tố nguy cơ
+ Tuổi: hay gặp ở người > 40 tuổi
+ Giới: gặp ở nam nhiều hơn nữ
+ Nghề nghiệp: người lao động mà động tác thường phải giơ tay cao hơn 90o, như thợ trát trần nhà, thợ quét sơn, công nhân sửa máy khi máy ở vị trí cao hơn vai, có thói quen chống tỳ khủy tay lên bàn ... Các công việc gây rung lắc khớp vai kéo dài như lái xe đường dài, lái máy xúc, máy ủi, công nhân xây dựng phải sử dụng máy đầm nhiều. Các động tác gây căng dãn gân cơ khớp vai lặp đi lặp lại kéo dài như chơi tennis, chơi gol, ném lao, xách các vật nặng…
+ Tiền sử có chấn thương vùng khớp vai; gãy xương cánh tay, xương đòn, xương bả vai.
+ Tiền sử phẫu thuật vùng khớp vai, các xương liên quan đến khớp vai như xương cánh tay, xương đòn, xương bả vai.
+ Những người phải bất động khớp vai một thời gian dài như sau đột quỵ, giai đoạn phục hồi sau các bệnh nặng, bất động do gãy xương cánh tay…
+ Bệnh mạn tính như viêm khớp dạng thấp, đái tháo đường…
📌 Triệu chứng lâm sàng
1️⃣ Tiền sử
+ Tuổi: thường gặp ở tuổi 40-60
+ Giới: nam thường gặp nhiều hơn nữ.
+ Nghề nghiệp: công việc hàng ngày phải thường xuyên lặp lại các động tác mà bàn tay phải với cao hơn mỏm cùng vai, rung lắc nhiều cánh tay và vai, các thói quen lao động và sinh hoạt gây chèn ép khoang cùng-quạ
+ Tiền sử chấn thương khớp vai
+ Tiền sử phải bất động khớp vai thời gian dài.
+ Tiền sử bị gãy xương (x.cánh tay, x.đòn, x.bả vai)
+ Bệnh mạn tính: đái tháo đường, viêm khớp dạng thấp, cường giáp, đột quỵ não, cơn đau thắt ngực, các bệnh của phổi và lồng ngực.
2️⃣ Triệu chứng cơ năng
+ Không sốt, toàn thân bình thường
+ Đau khớp vai: đây là triệu chứng nổi bật
- Khởi phát đau: thường từ từ và tăng dần
- Tính chất đau: đau cả khi nghỉ, thường đau tăng về đêm và đau tăng khi vận động cánh tay. Khi vận động cánh tay thấy đau ở khớp vai tăng, nhất là tới gần cuối tầm vận động. Đau thường lan tỏa, bệnh nhân khó xác định chính xác điểm đau. Bệnh nhân có thể có cơn đau dữ dội, cấp tính ở khớp vai khiến bệnh nhân không dám cử động khớp vai, có thể thấy dưới mỏm cùng vai nề, ấn rất đau, da căng bóng nhưng không đỏ.
- Tiến triển của đau: Thông thường đau khởi đầu từ từ và tăng dần tới một vài tháng. Nếu không được điều trị, đau thường giảm dần sau 4-6 tháng, có thể kéo dài tới 1 năm, có trường hợp tới hai năm. Trường hợp bệnh tiến triển nặng thì đau thường nặng và kéo dài. Nếu đứt hoàn toàn gân chóp xoay, bệnh nhân có triệu chứng giả liệt cánh tay, nếu để kéo dài không điều trị có thể xuất hiện teo cơ vùng vai và cánh tay.
3️⃣ Triệu chứng thực thể
Nhìn khớp vai gần như bình thường, không có sưng, nóng, đỏ. Nếu thời gian kéo dài, có thể thấy teo cơ vùng khớp vai và cánh tay. Nếu có cơn đau khớp vai cấp do viêm bao hoạt dịch, có thể thấy vùng dưới mỏm cùng vai nề, da căng bóng nhưng màu sắc da bình thường.
Thăm khám: có 7 điểm đau ở các vị trí tương ứng với vị trí tổn thương
📌 Triệu chứng cận lâm sàng
1️⃣ Xét nghiệm máu
Xét nghiệm huyết học và sinh hóa máu bình thường, số lượng bạch cầu không tăng.
2️⃣ Siêu âm khớp vai
Siêu âm khớp vai là phương tiện chẩn đoán hình ảnh không xâm nhập rất có giá trị trong phát hiện các tổn thương ở khớp vai. Có thể làm siêu âm nhiều lần để đánh giá tiến triển của tổn thương. Trong trường hợp tổn thương chỉ ở mức độ nhẹ, hình ảnh siêu âm khớp vai có thể bình thường.
3️⃣ X-quang khớp vai
Phim chụp khớp vai trong viêm khớp vai thể thông thường không có tổn thương xương và khớp vai. Một số trường hợp có thể thấy hình ảnh bào mòn mấu động lớn (hình ảnh gián tiếp của thoái hóa do thiểu dưỡng gân cơ trên g*i), hoặc lắng đọng calci ở gân cơ trên g*i.
Chụp X-quang khớp vai thông thường để loại trừ các bệnh lý có tổn thương đầu xương, sụn khớp, gãy xương, các ổ di căn lên khớp vai.
4️⃣ Chụp cộng hưởng từ (MRI)
Chụp MRI cho phép chẩn đoán chính xác các tổn thương phần mềm khớp vai. Có thể thấy thoái hóa và viêm phù nề trong gân cơ, rách gân không hoàn toàn hoặc hoàn toàn, lắng đọng calci trong gân cơ, viêm dày bao hoạt dịch, tràn dịch trong bao hoạt dịch, viêm dày bao khớp và tràn dịch trong khớp.
📌 Chẩn đoán
Chẩn đoán viêm quanh khớp vai thể đơn thuần chủ yếu dựa vào lâm sàng và chụp x-quang thường để loại trừ các tổn thương sụn và xương khớp vai. Chẩn đoán định khu mô tổn thương bằng siêu âm hoặc phim chụp cộng hưởng từ.
📌 Điều trị
Điều trị viêm quanh khớp vai thể đơn thuần chủ yếu là điều trị nội khoa, chỉ điều trị can thiệp qua nội soi khi có rách hoàn toàn gân cơ chóp xoay. Điều trị sớm có tiên lượng phục hồi tốt hơn điều trị muộn.
5.1 Điều trị nội khoa
5.1.1. Mục tiêu
+ Giảm đau
+ Chống viêm
+ Duy trì tầm vận động của khớp vai
5.1.2. Chế độ sinh hoạt và vận động
+ Bất động tương đối khớp vai, không bất động tuyệt đối. Bệnh nhân vẫn họat động và sinh hoạt bình thường với khớp vai bên đau, nhưng không được làm các động tác vận động đột ngột, dừng động tác ở tầm vận động khi thấy đau. Không được cố gắng làm các động tác gây đau khớp vai.
+ Không bất động tuyệt đối khớp vai vì có thể dẫn tới hạn chế vận động khớp. Khi đau cấp, có thể cần một dây treo tay. Dây treo tay vòng qua vai, treo cẳng tay vuông góc với cánh tay.
5.1.3. Vật lý trị liệu
Viêm quanh khớp vai thể thông thường là viêm không đặc hiệu, thông thường là hậu quả của quá trình thiểu dưỡng lâu dài dẫn tới thoái hóa gân cơ chóp xoay. Các phương pháp vật lý trị liệu giúp tăng cường tuần hoàn và dinh dưỡng cho khớp vai là rất thích hợp và cần được ưu tiên hơn là dùng thuốc.
+ Các phương pháp điều trị nhiệt nóng: sử dụng bức xạ hồng ngoại mỗi ngày 1-2 lần, mỗi lần 20-30 phút là thích hợp. Cũng có thể sử dụng các phương pháp đắp nóng khác như dùng túi nhiệt, các lá sao nóng để đắp. Những ngày đầu của đau khớp vai cấp tính, không nên điều trị nhiệt nóng mà nên đắp lạnh với khăn bọc nước đá trong vài phút có thể giúp giảm đau.
+ Điện trường siêu cao tần: là các kỹ thuật làm tăng nhiệt độ trong tổ chức sâu, rất thích hợp cho điều trị viêm quanh khớp vai, có thể điều trị 1-2 lần mỗi ngày, mỗi lần 10-15 phút.
+ Điện xung: sử dụng các dòng điện xung ức chế có tần số thấp hoặc tần số trung điều trị vùng khớp vai giúp làm giảm đau khớp vai rất tốt. Nên kết hợp điều trị bằng nhiệt với điều trị bằng dòng điện xung trong một liệu trình điều trị.
+ Điện di ion thuốc: sử dụng dòng điện Galvanic để làm điện di một số thuốc có tác dụng chống viêm, giảm đau vào khớp vai cũng được lựa chọn. Các thuốc có thể dùng là dung dịch Salixilat natri 2%, Novocain 2%, Lidocain 40mg.
+ Xoa bóp: đau thường gây kích thích co cứng cơ, xoa bóp giúp làm thư giãn cơ, tăng cường dinh dưỡng tuần hoàn cho phần mềm vùng được xoa bóp, tăng lưu thông máu, giúp giải phóng nhanh các chất trung gian viêm và các độc tố viêm làm nhanh phục hồi tổn thương. Xoa bóp khớp vai cũng là một kỹ thuật thường được lựa chọn trong điều trị viêm quanh khớp vai thể thông thường.
5.1.4. Điều trị bằng thuốc
Đau khớp vai là triệu chứng chính trong viêm quanh khớp vai thể thông thường. Do đó, giảm đau chống viêm cũng là mục tiêu chính trong điều trị viêm quanh khớp vai thể thông thường.
+ Thuốc chống viêm giảm đau:
- Đau mức độ nhẹ: dùng các thuốc giảm đau bậc 1.
- Đau mức độ trung bình: dùng các thuốc chống viêm giảm đau bậc 2. Có thể sử dụng corticoid dạng uống liều cao trong thời gian ngắn phối hợp với thuốc chống viêm giảm đau non-steroid.
- Đau mức độ nặng: dùng các thuốc chống viêm giảm đau bậc 3 dạng tiêm phối hợp với thuốc giảm đau trung ương dạng uống hoặc dạng tiêm + tiêm corticoid vào khoang dưới mỏm cùng vai.
+ Tiêm corticoid vào khoang dưới mỏm cùng vai hoặc túi hoạt dịch gân cơ nhị đầu: là biện pháp điều trị rất hữu hiệu trong viêm quanh khớp vai thể thông thường. Việc quyết định tiêm corticoid vào khoang dưới mỏm cùng cần được quyết định bởi các bác sĩ chuyên khoa và một tuần tiêm không quá 2 lần. Một liệu trình tiêm không quá 6 lần.
5.2. Điều trị can thiệp
Điều trị can thiệp qua nội soi chỉ đặt ra khi rách đứt hoàn toàn gân cơ chóp xoay.
Trường hợp gân cơ chóp xoay rách không hoàn toàn, chỉ định điều trị nội khoa mà không cần can thiệp. Khi điều trị nội khoa thất bại, có thể cân nhắc điều trị can thiệp nội soi để khâu phục hồi gân.
Phòng khám Giảm đau Mạn Tính
🏥 Địa chỉ: Số 2, Ngõ 8, Hoàng Ngọc Phách, Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội
☎ Liên hệ: 097 889 89 02
📩 Email: 2dkpt.dkpt@gmail.com