22/10/2020
Khảo sát cơ cấu, tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến đau mạn tính tại thành phố Hồ Chí Minh. (phần II)
BÀN LUẬN
1. Đặc điểm chung
Đau mạn tính ở cư dân thành phố Hồ Chí Minh là một trong những vấn đề sức khỏe cần được quan tâm, vì theo nghiên cứu này tình trạng đau mạn tính ảnh hưởng đến 30,73% dân số, trong đó tỷ lệ mắc ở nữ 32,67% cao hơn ở nam 26,57%. Ước lượng sẽ có đến hơn 3 triệu dân TPHCM mắc chứng đau này. Như vậy, chúng ta có thể thấy rõ số bác sĩ chuyên khoa đau chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân.
Điều này phù hợp với khảo sát của Arthus G. Cosby và cộng sự thực hiện tại Mississippi có tỷ lệ đau ít nhất 1 tháng là 37% và với 20-25 bác sĩ chuyên khoa đau của bang sẽ không đáp ứng việc điều trị cho 37% dân cư bang Mississippi [1]. Nghiên cứu này cũng phù hợp với các nghiên cứu của Catherine B. Johannes và cộng sự tại Mỹ [2]; Didier Bouhassira và cộng sự tại Pháp [3]; Dwight E. Moulin và cộng sự tại Canada [4]; Érica Brandão de Moraes Vieira và cộng sự tại São Luís, Brazil [5]; R Fielding và cộng sự tại Hồng Kông [9].
Nghiên cứu này chưa phù hợp với các nghiên cứu của Henry Lu tại Philippines [6]; MS Cardosa tại Malaysia [7]; Per Sjoren và cộng sự tại Denmark [8]; Tay Kwang Hui [10]. Những lý do dẫn đến sự chưa phù hợp có thể do cấu trúc dân số (già hoặc trẻ), có thể do khái niệm đau khác nhau, có thể do khác biệt văn hóa dẫn đến định nghĩa và hiểu đau khác nhau, …
Tỷ lệ đau mạn tính tăng dần theo nhóm tuổi tăng cao dần,phù hợp với các nghiên cứu [2, 3, 4, 5, 6, 7, 8,10]. Tuổi tăng có thể tăng tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính không lây là một trong những nguyên nhân gây đau mạn tính.
Tỷ lệ đau nhiều nhất ở người đã nghỉ hưu (65,63%), người cao tuổi (53,51%) và người thất nghiệp (32,26%), phù hợp với các nghiên cứu [3, 5, 7]. Người nghỉ hưu, cao tuổi có tỷ lệ đau mạn tính cao hơn có thể do ảnh hưởng của tuổi tác. Nhưng những người thất nghiệp có tỷ lệ đau nhiều có thể do kém vận động ảnh hưởng sức cơ, độ dẻo dai của cơ xương khớp, khả năng ứng phó với stress của cơ thể,….
Người có trình độ học vấn thấp nhất có tỷ lệ đau nhiều nhất.Ngược lại, người có trình độ học vấn cao có tỷ lệ đau thấp hơn.Kết quả trên phù hợp với nghiên cứu [5, 8].Trình độ học vấn cao thường tương ứng với sự hiểu biết tốt hơn về bệnh tật, giúp phòng ngừa và điều trị tốt hơn trong đó góp phần làm giảm tỷ lệ đau mạn tính.
Những người thu nhập thấp có tỷ lệ đau nhiều hơn. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu [2,4,5,7,10].
Những người độc thân có tỷ lệ đau thấp nhất, phù hợp với nghiên cứu [2, 5, 8].Kết quả này có thể do những người độc thân có nhiều điều kiện chăm sóc sức khỏe cho mình tốt hơn.
2. Đặc điểm đau mạn tính
Vị trí đau mạn tính thường gặp nhất là khớp gối (36,98%), thắt lưng (30,18%), vùng đầu mặt (15,38%) và khớp vai (14,20%). Đây là những vị trí cần sự cử động nhiều nên dễ bị tổn thương gây đau.
Điều này phù hợp với các nghiên cứuArthus G. Cosby và cộng sự tại Mississippi cho thấy đau thắt lưng (49%), chân – khớp gối (41%), vai – cánh tay (20%) [1];Catherine B. Johannes và cộng sự tại Mỹ với đau nhiều nhất vùng thắt lưng[2];Dwight E. Moulin và cộng sự tại Canada ghi nhận vị trí đau phổ biến nhất là lưng (35%), chân (21%), đầu (15%) và cổ (14%); trong đó 44% xuất phát từ bệnh lý khớp [4];Érica Brandão de Moraes Vieira và cộng sự tại São Luís, Brazil nhận xét đau thường gặp nhất ở chi (51%), đầu (36%) [5].
Mức độ đau trung bình 4,675 ± 2,290. Mức độ đau phổ biến là 4,1- 6 (33,94%). Mức độ đau từ trung bình trở lên 4,1- 10chiếm tỷ lệ khá cao (59,39%).Điều này phù hợp với nghiên cứucủa Catherine B. Johannes và cộng sự, một nửa đau hàng ngày ở mức trung bình trong 3 tháng qua, đau nhiều (>7 theo thang điểm 0-10) là 32% [2];Didier Bouhassira và cộng sự ghi nhận mức độ đau trung bình 4,5 ± 2,1 ; 33,9% đau nhẹ, 46,5% đau vừa (mức đau 4-6), 16,1% đau nhiều (mức đau 7-10) [3];Dwight E. Moulin và cộng sự nhận xét mức độ đau trung bình 6,3 ; 20,3% đau nhẹ, 47,9% đau vừa, 31,7% đau nhiều [4]; Érica Brandão de Moraes Vieira và cộng sự nhận xét đau nhẹ 20,7%, đau vừa 57,7%, đau nhiều 21,6% [5].
Trong số những bệnh nhân đi khám bệnh, 66,03% hài lòng về kết quả điều trị và chăm sóc, 17,93% không ý kiến và 16,04% không hài lòng. Điều này cho thấy sự chăm sóc y tế vẫn còn chưa đáp ứng được nhu cầu của 33,97% bệnh nhân đau. Tuy nhiên, khi so sánh với số liệu của nghiên cứu Érica Brandão de Moraes Vieira và cộng sự ghi nhận 55% bệnh nhân không hài lòng với điều trị [5], nhiều hơn số liệu của chúng tôi.
Đau mạn tính gây khó chịu đối với 86,39% bệnh nhân và ảnh hưởng công việc đối với 77,51% bệnh nhân. Vì thế, việc chẩn đoán, điều trị và chăm sóc bệnh nhân đau mạn tính một cách hiệu quả rất quan trọng để giảm thiểu những ảnh hưởng xấu tác động lên bệnh nhân. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Arthus G. Cosby và cộng sự cho thấy bệnh nhân đau vừa và nhiều ít nhất trong 1 tháng có ảnh hưởng không tốt đến giấc ngủ (84%), công việc (68%), hoạt động vui chơi giải trí (78%), quan hệ tình dục (43%), quan hệ với những người khác (36%) và tình trạng sức khỏe tâm thần (lo âu 66%, trầm cảm 63%, cảm giác cô đơn 46%) [1];Érica Brandão de Moraes Vieira và cộng sự ghi nhận đau làm cản trở công việc 23,5%, hoạt động hàng ngày 21,7%, vui chơi giải trí 6,1%, gây buồn bã 47,2% [5].
Chi phí điều trị đau mạn tính trong 6 tháng rất thay đổi tùy từng trường hợp, tối thiểu 0 đ, tối đa 98.800.000 đ, trung bình : 2.120.000 ± 7.178.796 đ, trung vị : 500.000 đ; khoảng cách tứ phân vị : 75.000 đ; 2.280.000 đ.
Đau mạn tính làm tiêu tốn ở Mỹ hơn 40 tỷ USD/ năm [4], đây là một chi phí lớn kể cả đối với quốc gia giàu mạnh. Nếu so sánh với chi phí điều trị đau mạn tính tại Việt Nam sẽ là khập khiễng. Tuy nhiên, khảo sát này cho thấy hàng tháng bệnh nhân đau mạn tính cũng có một chi phí nhất định cho việc điều trị chỉ riêng một chứng đau mạn tính được dành ra từ nguồn thu nhập của mình, nhất là đối với những người cao tuổi, hưu trí, thất nghiệp,…có nguồn thu nhập rất thấp.
V. KẾT LUẬN
Đau mạn tính là một trong những vấn đề sức khỏe cần được quan tâm của người dân thành phố Hồ Chí Minh vì tỷ lệ mắc khá cao 30,73%, nhất là đối với phụ nữ, người cao tuổi, người thất nghiệp, hưu trí, người có trình độ học vấn thấp, thu nhập thấp, phụ nữ đông con.
Vị trí đau phổ biến nhất là khớp gối, thắt lưng, đau vùng đầu mặt. Hơn một nửa số bệnh nhân (59,39%) chịu đựng mức độ đau từ vừa đến dữ dội. Đau mạn tính còn gây ảnh hưởng không tốt đến cảm xúc của 86,35% bệnh nhân và đến công việc đối với 77,51%bệnh nhân.
Tuy nhiên, nơi ưu tiên bệnh nhân đến để giải quyết tình trạng đau của mình: đi bác sĩ (cả công lập và tư nhân) chỉ chiếm 31,06%, tự mua thuốc 16,57% và đáng lưu ý vẫn còn 40,24% bệnh nhân tự điều trị. Tính dọc suốt thời gian đau, chỉ có 62,72% bệnh nhân đi khám bệnh, trong đó có đến 24,52% đi khám muộn sau khởi phát bệnh 1 tháng.
Mặc dù có đến gần 1/3 dân cư thành phố bị đau mạn tính nhưng số cơ sở y tế và bác sĩ chuyên về đau vẫn còn khá khiêm tốn, hy vọng rằng trong tương lai vấn đề đau mạn tính sẽ được quan tâm nhiều hơn nhằm mang lại sự chăm sóc sức khỏe tốt hơn cho bệnh nhân.
Nguồn: Hội thần kinh học Việt Nam