Chuyên khoa Thần kinh- Cơ xương khớp

Chuyên khoa Thần kinh- Cơ xương khớp Nơi chia sẻ mọi thông tin về các bệnh Thần kinh- Cơ xương khớp.

Tại đây bạn có thể đặt câu hỏi và nhận được sự tư vấn từ các Pgs, Tiến sỹ, Thạc sỹ, Bác sỹ
chuyên sâu

PHÂN BIỆT NHỒI MÁU NÃO VÀ XUẤT HUYẾT NÃO Đột quỵ não là hội chứng được đặc trưng bởi sự mất đột ngột cấp tính các chức n...
24/04/2020

PHÂN BIỆT NHỒI MÁU NÃO VÀ XUẤT HUYẾT NÃO

Đột quỵ não là hội chứng được đặc trưng bởi sự mất đột ngột cấp tính các chức năng của não (thường khu trú) khiến vùng não đó bị thiếu oxy và dinh dưỡng, tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trước 24 giờ. Thiếu oxy não chỉ trong vòng vài phút, tế bào não sẽ chết. Vùng tế bào não bị tổn thương nặng hoặc lan rộng có thể gây tử vong cho bệnh nhân hoặc để lại di chứng nặng nề về rối loạn vận động, nhận thức, ngôn ngữ, thị giác.

Đột quỵ não được chia làm 2 loại:

- Nhồi máu não: (thiếu máu não cục bộ): Chiếm 80% các ca bị đột quỵ, xảy ra khi mạch máu cung cấp cho não bị tắc bởi cục máu đông, huyết khối, hẹp xơ vữa động mạch gây ra vùng hoại tử và thiếu máu não.

- Xuất huyết não - màng não: Chiếm 20% các ca bị đột quỵ, xảy ra do rách thành động mạch gây ra máu chảy vào trong nhu mô não hay não thất, hay gặp do tăng huyết áp, bệnh lý tinh bột hoặc do vỡ dị dạng mạch máu não, bệnh MoyaMoya...
- Chảy máu màng não hay chảy máu khoang dưới nhện: do nguyên nhân vỡ túi phình động mạch não
Cre: Tailieuykhoa

HUYẾT ÁP HAI BÊN TAY LIỆU CÓ BẰNG NHAU?✅Sinh lý bình thường huyết áp hai tay vốn dĩ không hoàn toàn bằng nhau, thường th...
16/04/2020

HUYẾT ÁP HAI BÊN TAY LIỆU CÓ BẰNG NHAU?

✅Sinh lý bình thường huyết áp hai tay vốn dĩ không hoàn toàn bằng nhau, thường thì huyết áp (HA) tay phải sẽ cao hơn HA tay trái chứ không như dân gian ta nghĩ tay trái gần tim hơn nên HA cao hơn!
✅Tại sao vậy?
Vì giải phẫu động mạch dưới đòn phải xuất phát từ thân đm cánh tay đầu còn động mạch dưới đón trái xuất phát từ cung đmc. Chính vì vậy chiều dài đm dưới đòn phải ngắn hơn đm dưới đòn trái dẫn đến áp lực máu lên đm dưới đòn phải thường cao hơn đm dưới đòn trái.
Và huyết áp tay phải cho phép chênh lệch với tay trái là 5-10mmHg

✅Tuần vừa rồi, một bệnh nhân nam 50 tuổi tìm đến tôi khám với than phiền thỉnh thoảng thấy chếnh choáng khi thay đổi tư thế. Anh ta đã đi khám hai nơi, một nơi chẩn đoán huyết áp thấp 90/60mmHg, nơi khác chẩn đoán tiền tăng huyết áp 130/90mmHg và hai cái đơn trái ngược nhau, một đơn nâng huyết áp, một đơn hạ huyết áp nên anh ta không dám uống. Hoang mang và thiếu tin tưởng, anh ta đi kiểm tra lại. Liệu các đồng nghiệp của tôi có đo huyết áp sai không? Phải đo lại đã chứ. Đo lại huyết áp tay phải 90/60mmHg, vậy là đúng rồi huyết áp thấp làm thiếu máu não gây nên triệu chứng chếnh choáng khi thay đổi tư thế, có thể kê đơn cho về điều trị được rồi. Nhưng hãy khoan, có cái gì đó không ổn, hỏi lại anh ta nói nhiều tháng trước kiểm tra huyết áp đều bình thường tại sao bây giờ lại huyết áp thấp, nghe tim bình thường, tiếng tim đều và khỏe. Người này lại to cao thân hình rắn chắc do thường xuyên thể thao, cớ gì lại huyết áp thấp. Cẩn thận, đo lại huyết áp tay trái xem, kết quả 130/90mmHg, kiểm tra lần nữa huyết áp cả hai tay vẫn như vậy một bên thấp một bên cao. Kỳ lạ chưa, như vậy các đồng nghiệp của tôi đều đúng, chỉ có điều thầy bói xem voi thôi, chỉ đo huyết áp một bên tay rồi kết luận.

✅Bây giờ theo bạn, cớ gì mà huyết áp hai tay lại chênh lệch như vậy? cần làm gì tiếp theo. Thử xem tôi làm gì nhé! Trước hết đo huyết áp khoeo chân hai bên đã, cả hai bên đều là 140/90mmHg. OK vậy huyết áp bên tay phải thấp là bất thường, cần phải kiểm tra hệ thống động mạch. Đặt ống nghe trên hố thượng đòn và dọc động mạch cảnh gốc hai bên. Đây rồi, hố thượng đòn bên phải có tiếng thổi tâm thu 3/6. Nghe dọc động mạch chủ bụng, động mạch thận và động mạch chậu gốc hai bên bình thường. Vậy vấn đề là động mạch cánh tay đầu bên phải bị hẹp làm lượng máu lên động mạch cảnh để tới não và lượng máu ra động mạch cánh tay phải bị giảm gây ra triệu chứng thiểu năng tuần hoàn não hệ động mạch cảnh trong và huyết áp thấp ở cánh tay phải, tiếng thổi tâm thu xuất hiện ở vị trí hẹp. Với tuổi 50 và triệu chứng mới xuất hiện một hai tháng gần đây thì thường là do mảng vữa xơ động mạch. Siêu âm Doppler động mạch đã xác định điều đó, một mảng vữa xơ ở động mạch cánh tay đầu phải gần chỗ phân chia thành động mạch dưới đòn và động mạch cảnh gốc phải gây hẹp 70% đường kính động mạch. Được rồi, gửi bệnh nhân đi can thiệp mạch và đặt một stent vào đó là ốn. Thế đấy đừng đơn giản khi đo huyết áp, chú ý một tí sẽ dẫn bạn tới thành công.

✅Nhân đây tôi cũng chia sẻ luôn một trường hợp khác. Cách đây 21 năm (1992) trong một lần trực khoa, tôi được một bác sĩ bàn giao theo dõi một bệnh nhân nữ 25 tuổi bị tăng huyết áp. Huyết áp thường xuyên 180/100mmHg, dùng phối hợp ba thuốc hạ áp mà huyết áp chỉ xuống được chút ít xung quanh 140-160mmHg trong 1-2 giờ lại tăng lên. Đây là tăng huyết áp kháng trị chăng, ở một phụ nữ trẻ như vậy thì nguyên nhân gì, liệu có phải u tủy thượng thận không. Nhưng u tủy thượng thận thì huyết áp thường tăng từng cơn chứ không tăng liên tục như vậy, trong cơn nhịp tim nhanh, vã mồ hôi, sau cơn bệnh nhân mệt và đái nhiều, nhưng bệnh nhân này không như vậy. Đặt ống nghe, nghe dọc động mạch, cái gì vậy hố thượng đòn trái và dưới đòn trái có tiếng thổi tâm thu khá rõ. Gọi sinh viên đo huyết áp hai khoeo chân đều 100/60mmHg. Thế đấy huyết áp chi trên cao, chi dưới thấp, tiếng thổi tâm thu hố thượng đòn và dưới đòn trái, theo các bạn nguyên nhân của tăng huyết áp kháng trị ở bệnh nhân này là gì? Hẳn là các bạn nói ngay hẹp eo động mạch chủ, bây giờ thì dễ quá rồi còn gì. Hôm sau siêu âm Doppler động mạch đã khẳng định điều đó. Bệnh nhân được chuyển sang khoa ngoại để phẫu thuật, vấn đề đã được giải quyết chỉ bằng những động tác đơn giản trong lâm sàng là đo huyết áp và nghe động mạch. Vào thời gian đó 1992, tôi cũng đâu có nhiều kinh nghiệm trong lâm sàng, chỉ là một bác sĩ chuyên khoa cấp I mới về công tác ở khoa Tim-Thận-Khớp-Nội tiết được vài năm, cũng chẳng giỏi giang gì, nhưng lúc đó tôi mới đọc được trong một cuốn sách, người thầy là tác giả của cuốn sách khuyên rằng “khi đo huyết áp, cần phải đo ở cả hai tay và hai chân, nếu thấy bất thường đừng quên nghe dọc các động mạch lớn” thế là tôi áp dụng ngay. Mãi đến sau này học hết thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp II nội chung rồi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành thận-tiết niệu rồi thành phó giáo sư thận-tiết niệu tôi vẫn không quên được trường hợp đó, và bây giờ sau 21 năm tôi lại áp dụng thành công. Sách đúng là người thầy tuyệt vời và đó cũng là điều tôi muốn chia sẻ cùng các bạn đồng nghiệp.
Nguồn: PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm

CHÓNG MẶT, HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNHLà trạng thái mất đáp ứng giữ thăng bằng và cảm giác không gian do do rối loạn của hệ thốn...
12/04/2020

CHÓNG MẶT, HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH

Là trạng thái mất đáp ứng giữ thăng bằng và cảm giác không gian do do rối loạn của hệ thống giữ thăng bằng.
Triệu chứng: Chóng mặt là triệu chứng chính. Cảm giác bị dịch chuyển, mọi vật xung quanh quay tròn, hoặc chính bệnh nhân quay tròn, hoặc cảm giác bay lên rớt xuống, hoặc cảm giác mất thăng bằng.
Có thể đau đầu, buồn nôn, ói mửa kèm theo triệu chứng vận mạch như tái xanh, vã mồ hôi, chậm nhịp.
Nguyên nhân: Rối loạn hệ thống giữ thăng bằng, có thể là vô căn; do như trường hợp say tàu xe, chất độc hoặc nặng hơn là có sự tổn thương hệ thống giữ thăng bằng.

Điều trị: Cinarizine + tuần hoàn não + bổ thần kinh + Magie B6 + chống nôn nếu có nôn + paracetamol (có thể có Codein hoặc không) nếu đau đầu.
Nếu có triệu chứng vận mạch như tái xanh, nhịp chậm. Uống 1 cốc gừng đường ấm. Ngồi nơi thoáng mát.

1. Cinnarizine 25mg 1 viên x 2 lần/ngày.
Cinnarizine có tác dụng vừa điều trị chóng mặt vừa chống nôn. Không nên thay bằng thuốc kháng H1 khác vì khó đạt hiệu quả bằng. Vừa hết chóng mặt thì ngưng.
2. Magie B6 2 viên x 2 lần/ngày.
3. Domperidon.
Về cơ bản thì chỉ cần 3 thuốc trên là đủ. Một số loại thuốc mà người ta thêm bớt, thay thế:
+ Piracetam 400mg x 2 lần/ngày – thay thế Magie B6 hoặc phối hợp.
Piracetam giúp cải thiện tế bào não, tăng tập trung. Piracetam tương đối an toàn, ít tác dụng phụ. Nếu có hiện tượng tăng phấn khích, tim đập nhanh... thì đổi sang biệt dược piracetam khác loại rẻ tiền hơn (piracetam rẻ tiền thường có tốc độ hấp
thu chậm hơn nên không gây hiện tượng trên).
Biệt dược Phezam (Piracetam 400mg/Cinnarizine 25mg).
+ Ginkgo biloba 1 viên x 2 lần/ngày – thay thế MgB6 hoặc phối hợp.
5. Paracetamol 325-500mg x 2 lần/ngày - nếu có đau đầu.
6. Viên nang gừng 250mg 1-2 viên lần x 2 lần/ngày.
Dùng nếu có nôn. Có thể thay thế bằng Domperidon hoặc Metoclopramid liều thấp nhất.
Lưu ý: Tương tác thuốc trong đơn:

Ginkgo không có tương tác với cinnarizine, nhưng có tương tác với gừng làm tăng khả năng chống đông máu. Không dùng 2 loại này trên bệnh nhân có bệnh chảy máu. Hoặc có thể đổi Ginkgo bằng thuốc hoạt huyết dưỡng não khác (thuốc đầy ra đấy, tác giả viết trên này để các bạn tránh tương tác).
Các trường hợp khác:
+ Nếu triệu chứng kéo dài kèm cảm giác đầy tai, có thể là dấu hiệu của bệnh lý thần kinh; hoặc nếu có chảy mủ kèm đau dữ dội, có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng; hoặc chóng mặt kèm tê bại nửa người, liệt cơ mặt hoặc tệ hơn là rối loạn ý
thức có thể là dấu hiệu của cơn đột quỵ. Cần khuyên bệnh nhân nhanh chóng đến cơ sở y tế gần nhất để được chẩn đoán và tư vấn.
+ Những người hút thuốc lần đầu hoặc say thuốc lào thường bị chóng mặt, mất thăng bằng, đau đầu, có thể kèm nôn ói. Không cần dùng thuốc.
+ Trong ngộ độc thực phẩm (loại thường gặp là do ăn nem nướng ngoài chợ) cũng có triệu chứng chóng mặt, đau đầu, buồn nôn và nôn. Tuyệt đối không được dùng thuốc chống nôn kể cả bệnh nhân yêu cầu. Tư vấn để bệnh nhân nôn toàn bộ thức ăn gây ngộ độc.
Đơn thuốc tham khảo cho Phụ nữ có thai:
1. Hoạt huyết Thái Dương 2 viên x 2 lần/ngày
2. Mutivitamin 1-2 viên x 2 lần/ngày.
3. Trà gừng.
Chỉ dùng Cinnirazine khi thật cần thiết với liều nhỏ nhất. Hết choáng thì ngưng.
 Đơn thuốc tham khảo cho người cao tuổi :
1. Piracetam 400mg x 2 lần/ngày.
2. Magie B6 1 viên x 2 lần/ngày (hoặc Mutivitamin 2 viên/ngày)
3. Ginkgo biloba 1 viên x 2 lần/ngày.
Ng: sưu tầm

09/04/2020
👨‍⚕️ĐAU GÓT CHÂN VÀ BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP 💢Chứng đau tại vùng gót gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Tùy vào vị trí đa...
07/04/2020

👨‍⚕️ĐAU GÓT CHÂN VÀ BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP 💢

Chứng đau tại vùng gót gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Tùy vào vị trí đau có thể chia đau gót chân thành hai nhóm chính: đau vùng dưới gót và đau phía sau gót. Đau gót chân khiến cho cuộc sống, sinh hoạt của bệnh nhân gặp nhiều khó khăn, do đó, cần phải biết nguyên nhân đau do đâu và điều trị sớm để giúp bệnh nhân tránh khỏi phiền toái do bệnh gây nên.

👉Một số nguyên nhân gây ra đau gót chân thường gặp là:

1️⃣. Viêm cân gan bàn chân
Đau gót chân thường do viêm cân gan chân, bản chất là cân mạc bị thoái hóa vì sử dụng quá nhiều hoặc do chấn thương gây ra.

2️⃣. B**g gân gót chân
Đây là chấn thương thường gặp trong khi hoạt động thể lực. Mức độ từ nhẹ đến nặng tùy thuộc vào cơ chế chấn thương. Hầu hết, b**g gân thường không cần đến cấp cứu. B**g gân gót chân xảy ra ở phần khớp và phần gân (nơi nối xương với xương) ở chân. Ngoài ra, nò còn ảnh hưởng đến cơ và dây chằng (nơi nối xương và cơ).

3️⃣. Viêm gân Achilles
Gân Achilles nối cơ bắp chân và xương gót. Nó giúp cho việc đi, đứng, chạy, nhảy được dễ dàng. Các hoạt động thể lực đòi hỏi chạy, nhảy nhiều có thể gây tổn thương gân Achilles và dẫn đến viêm.

4️⃣. Viêm bao hoạt dịch
Bao hoạt dịch là túi dịch bao quanh khớp, nó chèn vào những nơi mà xương, cơ, dây chằng tiếp xúc gần xương. Bao hoạt dịch đóng vai trò như túi bôi trơn, làm giảm áp lực khi vận động. Viêm bao hoạt dịch có thể gây đau, hạn chế cử động của khớp và từ đó làm gây khó khăn trong hoạt động hàng ngày. Triệu chứng bao gồm: sưng, đau, đỏ vùng da nơi bao hoạt dịch.

5️⃣. Gãy xương gót
Gãy xương gót có thể chỉ là vết nứt nhỏ hoặc vỡ hoàn toàn xương gót, ở một nơi hoặc nhiều nơi, gãy đơn giản hay tạo ra nhiều mảnh xương nhỏ. Đa số, gãy xương xảy ra khi lực tác động lên xương quá mức mà nó có thể chịu được. Đây là tình trạng cần được cấp cứu ngay.

6️⃣. Hội chứng đường hầm cổ chân: Khi dây thần kinh chày sau bị chèn ép sẽ dẫn đến đau hay rối loạn cảm giác như tê rát, căng cứng vùng bàn chân hay gót chân. Nguyên nhân gây chèn ép có thể là do gãy xương sau chấn thương hoặc có khối u.

⚠️Khi bạn có biểu hiện của đau gót chân, cần được khám và tư vấn bởi bác sĩ cơ xương khớp để tìm được nguyên nhân và phương pháp điều trị chính xác, hiệu quả nhất !

Phòng ngừa đau gót chân như thế nào? Để phòng ngừa đau gót chân, bạn cần:

✅ Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ hợp lý, tránh thừa cân béo phì để làm giảm áp lực lên hệ cơ xương khớp, đặt biệt là đôi chân.
✅ Khi vận động nên khởi động thật kỹ, tập với mức độ vừa phải để hạn chế những chấn thương và cải thiện lưu thông máu.
✅ Nên chọn giày đúng kích cỡ, đế mềm, hạn chế đi giày quá cao.
✅ Hàng ngày, có thể thực hiện mát xa chân để máu lưu thông tốt.

Xét nghiệm phát hiện COVID-19 hiện tại có 4 phương pháp chính:- Phương pháp PCR- Phương pháp RT-PCR- Test nhanh phát hiệ...
06/04/2020

Xét nghiệm phát hiện COVID-19 hiện tại có 4 phương pháp chính:

- Phương pháp PCR

- Phương pháp RT-PCR

- Test nhanh phát hiện gen

- Test nhanh phát hiện kháng thể

Việt Nam chủ yếu sử dụng Kit xét nghiệm rt-PCR tự sản xuất( bởi học viện quân y và công ty Việt Á) .

Ưu điểm của phương pháp này, vì là xét nghiệm phát hiện gen của vi-rút, nên không xảy ra hiện tượng dương tính giả, nghĩa là trường hợp nào dương tính chắc chắn đang nhiễm vi-rút SARS-CoV-2; đây là lí do để rt-PCR được lựa chọn làm tiêu chuẩn vàng chẩn đoán xác định bệnh COVID-19.

Nhược điểm của rt-PCR là:

- Tất cả các khâu đều chuyên môn hóa cao.

- Thời gian cho kết quả lâu khoảng 5 giờ.

- Số ca âm tính giả nhiều.

Nguyên nhân âm tính giả, là do bệnh phẩm lấy bằng tăm bông quết họng, nếu thực hiện kĩ thuật không tốt, hoặc vi-rút cư trú quá ít ở hầu họng và chủ yếu tập trung sâu dưới phổi nhưng bệnh nhân không ho bật ra vi-rút, thì tăm bông không lấy được mẫu vi-rút để làm xét nghiệm.

Mới đây, Hàn Quốc đã viện trợ cho Việt Nam hàng trăm ngàn que thử, bản chất là Test nhanh phát hiện kháng thể chống lại vi-rút đang tồn tại trong máu bệnh nhân.

Nếu trong máu có kháng thể nghĩa là bị nhiễm vi-rút ít nhất 1 lần.

Ưu điểm của phương pháp Test nhanh:

- Một là "nhanh”: nghĩa là tốc độ rất nhanh chỉ mất 2-3 phút.

- Hai là “vận hành”: quá dễ và quá đơn giản!

- Ba là: độ nhạy rất cao.

Test nhanh đơn giản đến mức, người làm xét nghiệm không cần thiết phải được đào tạo chuyên biệt, chỉ cần điều dưỡng lấy máu tĩnh mạch, rồi cắm que thử theo đúng hướng dẫn ghi ngoài bao bì. Test nhanh không cần thiết bị gì đặc biệt.

Nguyên nhân gây âm tính giả:

- Cơ thể nhiễm vi-rút chưa đủ thời gian tạo kháng thể.

- Hệ miễn dịch cơ thể quá yếu không tạo đủ kháng thể.

Nguyên nhân dương tính giả:

- Người nhiễm vi-rút đã khỏi hẳn nên máu có kháng thể.

- Do phản ứng chéo kháng nguyên kháng thể của vi-rút khác (như vi-rút sốt xuất huyết xảy ra với 2 ca bệnh ở Singapore).



KẾT LUẬN

--------------

1. Xét nghiệm rt-PCR

- Nếu dương tính chắc chắn nhiễm vi-rút.

- Nếu âm tính vẫn có thể nhiễm vi-rút.

- Là xét nghiệm chẩn đoán xác định bệnh COVID-19.

2. Xét nghiệm Test nhanh tìm kháng thể

- Nếu dương tính vẫn có thể không nhiễm vi-rút.

- Nếu âm tính vẫn có thể nhiễm vi rút.

- Là xét nghiệm sàng lọc, không dùng làm chẩn đoán bệnh.

3. Phối hợp Test nhanh và rt-PCR

- Test nhanh âm + Lâm sàng nghi ngờ -> làm thêm rt-PCR

- Test nhanh dương -> làm thêm rt-PCR

- Rt-PCR âm + Lâm sàng nghi ngờ -> làm thêm Test nhanh

- Rt-PCR dương -> không cần làm Test nhanh



TÀI LIỆU THAM KHẢO

---------------------------

1. Gabriel Yan et all. Covert COVID-19 and false-positive dengue serology in Singapore. The Lancet. March 4, 2020.

Credit: Bs Trần Văn Phúc

PHÂN BIỆT NHỒI MÁU NÃO VÀ XUẤT HUYẾT NÃO Đột quỵ não là hội chứng được đặc trưng bởi sự mất đột ngột cấp tính các chức n...
06/04/2020

PHÂN BIỆT NHỒI MÁU NÃO VÀ XUẤT HUYẾT NÃO

Đột quỵ não là hội chứng được đặc trưng bởi sự mất đột ngột cấp tính các chức năng của não (thường khu trú) khiến vùng não đó bị thiếu oxy và dinh dưỡng, tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trước 24 giờ. Thiếu oxy não chỉ trong vòng vài phút, tế bào não sẽ chết. Vùng tế bào não bị tổn thương nặng hoặc lan rộng có thể gây tử vong cho bệnh nhân hoặc để lại di chứng nặng nề về rối loạn vận động, nhận thức, ngôn ngữ, thị giác.

Đột quỵ não được chia làm 2 loại:

- Nhồi máu não: (thiếu máu não cục bộ): Chiếm 80% các ca bị đột quỵ, xảy ra khi mạch máu cung cấp cho não bị tắc bởi cục máu đông, huyết khối, hẹp xơ vữa động mạch gây ra vùng hoại tử và thiếu máu não.

- Xuất huyết não - màng não: Chiếm 20% các ca bị đột quỵ, xảy ra do rách thành động mạch gây ra máu chảy vào trong nhu mô não hay não thất, hay gặp do tăng huyết áp, bệnh lý tinh bột hoặc do vỡ dị dạng mạch máu não, bệnh MoyaMoya...
- Chảy máu màng não hay chảy máu khoang dưới nhện: do nguyên nhân vỡ túi phình động mạch não
Ảnh: internet
Bài viết tham khảo: vinmec.com

ANP, BNP và CNP là gì ?Các nhà nghiên cứu ở thế kỷ 20 nhận thấy rằng quá trình lọc ở cầu thận và tác động của aldosteron...
05/04/2020

ANP, BNP và CNP là gì ?

Các nhà nghiên cứu ở thế kỷ 20 nhận thấy rằng quá trình lọc ở cầu thận và tác động của aldosterone không kiểm soát hoàn toàn sự bài tiết của natri qua thận. Từ đó, họ cho rằng có thể có thêm một yếu tố nữa (mà y học lúc đó chưa biết đến) cũng tham gia kiểm soát sự bài tiết natri. Vào năm 1981, một số nhà nghiên cứu đã tìm ra yếu tố thứ ba này ở tâm nhĩ của chuột và đặt tên cho yếu tố này là “peptit lợi niệu natri tâm nhĩ” viết tắt là ANP. ANP được sản xuất và dự trữ chủ yếu ở tâm nhĩ của tim. Khi thể tích dịch trong cơ thể hoặc huyết áp tăng, thành tâm nhĩ sẽ bị kéo căng → tâm nhĩ sẽ giải phóng ANP vào máu. Sau khi được giải phóng, ANP sẽ làm giảm sự tái hấp thu natri → tăng bài xuất natri và tăng lượng nước tiểu → huyết áp giảm xuống mức bình thường.

Năm 1988, các nhà nghiên cứu tìm ra một peptit lợi niệu thứ hai ở não lợn và đặt tên là “peptit lợi niệu natri não” (tiếng anh là Brain natriuretic peptide và viết tắt là BNP). Sau này, họ phát hiện ra BNP được sản xuất chủ yếu ở tâm thất và “peptit lợi niệu natri não” được đổi tên thành “peptit lợi niệu natri loại B” (B-type natriuretic peptide) để giữ nguyên thuật ngữ BNP và minh họa đúng bản chất của peptit này là ở tim chứ không phải ở não. Tương tự như tâm nhĩ, khi bị kéo căng, tâm thất cũng sẽ giải phóng BNP – có chức năng lợi niệu natri tương tự như ANP.

Năm 1990, thêm một peptit lợi niệu natri nữa lại được phát hiện ở não lợn và được đặt tên là “peptit lợi niệu natri loại C” (CNP). CNP không có chức năng lợi niệu natri trực tiếp mà đóng vai trò như một peptit thần kinh.

Suy tim xảy ra khi tâm thất suy giảm chức năng tống máu. Nó phải hoạt động vất vả hơn (sợi cơ tâm thất kéo căng hơn) nhưng lại tống được ít máu đi hơn. Do sợi cơ tâm thất thường xuyên kéo căng nên tâm thất của bệnh nhân suy tim sẽ tiết ra nhiều BNP hơn. Như vậy, khi nồng độ BNP trong máu tăng lên, chúng ta biết được tâm thất bị kéo căng hơn và tim bị suy.

Một chất chỉ điểm suy tim khác là NT-pro BNP. NT-pro BNP là gì? Như đã nói ở trên, khi thành tâm thất bị kéo dãn, nó sẽ giải phóng ra BNP. Tuy nhiên, trên thực tế, nó không giải phóng ra BNP ngay mà giải phóng ra một phân tử tiền chất có tên là proBNP (có 108 axit amin). Sau khi được giải phóng vào máu, proBNP bị cắt thành 2 phân tử nhỏ hơn là NT-pro BNP (76 axit amin, không có hoạt tính lợi niệu) và BNP (32 axit amin, có hoạt tính lợi niệu). Như vậy, khi tim bị suy, cả nồng độ NT-pro BNP lẫn BNP đều tăng cao trong máu. Do đó, có thể định lượng 2 chất này để hỗ trợ chẩn đoán suy tim.
Cre: Giaiphausinhly

AST và ALT là gì ? AST và ALT là hai enzyme tham gia vào quá trình chuyển hóa axit amin.  Để hiểu về hai enzyme này, trư...
03/04/2020

AST và ALT là gì ?

AST và ALT là hai enzyme tham gia vào quá trình chuyển hóa axit amin. Để hiểu về hai enzyme này, trước tiên chúng ta cần hiểu về quá trình tiêu hòa protein. Trong mỗi bữa ăn, các loại thịt (thịt lợn, cá, tôm), đậu phụ, trứng cung cấp protein cho chúng ta. Sau khi vào cơ thể, protein sẽ được hệ tiêu hóa phân hủy dần dần, cuối cùng thành các axit amin ở ruột non. Sau đó, các axit amin sẽ được các tế bào ruột hấp thu vào máu để đưa đến gan và tất cả các mô khác trong cơ thể. Khi đến các mô, các axit amin sẽ được đưa vào các tế bào để dùng làm nguyên liệu tổng hợp nên các protein mà tế bào cần. Tuy nhiên, các tế bào thường không dùng hết lượng axit amin này. Thêm vào đó, cơ thể không có cơ chế dự trữ axit amin. Nên lượng axit amin dư thừa sẽ bị thoái hóa. AST và ALT chính là 2 enzym tham gia vào quá trình thoái hóa của các axit amin. Cụ thể về quá trình này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu ở một bài viết khác.

AST và ALT có nhiều nhất ở trong bào tương tế bào gan và tế bào cơ (cơ xương, cơ tim). Nồng độ bình thường của AST và ALT là đều là 100 UI/L) mới có ý nghĩa về mặt lâm sàng. Thông thường AST và ALT thường tăng trong các bệnh lý về gan (như xơ gan, viêm gan). Khi mắc các bệnh lý này, tế bào gan bị tổn thương và giải phóng các enzyme trên vào máu làm cho nồng độ AST và ALT tăng cao trong máu. Một số thuốc như thuốc hạ sốt giảm đau (paracetamol), thuốc chống lao (rifamycin, isoniazid), thuốc hạ mỡ máu (statin) có thể làm tổn thương gan → tăng AST và ALT.

AST và ALT cũng có thể tăng sau khi bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim. Nhồi máu cơ tim là tình trạng xảy ra khi động mạch vành (động mạch nuôi dưỡng tim) bị tắc nghẽn → mô tim mà nó nuôi dưỡng không nhận được oxy và dưỡng chất → mô tim đó bị tổn thương và dần hoại tử. Khi các tế bào tim bị tổn thương, chúng cũng giải phóng AST và ALT vào máu → nồng độ của các enzyme này tăng cao trong máu. Do điện tâm đồ và một số chất sinh hóa khác hữu ích hơn nên 2 enzym này không được dùng để chẩn đoán nhồi máu cơ tim.

Cách để phân biệt tăng AST và ALT là do bệnh gan hay bệnh tim bằng cách khám lâm sàng và các xét nghiệm khác. Nếu bệnh nhân có biểu hiện vàng da, cổ trướng, chán ăn + tăng bilirubin + kết quả điện tâm đồ không hướng tới nhồi máu cơ tim → nguyên nhân là do gan. Mặt khác, nếu bệnh nhân có biểu hiện đau ngực, không có vàng da, cổ trướng + bất thường trên điện tâm đồ → nguyên nhân là do tim.
Nguon: Giaiphausinhly
------------------------------------------

Trong giai đoạn 1, Việt Nam đã ghi nhận ca nhiễm đầu tiên vào ngày 22/1, tới ngày 11/2/2020 có 16 ca và toàn bộ 16 ca nà...
02/04/2020

Trong giai đoạn 1, Việt Nam đã ghi nhận ca nhiễm đầu tiên vào ngày 22/1, tới ngày 11/2/2020 có 16 ca và toàn bộ 16 ca này đã được chữa khỏi.

Sang giai đoạn 2, tính từ ngày 6/3 khi phát hiện ca bệnh thứ 17. Tới ngày 19/3 cả nước đã có 100 ca nhiễm. Như vậy thời gian từ 1 lên 100 ca của Việt Nam là 57 ngày dài hơn so với mức trung bình trên thế giới là 30 ngày. Nếu trừ đi 16 ca giai đoạn 1 thì ngày 21/3/2020, Việt Nam có 100 ca nhiễm bệnh mới.

Từ mốc 100 ca đến 1000 ca, thời gian trung bình trên thế giới là khoảng từ 7 đến 9 ngày. Riêng Nhật Bản là khoảng 28 ngày. Tại Việt Nam, kể từ mốc 100 thì sau 7 ngày có 171 ca, sau 9 ngày có 203 ca. Như vậy, tình hình số ca nhiễm ở Việt Nam tăng chậm hơn rất nhiều vì Việt Nam thực hiện các giải pháp chủ động, kịp thời, sớm và và hiệu quả.

Đến thời điểm này chúng ta đã bước sang giai đoạn 3 của "cuộc chiến" chống dịch COVID-19.

Hiện Việt Nam có tổng số 222 ca dương tính (bao gồm 16 ca giai đoạn 1), trong đó 63 ca đã khỏi bệnh. Như vậy hiện còn 159 ca bệnh COVID-19 trong đó 43 ca đã âm tính từ 2 lần trở lên, 54 ca đã âm tính 1 lần. (4 ca bệnh nặng đã có 3 ca không cần thở máy, 1 ca chuẩn bị chuyển từ ECMO sang thở máy). Chưa có bệnh nhân nào tử vong.

Nguồn: Trung tâm tin tức vtv24

👨‍⚕️👨‍⚕️👨‍⚕️ BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP (Rheumatoid Arthritis)1. ĐẠI CƯƠNGViêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh lý tự miễ...
02/04/2020

👨‍⚕️👨‍⚕️👨‍⚕️ BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP
(Rheumatoid Arthritis)

1. ĐẠI CƯƠNG

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh lý tự miễn điển hình, diễn biến mạn tính với các biểu hiện tại khớp, ngoài khớp và toàn thân ở nhiều mức độ khác nhau. Bệnh diễn biến phức tạp, gây hậu quả nặng nề do đó cần được điều trị tích cực ngay từ đầu bằng các biện pháp điều trị hữu hiệu để làm ngưng hay làm chậm tiến triển của bệnh, hạn chế tàn phế và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

2. NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ SINH BỆNH

- Bệnh chưa rõ nguyên nhân, liên quan đến nhiễm khuẩn, cơ địa (nữ giới, trung niên, yếu tố HLA) và rối loạn đáp ứng miễn dịch

- Vai trò của lympho B (miễn dịch dịch thể), lympho T (miễn dịch qua trung gian tế bào), đại thực bào… với sự tham gia của các tự kháng thể (anti CCP, RF…) và các cytokines (TNFα, IL6, IL1…)

3. CHẨN ĐOÁN

a. Tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ (ACR ) 1987

- Hiện nay tiêu chuẩn này vẫn đang được áp dụng rộng rãi nhất trên thế giới và Việt nam đối với thể biểu hiện nhiều khớp và thời gian diễn biến viêm khớp trên 6 tuần
+ Cứng khớp buổi sáng kéo dài trên 1 giờ
+ Viêm tối thiểu 3 nhóm khớp: sưng phần mềm hay tràn dịch tối thiểu 3 trong số 14 nhóm khớp sau (kể cả hai bên): khớp ngón gần bàn tay, khớp bàn ngón tay, khớp cổ tay, khớp khuỷu, khớp gối, khớp cổ chân, khớp bàn ngón chân.
+ Viêm các khớp ở bàn tay: sưng tối thiểu một nhóm trong số các khớp cổ tay, khớp ngón gần, khớp bàn ngón tay.
+ Viêm khớp đối xứng
+ Hạt dưới da
+ Yếu tố dạng thấp trong huyết thanh dương tính
+ Dấu hiệu X quang điển hình của VKDT: chụp khớp tại bàn tay, cổ tay hoặc khớp tổn thương: hình bào mòn, hình hốc, hình khuyết đầu xương, hẹp khe khớp, mất chất khoáng đầu xương.

Chẩn đoán xác định: khi có ≥ 4 tiêu chuẩn. Triệu chứng viêm khớp (tiêu chuẩn 1- 4) cần có thời gian diễn biến ≥ 6 tuần và được xác định bởi thày thuốc.
Tiêu chuẩn ACR 1987 có độ nhạy 91-94% và độ đặc hiệu 89% ở những bệnh nhân VKDT đã tiến triển. Ở giai đoạn bệnh mới khởi phát, độ nhạy chỉ dao động từ 40-90% và độ đặc hiệu từ 50-90%.

- Lưu ý: Hạt dưới da hiếm gặp ở Việt Nam. Ngoài ra, cần khảo sát các triệu chứng ngoài khớp như : teo cơ, viêm mống mắt, tràn dịch màng ngoài tim, tràn dịch màng phổi, viêm mạch máu... thường ít gặp, nhẹ, dễ bị bỏ sót.

b. Tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ và Liên đoàn chống Thấp khớp Châu Âu 2010 (ACR/EULAR 2010 - American College of Rheumatology/ European League Against Rhumatism). Tiêu chuẩn này có thể áp dụng trong trường hợp bệnh ở giai đoạn sớm, các khớp viêm dưới 06 tuần và thể ít khớp. Tuy nhiên cần luôn theo dõi đánh giá lại chẩn đoán vì nhiều trường hợp đây cũng có thể là biểu hiện sớm của một bệnh lý khớp khác không phải viêm khớp dạng thấp

Đối tượng là các bệnh nhân

- Có ít nhất 1 khớp được xác định viêm màng hoạt dịch trên lâm sàng

- Viêm màng hoạt dịch khớp không do các bệnh lý khác

c. Xét nghiệm cận lâm sàng cần chỉ định:

- Các xét nghiệm cơ bản: tế bào máu ngoại vi, tốc độ máu lắng, protein phản ứng C (CRP)…, xét nghiệm chức năng gan, thận, Xquang tim phổi, điện tâm đồ...

- Các xét nghiệm đặc hiệu (có giá trị chẩn đoán, tiên lượng):
+ Yếu tố dạng thấp (RF) dương tính trong 60 - 70 % bệnh nhân.
+ Anti CCP dương tính trong 75 - 80 % bệnh nhân
+ Xquang khớp (thường chụp hai bàn tay thẳng hoặc các khớp bị tổn thương).

d. Chẩn đoán phân biệt: lupus ban đỏ hệ thống, thoái hoá khớp, gút mạn tính, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp vảy nến...

4. ĐIỀU TRỊ

a. Nguyên tắc:

Điều trị toàn diện, tích cực, dài hạn và theo dõi thường xuyên. Các thuốc điều trị cơ bản hay còn gọi là nhóm thuốc DMARDs (Disease-modifying antirheumatic drugs) kinh điển (methotrexate, sulfasalazine, hydroxychloroquine...) có vai trò quan trọng trong việc ổn định bệnh và cần điều trị kéo dài. Các thuốc sinh học còn được gọi là DMARDs sinh học (kháng TNF a, kháng Interleukin 6, kháng lympho )được chỉ định đối với thể kháng điều trị với DMARDs kinh điển, thể nặng hoặc tiên lượng nặng. Khi chỉ định các thuốc sinh học, cần có ý kiến của các bác sỹ chuyên khoa Cơ Xương Khớp và thực hiện đúng quy trình (làm các xét nghiệm tầm soát lao, viêm gan (virus B, C), chức năng gan thận, đánh giá hoạt tính bệnh bằng chỉ số DAS 28…)

Address

Nguyễn Trãi
Hanoi

Opening Hours

Saturday 09:00 - 17:00
Sunday 09:00 - 17:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chuyên khoa Thần kinh- Cơ xương khớp posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram

Category