19/04/2024
3 bài thuốc chữa đau dạ dày do vị hư hàn
Người bị chứng đau dạ dày do vị hư hàn thường đau lâm râm vùng thượng vị, ăn uống lạnh hay đau tăng. Nhiều chứng liên quan ở đường tiêu hóa như đầy bụng, nôn mửa, sa dạ dày, đau bụng đi ngoài, rối loạn tiêu hóa...
TỲ VỊ HƯ HÀN Nhận biết người bị tỳ vị hư hàn:
Môi: Những người có tỳ vị yếu, môi thường tái, không có màu hồng, rất khô, dễ bị lột da, nứt môi. Những triệu chứng như miệng hôi, nướu sưng đau đa phần có liên quan đến khả năng tiêu hóa kém của tỳ vị. Ngoài ra, chảy nước miếng khi ngủ cũng là một biểu hiện của việc thiếu tỳ khí.
Mũi: Khô mũi, khứu giác kém nhạy, chảy nước mũi, chảy máu mũi đa phần đều là do tỳ vị yếu gây ra. Những người bị đỏ mũi đa số là do vị bị nhiệt, đầu mũi đau cũng cho thấy chức năng tỳ vị không ổn.
Mắt: Tỳ vị yếu dễ bị thiếu máu, từ đó ảnh hưởng đến gan, gan biểu hiện ở mắt, vì thế mắt dễ bị mỏi, nhìn không rõ. Ngoài ra, tỳ và việc hấp thụ của cơ thể có quan hệ mật thiết, nếu mắt thường xuyên bị đỏ, mặt bị sưng cũng có thể là do vấn đề ở tỳ.
Tai: Tỳ vị yếu sẽ dẫn đến thận khí không đủ, thường sẽ biểu hiện ở triệu chứng ù tai hay thậm chí là điếc. Bên cạnh đó, có nhiều người tỳ vị không khỏe do quá mệt mỏi hay tâm trạng không tốt gây nên. Đặc biệt là vào mùa xuân, gan hỏa tăng cao khiến chúng ta dễ tức giận. Những người có tỳ vị yếu sẽ thường cảm thấy không có sức, tay chân lạnh có khi sẽ bị đau bụng vào mùa xuân.
Bụng thường kêu óc ách, ăn uống khó tiêu, hay trung tiện, đôi khi kèm theo tiêu chảy rất khó chịu, lạnh bụng, làm mất ngủ... Y học cổ truyền gọi là chứng bệnh “Tỳ vị hư hàn”, có nghĩa là tỳ vị yếu, lạnh.
Đó là trạng thái tỳ dương (lá lách), vị dương (dạ dày) đều hư, sinh ra hàn (lạnh), dẫn đến bụng kêu óc ách, khó tiêu, bụng sình hơi, trung tiện nhiều và đau râm ran... Nguyên nhân dẫn tới tỳ vị hư hàn, do ăn uống không điều độ, ăn nhiều thức ăn sống, lạnh, cay, béo, ngọt, uống rượu nhiều và nghiện thuốc lá.
Đều trị:
Bài 1: Dùng trong trường hợp: Đau dạ dày do vị hư hàn với biểu hiện hay lạnh bụng, đầy bụng, nôn mửa, bụng đau.
-Thành phần bài thuốc gồm: Nhân sâm 12g, bạch truật 12g, can khương 12g, chích thảo 12g, đại táo 12g.
- Cách dùng: Sắc uống hoặc làm hoàn uống. Nếu sắc ngày 1 thang, chia làm 2 – 3 lần, uống khi thuốc còn ấm
Công dụng: Ôn trung khu hàn (làm ấm tỳ vị, đuổi hàn tà ra ngoài), bổ khí kiện tỳ vị… trị tỳ vị hư hàn, hay lạnh bụng, đầy bụng, nôn mửa, bụng đau. Khi tỳ vị hư được ôn bổ, giúp tỳ sinh huyết vận hóa tốt, hàn thấp trệ tự tiêu, như vậy tỳ vị sinh huyết hóa thấp tốt, chứng đau do vị hàn tự khỏi, ăn ngon, tiêu hóa tốt, người khỏe.
Can khương ôn trung khu hàn, hồi phục tỳ dương.
Bạch truật kiện tỳ táo thấp, chỉ hãn.
Nhân sâm đại bổ nguyên khí, ích huyết, sinh tân.
Chích thảo bổ tỳ, hòa trung, hòa dược
Gia giảm:
Nếu lạnh (hàn) nhiều, gia phụ tử 4-6g
Nếu đi ngoài có phân nhầy "kiết lị", gia hoàng liên, hương phụ, để lý khí hóa trệ.
Nếu đi ngoài ra m au gia giảm a giao, ngải diệp
Bài 2
Dùng trong trường hợp: Vị hư hàn kèm biểu hiện hay tiêu lỏng, mệt, sa nội tạng dạ dày
- Thành phần bài thuốc gồm: Hoàng kỳ 18g, nhân sâm 14g, bạch truật 12g, phục linh 14g, thăng ma 12g, sài hồ 12g, đương quy 14g, trần bì 10g, sinh khương 12g.
Sắc hoặc làm hoàn uống. Nếu sắc ngày 1 thang, chia làm 2 – 3 lần, uống khi thuốc còn ấm. Làm hoàn bằng hạt ngô đồng, mỗi lần 10-15 viên/lần, 2 lần 1 ngày.
- Tác dụng: Bổ trung ích khí, kiện tỳ, hóa hàn thấp thăng dương… dùng trị các chứng tỳ phế khí hư, rối loạn tiêu hóa kéo dài, khí hư hạ hãm, sa dạ dày, phủ tạng, sinh dục, trực tràng, sa dạ con, trĩ, thoát vị bẹn hoặc sụp mi, phụ nữ có thai phù chân, khí hư bị cảm mạo, mệt mỏi, ra mồ hôi nhiều, và các chứng liên quan dương khí hư.
- Kiêng kỵ: Chứng nóng sốt do nhiệt tà nhiệt lỵ mới nhiễm, chứng âm hư nội nhiệt ra nhiều mồ hôi, chứng âm hư đau đầu, mất ngủ, tăng huyết áp không nên dùng.
Theo sách YHCT