Y Tế Công Nghệ

Y Tế Công Nghệ Cập nhật những tiến bộ về khoa học và công nghệ trong Y tế

Kích thích dây thần kinh phế vịLiệu pháp kích thích dây thần kinh phế vị là gì?Liệu pháp kích thích dây thần kinh phế vị...
05/03/2023

Kích thích dây thần kinh phế vị

Liệu pháp kích thích dây thần kinh phế vị là gì?
Liệu pháp kích thích dây thần kinh phế vị (VNS) là một phương pháp điều trị bệnh động kinh. Dây thần kinh phế vị (VAY-gus) chạy lên hai bên cổ và đi vào não. VNS gửi các xung điện đến dây thần kinh, dây thần kinh này sẽ truyền các xung điện đến não. Điều này giúp ngăn ngừa hoặc rút ngắn thời gian co giật.

Lợi ích của Liệu pháp VNS là gì?
Khi được sử dụng cùng với thuốc, liệu pháp VNS có thể:

giúp trẻ ít co giật hơn
làm cho cơn động kinh xảy ra ít nghiêm trọng hơn
ngăn chặn một cơn động kinh đã bắt đầu
Quản lý các cơn co giật giúp trẻ có cảm giác kiểm soát tốt hơn tình trạng của mình. Nhiều bậc cha mẹ báo cáo rằng con họ hạnh phúc hơn, ít lo lắng hơn, tỉnh táo hơn và cảm thấy tốt hơn về tổng thể với liệu pháp VNS.

Trẻ em cũng ít phải đến bệnh viện vì co giật và có thể uống ít thuốc hơn.

Ai có thể được trị liệu bằng VNS?
Liệu pháp kích thích dây thần kinh phế vị hoạt động tốt nhất ở trẻ em ít nhất 4 tuổi và:

co giật một phần (khu trú)
uống thuốc động kinh nhưng không thấy cải thiện
không phải là ứng cử viên tốt cho phẫu thuật động kinh
Bên trong lồng ngực, dây dẫn ra khỏi máy phát điện và đi đến dây thần kinh phế vị. Các dây gửi các xung điện qua dây thần kinh phế vị đến não.

Thiết bị được đặt như thế nào?
Máy kích thích dây thần kinh phế vị được đặt trong một quy trình phẫu thuật ngắn:

Bác sĩ rạch một đường nhỏ (vết cắt) trên da ngực.
Bác sĩ đặt một thiết bị nhỏ gọi là máy phát xung điện trong ngực.
Bác sĩ luồn dây điện từ máy phát điện đến dây thần kinh phế vị bên trái và quấn chúng quanh dây thần kinh đó.
Bác sĩ đóng vết mổ bằng một vài mũi khâu và băng lại vết mổ.
Các dây từ máy phát điện gửi các xung điện đến dây thần kinh phế vị, sau đó đưa chúng đến não. Các dây không đi vào não.

Sau thủ thuật, trẻ cảm thấy hơi đau là điều bình thường. Trong bệnh viện, đội ngũ chăm sóc sẽ đảm bảo rằng họ cảm thấy thoải mái. Hầu hết trẻ em cảm thấy tốt hơn và về nhà cùng ngày.

Liệu pháp VNS có rủi ro không?
Liệu pháp VNS rất an toàn và hầu hết mọi người không gặp vấn đề gì. Khi các xung xảy ra, một số trẻ có thể ho, khàn giọng hoặc có cảm giác buồn cười trong cổ họng. Những điều này thường trở nên tốt hơn theo thời gian. Nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sẽ xem xét tất cả các rủi ro trước khi con bạn làm thủ thuật.

Thiết bị hoạt động như thế nào?
Máy phát điện phát ra các xung điện nhỏ đều đặn suốt cả ngày. Điều này giúp ngăn ngừa co giật. Ngoài ra, nếu một cơn động kinh sắp xảy ra, máy phát điện sẽ cảm nhận được điều này dựa trên sự thay đổi nhịp tim của con bạn. Sau đó, nó sẽ gửi thêm xung để ngăn chặn cơn động kinh hoặc làm cho nó bớt nghiêm trọng hơn. Đây được gọi là chế độ “tự động kích thích”.

Nhóm chăm sóc của bạn sẽ lập trình thiết bị và hướng dẫn bạn cách sử dụng cũng như bảo quản thiết bị.

"Theo kidhealths.org"

Khác với các liệu pháp truyền thống như thuốc uống và thuốc giảm đau qua da phải được hấp thụ một cách hệ thống và vượt ...
25/04/2021

Khác với các liệu pháp truyền thống như thuốc uống và thuốc giảm đau qua da phải được hấp thụ một cách hệ thống và vượt qua "Hàng rào máu não" để tiếp cận tín hiệu đau. Kích thích tuỷ sống có thể thực hiện can thiệp xâm lấn tối thiểu, điện cực được đưa vào tuỷ sống thông qua một kim chọc chuyên dụng, người bệnh hoàn toàn tỉnh táo trong quá trình can thiệp để có thể phản hồi lại về tình trạng của mình khi kích thích trong mổ.

DTM™ (differential target multiplexed) SCS is a proprietary waveform supported by pre-clinical research and clinical research now within an RCT. DTM™ SCS is ...

Kích thích tủy sống (SCS) cung cấp các xung điện nhẹ dọc theo dây dẫn được cấy, cách điện, được gọi là dây điện cực, đến...
22/03/2021

Kích thích tủy sống (SCS) cung cấp các xung điện nhẹ dọc theo dây dẫn được cấy, cách điện, được gọi là dây điện cực, đến một khu vực gần cột sống của bạn. Bằng cách làm gián đoạn các tín hiệu đau truyền giữa tủy sống và não của bạn, hệ thống SCS có thể giúp bạn quay trở lại làm những việc hàng ngày mà bạn yêu thích nhất.
Công nghệ hiện tại kéo dài tuổi Pin tới 15 năm, sạc không dây qua da một cách nhanh chóng và tiện lợi.
Bạn sẽ được cấy thử và theo dõi trong giai đoạn 7-10 ngày, nếu đáp ứng (tối thiểu 50%) bạn sẽ được tiến hành cấy vĩnh viễn, nếu không hệ thống sẽ được rút ra và trả lại hiện trang của bạn như trước lúc cấy.
Được chỉ định để hỗ trợ điều trị các cơn đau mãn tính khó chữa ở thân thể và / hoặc các chi, bao gồm đau một bên và / hoặc hai bên liên quan đến các tình trạng sau:

- Hội chứng phẫu thuật lưng thất bại, hội chứng đau lưng vùng thấp (low back syndrome) hoặc phẫu thuật lưng thất bại
- Hội chứng đau do rễ thần kinh bị chèn ép, hay rễ thần kinh bị chèn ép do đau thứ phát từ phẫu thuật lưng thất bại hay thoát vị đĩa đệm.
- Đau sau phẫu thuật laminectomy
- Phẫu thuật cột sống lưng nhiều lần
- Phẫu thuật thay đĩa đệm không thành công
- Đau do thoái hóa đĩa đệm/ thoát vị đĩa đệm kháng trị với các phương pháp phẫu thuật can thiệp truyền thống.
- Đau ngoại vi Causalgia
- Viêm màng nhện hay viêm màng nhện dinh thắt lưng
- Xơ ngoài màng cứng
- Hội chứng đau vùng phức tạp (CRPS) , loạn dưỡng giao cảm phản xạ (RSD) hay Causalgia

14/03/2021

Cơ hội để tiếp cận với kỹ thuật mới tại Việt Nam và quay trở lại với cuộc sống trước kia của bạn với chi phí chỉ bằng 1/5 tại nước ngoài...đăng ký danh sách hoặc bình luận để nhận được tư vấn...

Liệu pháp kích thích tuỷ sốngAi là ứng viên?Việc đánh giá tình trạng thể chất, chế độ dùng thuốc và tiền sử cơn đau sẽ x...
02/11/2020

Liệu pháp kích thích tuỷ sống

Ai là ứng viên?
Việc đánh giá tình trạng thể chất, chế độ dùng thuốc và tiền sử cơn đau sẽ xác định liệu mục tiêu kiểm soát cơn đau của bạn có phù hợp với SCS hay không. Bác sĩ phẫu thuật thần kinh, vật lý trị liệu hoặc chuyên gia về đau sẽ xem xét tất cả các phương pháp điều trị và phẫu thuật trước đó. Bởi vì cơn đau mãn tính cũng có ảnh hưởng về mặt tinh thần, một nhà tâm lý học sẽ đánh giá tình trạng của bạn để tối đa hóa khả năng thành công.
Các bệnh nhân được chọn cho SCS thường bị đau mãn tính trong hơn 3 tháng ở lưng dưới, chân (đau thần kinh tọa) hoặc cánh tay. Họ cũng thường đã trải qua một hoặc nhiều cuộc phẫu thuật cột sống.
Bạn có thể là ứng cử viên cho SCS nếu:
* Các liệu pháp truyền thống đã thất bại.
* Bạn sẽ không được hưởng lợi từ phẫu thuật bổ sung.
* Cơn đau là do một vấn đề có thể sửa chữa được và cần được khắc phục.
* Bạn không muốn phẫu thuật thêm vì rủi ro hoặc lâu phục hồi. Đôi khi SCS có thể được lựa chọn thay vì phẫu thuật cột sống lớn, phức tạp.
* Bạn không bị trầm cảm hoặc nghiện mà chưa được điều trị; những thứ này nên được xử lý trước khi có SCS.
* Bạn không có tình trạng bệnh lý nào khiến bạn không thể thực hiện cấy ghép.
* Bạn đã dùng thử SCS thành công.
SCS hoạt động tốt hơn trong giai đoạn đầu của tình trạng mãn tính, trước khi chu kỳ đau-khổ-tàn tật-đau được thiết lập.
SCS có thể giúp giảm đau mãn tính do:
* Đau chân mãn tính (đau thần kinh tọa) hoặc đau cánh tay: đau liên tục, dai dẳng do viêm khớp, hẹp ống sống hoặc do tổn thương dây thần kinh.
* Hội chứng phẫu thuật lưng không thành công: thất bại của một hoặc nhiều cuộc phẫu thuật để giảm đau dai dẳng ở cánh tay hoặc chân, nhưng không phải là thất bại kỹ thuật của một cuộc phẫu thuật ban đầu.
* Hội chứng đau vùng phức tạp: một bệnh tiến triển mà bệnh nhân cảm thấy đau rát liên tục, mãn tính, điển hình ở bàn chân hoặc bàn tay.
* Viêm màng nhện: viêm đau và sẹo lớp màng bảo vệ của dây thần kinh cột sống.
* Khác: đau sau cắt cụt chi, đau thắt ngực, bệnh mạch máu ngoại vi, bệnh đa xơ cứng hoặc chấn thương tủy sống.

Theo: Mayfield Clinic

29/10/2020

Bơm thuốc kênh tuỷ

BẢN DỊCH:

Xin chào, tôi là bác sĩ Hamilton

Tôi là chuyên gia can thiệp giảm đau, tôi muốn nói với các bạn về bơm thuốc kênh tuỷ
Bơm thuốc kênh tuỷ được sử dụng trong y khoa về can thiệp giảm đau đối với những người bị đau dữ dội mà không đáp ứng với các phương pháp giảm đau truyền thống khác như phẫu thuật, kích thích tuỷ sống hay điều trị bằng sóng cao tần hoạc các phương pháp tương tự, và được sử dụng nhiều trên các bệnh nhân cần dùng liều lượng cao thuốc giảm đau.

Chúng ta đều đã nghe về khủng hoảng lạm dụng thuốc giảm đau, khủng hoảng thuốc giảm đau thực sự là một vấn đề tại nước Mỹ, và đối với người có nhiều vấn đề về xương khớp và họ cần một lượng lớn thuốc giảm đau thì bơm thuốc kênh tuỷ thực sự là một vấn đề rất hữu dụng đối với họ.

Bơm thuốc kênh tuỷ là một thiết bị được cấy vào cơ thể, có một ống thông nhỏ đi dọc theo kênh tuỷ, một đầu ống thông được gắn với bơm nhỏ được cấy hoàn toàn dưới da, bơm này thường được sử dụng với hai loại thuốc, thuốc tê và giảm đau.
Thuốc này được chảy từ từ vào dọc tuỷ sống 24/7.

Đây là bơm thuốc kênh tuỷ, bạn có thể nhìn thấy ở đây, bơm được nằm gần với cột sống và bên dưới có một ống thông nhỏ đi ra từ phía đáy bơm và đi vào trong dọc tuỷ sống.
Chúng ta nạp lại thuốc bằng một loại kim chuyên dụng qua cổng bơm được nạp xuyên qua da của người bệnh. Chúng ta chỉ cần nạp lại thuốc như vậy sau khoảng từ 60-90 ngày điều này cũng làm giảm đi tần suất phải đến phòng khám của người bệnh .
Video này đang thể hiện dòng chảy của thuốc được truyền qua ống thông.
Tôi đề xuất sử dung bơm kênh tuỷ cho những người đang chịu cơn đau trầm trọng về cột sống, chân, cho những người có nhu cầu sử dụng liều lượng cao thuốc giảm đau bời cường độ và mức độ trầm trọng của đau đớn mà họ đang trải qua.
Tôi đã nhìn thấy trong quá trình khám chữa bệnh của tôi, quá trình khám chữa bệnh của đồng nghiệp của tôi, bơm thuốc kênh tuỷ thực sự làm thay đổi cuộc sống của người bệnh.
Nêu bạn hay những người yêu quý của bạn, bạn bè của bạn đang trải qua những đau đớn này và phải dùng những liều lượng giảm đau lớn thì tôi thực sự đề xuất cân nhắc về bơm thuốc kênh tuỷ.

Cuộc khủng hoảng thuốc giảm đauMới đây, chính quyền thành phố New York (Mỹ) khởi kiện một số hãng dược phẩm lớn với cáo ...
29/10/2020

Cuộc khủng hoảng thuốc giảm đau

Mới đây, chính quyền thành phố New York (Mỹ) khởi kiện một số hãng dược phẩm lớn với cáo buộc các công ty này có những quảng cáo hạ thấp nguy cơ gây nghiện của nhóm thuốc giảm đau opioid, khiến cho nhiều người sử dụng bị nghiện. Vụ kiện này tiếp tục cho thấy mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng thuốc giảm đau tại Mỹ, cũng như nhiều nước trên thế giới trong những năm qua.

Vụ kiện trị giá nửa tỷ USD

Các “đại gia” dược phẩm có tên trong đơn kiện của chính quyền New York gồm các công ty Purdue Pharma, Teva Pharmaceuticals USA, Johnson & Johnson, Janssen Pharmaceuticals, McKesson, Amerisource Bergen và Cardinal Health. Nhà chức trách New York cáo buộc các công ty này đã tiến hành những chiến dịch tiếp thị quảng bá sản phẩm theo chiều hướng hạ thấp nguy cơ gây nghiện của nhóm thuốc giảm đau opioid, khiến cho sau đó bệnh nhân sử dụng tràn lan thuốc nhóm này bị nghiện các loại thuốc giảm đau, tương tự nghiện ma túy.

Theo Reuters, thuốc giảm đau thuộc nhóm opioid là nhóm các chất tự nhiên và tổng hợp, chứa thành phần hóa học như he**in, với hiệu ứng giảm đau tương tự morphine. Những loại thuốc giảm đau có chứa tiền chất ma túy như opioid được đánh giá là có độ nguy hiểm gấp 50 lần so he**in. Do đó, việc kê đơn thuốc giảm đau nhóm opioid thường chỉ được sử dụng để cắt cơn đau đối với các bệnh nan y, như ung thư giai đoạn cuối.

Bằng cách thức quảng bá sản phẩm không trung thực, các hãng dược phẩm kể trên đã thu lời hàng tỷ USD, đồng thời biến hàng triệu người dân Mỹ trở thành con nghiện. Các hãng này bị cáo buộc là thủ phạm gây ra cuộc khủng hoảng thuốc giảm đau opioid tại Mỹ. Chỉ tính riêng thành phố New York đã phải gánh các khoản chi phí lớn về y tế, xét xử tội phạm và thực thi luật pháp. Trong đơn kiện, chính quyền New York đã yêu cầu khoản bồi thường lên tới 500 triệu USD.

Theo The New York Times, hơn hai năm trở lại đây, Mỹ đang đứng trước cuộc khủng hoảng thuốc giảm đau tồi tệ nhất trong lịch sử. Ước tính mỗi năm, thuốc giảm đau cướp đi sinh mạng của gần 60.000 người Mỹ. Chỉ tính riêng năm 2016, nước Mỹ đã ghi nhận 63.600 người tử vong do sử dụng thuốc giảm đau quá liều (trung bình 174 người mỗi ngày). Con số này cao hơn số người Mỹ thiệt mạng trong suốt cuộc chiến tranh ở Việt Nam và trong giai đoạn đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng AIDS. Chính cuộc khủng hoảng thuốc giảm đau này đã khiến tuổi thọ trung bình của người Mỹ giảm liên tục trong vài năm qua. Không chỉ gây thiệt hại về người, Ủy ban cố vấn kinh tế Nhà trắng (CEA) cũng cho biết trong năm 2015, việc lạm dụng thuốc giảm đau đã gây thiệt hại tới 500 tỷ USD cho nền kinh tế Mỹ.

Tại New York, năm 2016 được xem là giai đoạn tồi tệ nhất trong lịch sử thành phố khi có hơn 1.000 người tử vong do uống thuốc giảm đau quá liều, cao hơn tổng số người thiệt mạng trong các vụ tai nạn ô-tô và xả súng. Thị trưởng New York Bill de Blasio đã gọi đây là một “thảm kịch quốc gia” và các nhà chức trách cần phải có những biện pháp thiết thực để ngăn chặn thảm kịch.
Báo động về sử dụng thuốc giảm đau

Cuộc khủng hoảng thuốc giảm đau đang có diễn biến tồi tệ ở Mỹ, nhưng đây không phải nước duy nhất trên thế giới xảy ra tình trạng này, mà nó đã lan rộng ra các nước khác trong khu vực như Canada và các vùng lãnh thổ thuộc châu Âu.

CNN cho biết, năm 2015, Anh là quốc gia đứng đầu danh sách lạm dụng thuốc giảm đau opioid, khi giới chức y tế nước này ghi nhận tới 330.445 trường hợp. Theo Hiệp hội nghiên cứu sức khỏe cộng đồng Anh, trong giai đoạn 2000 - 2012, tỷ lệ bệnh nhân được kê đơn sử dụng opioid tăng gấp hai lần so giai đoạn trước đó. Số liệu từ Cơ quan Y tế quốc gia Anh (NHS) cho thấy, số bệnh nhân nhập viện vì dùng quá liều thuốc giảm đau opioid cũng tăng gần gấp đôi trong giai đoạn 2005 - 2006 và 2016 - 2017. Scotland (Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland) cũng là một trong những điểm nóng về nạn lạm dụng opioid tại châu Âu. Theo thống kê của giới chức y tế Scotland, trong tổng số 867 ca tử vong do dùng thuốc vào năm 2016, có 765 ca liên quan opioid. Con số này trong năm 2015 là 606.

Trong ba năm kể từ năm 2015, số ca tử vong do sử dụng thuốc quá liều ở châu Âu đã đạt mức 8.441 trường hợp, và 81% trong số đó liên quan nhóm thuốc giảm đau nhóm opioid. Ngoài thuốc giảm đau nhóm opioid, trong năm 2016, có 316 trường hợp khác tử vong liên quan thuốc giảm đau nhóm fentanyl, oxycodone và tramadol ở Anh và xứ Wales (Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland). Trước đó, năm 2015, số ca tử vong vì các thuốc giảm đau kể trên là 34, 51 và 208.

Trong khi đó, theo một báo cáo điều tra công bố ngày 31-1 vừa qua, năm 2017, Canada ghi nhận hơn 3.000 người tử vong do sử dụng quá liều các loại thuốc giảm đau có tính chất gây nghiện. British Columbia là thành phố mà tình trạng này diễn biến xấu nhất, vì có tới 1.156 ca tử vong do lạm dụng thuốc giảm đau nhóm fentanyl, tăng 73% so năm 2016. Phần lớn người tử vong là nam giới trong độ tuổi từ 30-39. Chỉ trong sáu năm qua, tỷ lệ tử vong do sử dụng fentanyl quá liều tăng từ 4% trong năm 2012 lên tới 81% trong năm 2017. Cụ thể, năm 2012 chỉ có 12 người tử vong do lạm dụng thuốc giảm đau nhóm fentanyl, nhưng đến năm 2015 và 2016, con số này đã tăng lần lượt lên tới 152 và 670 người.

Trước tình trạng báo động về việc sử dụng tràn lan thuốc giảm đau dẫn tới gây nghiện, kể từ khi lên nắm quyền vào tháng 1-2017, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nhiều lần ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia về sức khỏe cộng đồng. Để siết chặt việc kê đơn thuốc giảm đau có chứa tiền chất ma túy, Bộ Tư pháp Mỹ đã thành lập một đơn vị phụ trách giám sát việc lạm dụng và sử dụng không đúng cách thuốc giảm đau có tính chất gây nghiện. Bộ trưởng Tư pháp Jeff Sessions cũng bổ nhiệm 12 công tố viên nhằm điều tra các gian lận trong ngành y và đưa những người vi phạm ra xét xử.

Trước đó, đầu năm 2017, Chính phủ Canada đã công bố kế hoạch chi 57,3 triệu USD trong chiến dịch ngăn chặn cuộc khủng hoảng thuốc giảm đau để giảm số ca tử vong do lạm dụng thuốc giảm đau gây nghiện và tăng cường khả năng cấp cứu. Nhiều địa phương của Canada cũng chủ động trang bị các thiết bị y tế để điều trị các bệnh nhân nhập viện do sử dụng thuốc quá liều.

Dù vậy, các chuyên gia trong lĩnh vực y tế cho rằng, thời gian tới các nhà chức trách tại Mỹ và các quốc gia khác bị ảnh hưởng vì cuộc khủng hoảng thuốc giảm đau vẫn cần có những biện pháp cứng rắn và mạnh tay hơn nữa mới mong có thể ngăn chặn triệt để tình trạng này.
Nguồn: https://nhandan.com.vn/baothoinay-hosotulieu/cuoc-khung-hoang-thuoc-giam-dau-317422/

Máy kích thích tủy sống là gì?Một thiết bị kích thích tủy sống (SCS) được phẫu thuật đặt dưới da của bạn và gửi một dòng...
28/10/2020

Máy kích thích tủy sống là gì?

Một thiết bị kích thích tủy sống (SCS) được phẫu thuật đặt dưới da của bạn và gửi một dòng điện nhẹ đến tủy sống của bạn. Dây mỏng mang dòng điện từ máy phát xung đến các sợi thần kinh của tủy sống. Khi được bật, SCS sẽ kích thích các dây thần kinh ở khu vực bạn cảm thấy đau. Giảm đau vì các xung điện thay đổi và che dấu tín hiệu đau truyền đến não của bạn.

Một máy kích thích tủy sống hoạt động bằng cách che dấu các tín hiệu đau trước khi chúng đến não. Một thiết bị kích thích cung cấp các xung điện đến các điện cực đặt trên tủy sống.

Kích thích tuỷ sống không loại bỏ nguồn gốc của cơn đau, nó chỉ đơn giản là cản trở tín hiệu đến não, và do đó, mức độ giảm đau khác nhau ở mỗi người. Ngoài ra, một số bệnh nhân cảm thấy cảm giác tê. Vì những lý do này, việc kích thích thử nghiệm được thực hiện trước khi thiết bị được cấy ghép vĩnh viễn.

Một số thiết bị SCS sử dụng dòng điện tần số thấp để thay thế cảm giác đau bằng cảm giác tê ran nhẹ được gọi là dị cảm. Các thiết bị SCS khác sử dụng tần số cao hoặc xung liên tục để che đi cơn đau mà không có cảm giác tê ran. Cài đặt không gây dị cảm là một tùy chọn trên hầu hết các thiết bị.

Kích thích không loại bỏ được nguồn gốc của cơn đau. Nó chỉ đơn giản là thay đổi cách bộ não nhận thức nó. Do đó, mức độ giảm đau khác nhau ở mỗi người. Mục tiêu của SCS là giảm 50 đến 70% cơn đau. Tuy nhiên, ngay cả một lượng giảm đau nhỏ cũng có thể đáng kể nếu nó giúp bạn thực hiện các hoạt động hàng ngày và giảm lượng thuốc giảm đau mà bạn dùng. SCS không cải thiện sức mạnh cơ bắp. Kích thích tuỷ sống không đáp ứng cho tất cả mọi người. Nếu không thành công, cấy ghép có thể được lấy ra và không làm tổn thương tủy sống hoặc dây thần kinh.

Có một số loại hệ thống thiết bị SCS. Tuy nhiên, tất cả đều có ba phần chính:

Một máy phát xung với pin để tạo ra các xung điện.
Một dây dẫn với một số điện cực (8-32) để cung cấp các xung điện đến tủy sống.
Điều khiển từ xa cầm tay có thể bật và tắt thiết bị và điều chỉnh cài đặt.
Các hệ thống có pin không thể sạc lại cần được thay thế phẫu thuật sau mỗi 2 đến 5 năm, tùy thuộc vào tần suất sử dụng. Hệ thống pin sạc có thể kéo dài từ 9 đến 10 năm hoặc lâu hơn, nhưng bạn phải nhớ sạc hệ thống hàng ngày.

Bộ tạo xung có cài đặt có thể lập trình được. Một số thiết bị SCS có thể cảm nhận sự thay đổi vị trí cơ thể (ngồi so với nằm) và điều chỉnh mức độ kích thích phù hợp với hoạt động của bạn. Các hệ thống khác có dây dẫn có thể được lập trình độc lập để bao phủ nhiều vùng đau. Một số gửi một xung nhận thức phụ mà không có cảm giác ngứa ran. Bác sĩ sẽ chọn loại hệ thống tốt nhất cho bạn.

Nguồn: Mayfied clinic

26/10/2020

(BẢN DICH: xem chi tiết video)

Một loại thiết bị y tế cao cấp đầy hứa hẹn có thể giúp người bệnh thoát khỏi các loại thuốc giảm đau. FDA đã phê duyệt cho liệu pháp này.
26% người Mỹ trên 20 tuổi được báo cáo chịu ảnh hưởng bởi một loại đau mãn tính nào đó. Mỗi ngày có hơn 650 000 toa thuốc Opioid (thuốc giảm đau) được kê, tuy nhiên 2 triệu người Mỹ đã bị nghiện do liên quan tới lạm dụng những loại thuốc này và dẫn tới những loại gây nghiện khác như He**in.

Bác sĩ Tara Narula có mặt hôm nay đưa chúng ta tiếp cận với một liệu pháp không dùng thuốc giúp người bệnh thoát khỏi những cơn đau.

(Tôi rất yêu người phụ nũ cô đã phỏng vấn, cô ấy thực sự rất mạnh mẽ)
(Tuyệt đối đúng vậy)

Chào buổi sáng...
Đau mãn tính có thể tác động tới mọi măt đời sống của người bệnh, người bệnh không thể làm việc, quan tâm tới các thành viên khác trong gia đình hay thậm chí chính bản thân họ, cái đau thường bắt đầu ở lưng hoặc chân nhưng nó có thể nhanh chóng trở nên phức tạp hơn. Các bác sĩ giờ đây có thêm một công cụ hiệu quả nhằm ngăn cảm nhận đau. Một thiết bị nhỏ cấy ở phía sau người bệnh có thể giúp họ trở lại với cuộc sống.

Corny (tên tạm dich) có một niềm đam mê với moto địa hình,...
Tuy nhiên một phẫu thuật nhỏ ở chân đã tạo ra cơn đau cho cô ấy. Cô ấy đã thử nhiều loại điều trị như Steroid, thuốc, block tế bào thần kinh hay các liệu pháp vật lý trị liệu đều không mang đến hiệu quả hay làm cô ấy giảm nhẹ. Bởi có lịch sự lạm dụng thuốc và nghiện trong gia đình, Corny từ chối sử dụng thuốc giảm đau. Các cơn đau đến không thể chịu được, người mẹ của hai con nhỏ tính tới phương án cắt bỏ chân.
“tôi cảm nhận các cơn đau buốt nhói, bỏng rát...mọi loại cảm giác đau bạn có thể tưởng tượng tới gần như đồng thời, bạn đã cố gắng hết sức nhưng chỉ có thể gào thét sâu bên trong, không một ai có thể hiểu được bạn đang trải qua điều gì.

Nhưng rồi Corny biết tới một sự lựa chọn khác...Kích thích tuỷ sống (SCS) có thể làm mất đi cảm giác đau. Cô ấy đã quyết định phẫu thuật để cấy thiết bị nhỏ này phía sau lưng của cô ấy.

- Corny, nói với tôi cô đang cảm nhận thấy gì?

Trải qua giai đoạn 1 của cuộc phẫu thuật, cô ấy được gây tê tại chỗ và ở trạng thái tỉnh táo.

- Vâng, tôi có thể cảm nhận thấy ở bàn chân của tôi...

Các phản hồi mang lại ngay tức thì nhằm đưa điện cực chính xác ở các vị trí cần thiết trong ống sống của cô.

- bây giờ cô cảm nhận ở bàn chân và ngón chân...?
- tôi không cảm nhận thấy ở ngón chân.
- Giờ tôi sẽ tắt nó
- thật tuyệt vời...

Kích thích tuỷ sống sử dụng các xung điện nhằm khoá các tín hiệu đau được truyền tới bộ não. Chúng đã được sử dụng cả thập kỷ nay tuy nhiên loại trước đó thực sự bất tiện và cần phải sạc lại rất thường xuyên. Năm nay, FDA đã phê duyệt một thiết bị nhỏ nhất kích thước tương đương với máy tạo nhịp tim,

Tại phòng hồi sức, Corny cảm nhận một cảm giác tê tại chân của cô ấy

- Ôi tôi có thể cảm nhận nó...tôi có thể cảm nhận nó...lậy chúa...

Điều này xác nhận thiết bị đã hoạt động và phủ lên vùng cảm nhận đau của cô.

Đa số các bệnh nhân báo cáo tối thiểu giảm 50% cảm nhận đau.

Bác sĩ Youssef là một trong những bác sĩ đầu tiên được đào tạo nhằm điều trị giảm đau cho các bệnh nhận bằng thiết bị cấy mới nhất của Medtronic.

- thiết bị này được trang bị để có thể theo dõi các hoạt động của người bệnh, điều này đã giúp ích gì được cho anh?
- Một trong nhưng lợi thế của thiết bị này là có thể theo dõi theo thời gian thực các chức năng vận động của người bệnh. Một cách cơ bản nhất chúng tôi không mong muốn người bệnh chỉ có thể ngoi trên ghế, chúng tôi muôn họ có thể hoạt động bình thường và tận hưởng cuộc sống của họ.

- tôi hy vong có thể trở lại với đam mê của tôi...

2 tuần sau kể từ khi bị phẫu thuật, cơn đau của Corny giảm từ thang điểm 9 xuống còn 2.

- Khi tôi muốn hoạt động tôi đang còn chậm một chút nhưng tôi cảm nhận thật tuyệt vời,
Cô ấy vẫn còn quãng đường dài để quay trở lại với niềm đam mê xe moto địa hình, nhưng đôi chân của cô ấy đã trở lại, cuộc sống của cô ấy đã trở lại.

- cô có điều gì muốn chia sẻ về câu chuyện của cô với những người đang chịu đựng các cơn đau?
- Các toa thuốc kê đơn mặc dù có thể giúp mọi người nhưng nó không phải là câu trả lời duy nhất, nếu nó không phải điều bạn muốn làm thì hãy tìm kiếm tới lựa chọn khác.

Liệu pháp này có thể mang lại những rủi ro như chảy máu, nhiễm trùng. Kích thích tuỷ sống cũng không đáp ứng với mọi loại đau, tuy nhiên nó có thể tốt nhất cho những người bị đau ở
- các vùng lưng, chân tay
- Phẫu thuật đĩa đệm hay lưng thất bại
- Đau vùng phức tạp (CRPS)
- Thoái hoá đĩa đệm
Có khoảng 88.000 thiết bị đã được cấy ghép trên thế giới và kỳ vọng sẽ tăng hơn gấp đôi trong thập kỷ tới.

- tôi có thiết bi này ở đây, nó thực sự nhỏ được cấy sau lưng (dưới da), đây là dây điện cực nhỏ được cấy vào cột sống, còn đây là thiết bị cầm tay mà bệnh nhân dùng để điều chỉnh các kích thích.
- Cảm nhận đau giảm từ 9 còn 2 thực sự là thiết bị thay đổi cuộc sống, liệu thiết bị này có lâu dài không?
- nó có thể, do loại Pin này thời gian sử dụng tới 9 năm,
- Vậy giá của thiết bị này thế nào?
- Khoảng 30 000 usd chỉ tính riêng cho thiết bị chưa bao gồm viện phí và các chi phí khác nhưng thường được bảo hiểm chi trả (Việt Nam chưa được- người dich)

Điều trị đau mãn tínhBị đau mãn tính có thể ảnh hưởng đến tâm lý, cảm xúc, khả năng vận động, sự linh hoạt của cơ thể và...
22/10/2020

Điều trị đau mãn tính

Bị đau mãn tính có thể ảnh hưởng đến tâm lý, cảm xúc, khả năng vận động, sự linh hoạt của cơ thể và cả khả năng chịu đựng bởi những cơn đau. Để giảm cơn đau mãn tính thì người bệnh cần được chẩn đoán và xử trí sớm từ các bác sĩ chuyên khoa.

Đau mạn tính là gì?
Đau kéo dài hơn 3-6 tháng gọi là đau mạn tính. Một số loại đau có thể không chữa khỏi được. Nhưng nếu được điều trị thì cơn đau cũng có thể giảm bớt. Và đòi hỏi người bệnh phải có sự lựa chọn đúng cho quá trình điều trị. Sự lựa chọn này phụ thuộc vào:

Cơ chế của cơn đau
Khoảng thời gian cơn đau kéo dài
Nó ảnh hưởng tồi tệ như thế nào
Cái gì làm cho cơn đau ngày càng tăng hoặc giảm
Vị trí đau ở chỗ nào, hướng lan của cơn đau...
Các phương pháp điều trị đau mãn tính đã thay đổi nhiều trong năm qua, và các chuyên gia nghiên cứu đã chứng minh rằng có thể sử dụng nhiều lựa chọn cùng nhau để giúp cơn đau thuyên giảm mang lại cảm giác thoải mái cho người bệnh.

Phương pháp điều trị giảm đau mãn tính

Cắt đốt thần kinh bằng sóng cao tần (RFA)

Cắt bỏ bằng tần số bức xạ cao tần (RFA) nhắm vào các dây thần kinh gửi tín hiệu đau đến não. Bác sĩ sẽ sử dụng một cây kim có đầu nóng và đặt gần với dây thần kinh. Hơi nóng sẽ làm cho dây thần kinh không thể truyền tín hiệu đau đến não nữa.

Việc điều trị đau mãn tính này giúp giảm nhiều loại đau bao gồm viêm khớp và các bệnh liên quan đến thần kinh. Nghiên cứu cho thấy, phương pháp này cũng giúp giảm đau lưng và đau hông. Ngoài ra, nó cũng có thể làm giảm đau mãn tính ở các vị trí như đầu gối và cổ.

Một loại điều trị cải tiến của phương pháp này gọi là làm lạnh cùng với cắt bỏ tần số bức xạ RFA có thể điều trị giảm đau mãn tính tốt hơn so với điều trị cắt bỏ tần số bức xạ RFA thông thường.

Cắt bỏ tần số bức xạ RFA có thể giảm đau trong 8 tháng đến một năm. Sau đó, bác sĩ sẽ sử dụng liệu pháp này điều trị đau mãn tính thêm một lần nữa để làm giảm tối đa các cơn đau có thể xảy ra.

Tiêm giảm đau

Phương pháp này thường được cung cấp thuốc trực tiếp tại vị trí gây đau. Bác sĩ sẽ sử dụng tia X để tìm vị trí tiêm thuốc thuận lợi nhất. Đồng thời, bác sĩ cũng sẽ chọn loại thuốc có tác dụng tốt nhất cho từng vị trí được tiêm. Steroid và thuốc gây tê cục bộ (thuốc giảm đau) thường được sử dụng cùng nhau. Thuốc gây tê cục bộ làm tê liệt dây thần kinh hoặc cơ còn steroid làm giảm viêm và giảm đau.

Có nhiều loại mũi tiêm được sử dụng cho điều trị đau mãn tính. Một trong số đó là:

Tiêm steroid ngoài màng cứng có thể làm giảm đau cho các vấn đề về đĩa đệm như thoát vị đĩa đệm.
Tiêm điểm kích hoạt hoạt động trên cơ bắp. Đôi khi, những điểm kích hoạt này quá chặt khiến chúng chèn ép dây thần kinh và dẫn đến đau ở các vị trí khác của cơ thể.
Phongt bế các đám rối thần kinh hoặc các dây thần kinh dọc theo cột sốt dẫn cảm giác đau đến khu vực khác trong cơ thể chẳng hạn như cánh tay hay chân.
Lợi ích của phương pháp này có thể kéo dài từ 4 tuần đến 1 năm, tuỳ thuộc vào loại đau, nguồn gốc cơn đau và mức độ tiến triển của bệnh. Đôi khi cần phải tiến hành một loạt các mũi tiêm để kết quả điều trị có thể kéo dài.

Để giảm đau mãn tính lâu hơn, bác sĩ có thể đề nghị sử dụng máy bơm giảm đau. Bơm được cấy ghép vào vị trí thường ở gần cột sống. Máy bơm sẽ cung cấp thuốc từ từ và quy trình hoạt động của máy được bác sĩ thiết lập tự động.

Opioids

Bác sĩ có thể kê toa những loại thuốc này để giúp giảm đau mãn tính. Chúng có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm tín hiệu đau ở não hoặc tủy sống. Những loại thuốc này có tác dụng hiệu quả với những cơn đau dữ dội. Nhưng chúng cũng có nhiều tác dụng phụ như:

Buồn ngủ
Buồn nôn hoặc nôn
Tâm trạng hoang mang
Chóng mặt
Táo bón, bí tiểu, ngứa...

Ngoài ra nhóm thuốc này còn có thêm các tác dụng phụ khác chẳng hạn như gây nghiện. Trong trường hợp sử dụng quá liều những loại thuốc này có thể khiến cho tình trạng trầm trọng như ngừng thở và gây ra tử vong. Đây là tình trạng rủi ro khi sử dụng liều quá cao hoặc khi sử dụng cùng với các loại thuốc khác hoặc sử dụng cùng với rượu.

Thuốc này sẽ giảm hiệu quả sau vài tháng sử dụng. Và tình trạng nghiện là phổ biến với những người sử dụng thuốc trong thời gian dài. Một trong những loại sử dụng an toàn nhất đó là buprenorphine. Nó có tác dụng ngăn chặn cơn đau như các Opioid khác, nhưng tác dụng của nó sẽ giảm dần ở liều cao hơn. Vì vậy, nó ít gây nghiện hơn. Đôi khi, các bác sĩ cũng sử dụng buprenorphine để điều trị gây nghiện opioid.

Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục nghiên cứu các loại thuốc mới để điều trị giảm đau mãn tính với ít tác dụng phụ hơn và khả năng gây nghiện ít hơn nhưng hiệu quả thuốc trong điều trị giảm đau mãn tính tốt hơn.

Kỹ thuật kích thích tủy sống (SCS)

sử dụng các điện cực được đưa vào khoang trên màng cứng của tủy sống qua phẫu thuật. Người bệnh có khả năng phát ra một xung điện tới tủy sống sử dụng một thiết bị nhận xung điện giống như chiếc hộp nhỏ.

Phương pháp bổ sung và thay thế

Những phương pháp như yoga, xoa bóp, châm cứu không phải là mới và đã có rất nhiều nghiên cứu để tìm hiểu về hiệu quả của những phương pháp này trong điều trị giảm đau mãn tính.

Châm cứu là cách đặt kim nhỏ trên da tại một số điểm nhất định của cơ thể. Nhiều nghiên cứu cho thấy nó có thể làm giảm đau thắt lưng và giảm đau khớp do viêm khớp.

Mát xa hay xoa bóp, điều chỉnh cột sống và yoga có thể giúp cho một số người bị đau thắt lưng giảm được cơn đau. Tuy nhiên, đây chỉ là những phương pháp ngắn hạn.
..Bài sưu tầm...

Khảo sát cơ cấu, tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến đau mạn tính tại thành phố Hồ Chí Minh. (phần II)BÀN LUẬN1. Đặc điểm ...
22/10/2020

Khảo sát cơ cấu, tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến đau mạn tính tại thành phố Hồ Chí Minh. (phần II)

BÀN LUẬN

1. Đặc điểm chung

Đau mạn tính ở cư dân thành phố Hồ Chí Minh là một trong những vấn đề sức khỏe cần được quan tâm, vì theo nghiên cứu này tình trạng đau mạn tính ảnh hưởng đến 30,73% dân số, trong đó tỷ lệ mắc ở nữ 32,67% cao hơn ở nam 26,57%. Ước lượng sẽ có đến hơn 3 triệu dân TPHCM mắc chứng đau này. Như vậy, chúng ta có thể thấy rõ số bác sĩ chuyên khoa đau chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân.

Điều này phù hợp với khảo sát của Arthus G. Cosby và cộng sự thực hiện tại Mississippi có tỷ lệ đau ít nhất 1 tháng là 37% và với 20-25 bác sĩ chuyên khoa đau của bang sẽ không đáp ứng việc điều trị cho 37% dân cư bang Mississippi [1]. Nghiên cứu này cũng phù hợp với các nghiên cứu của Catherine B. Johannes và cộng sự tại Mỹ [2]; Didier Bouhassira và cộng sự tại Pháp [3]; Dwight E. Moulin và cộng sự tại Canada [4]; Érica Brandão de Moraes Vieira và cộng sự tại São Luís, Brazil [5]; R Fielding và cộng sự tại Hồng Kông [9].

Nghiên cứu này chưa phù hợp với các nghiên cứu của Henry Lu tại Philippines [6]; MS Cardosa tại Malaysia [7]; Per Sjoren và cộng sự tại Denmark [8]; Tay Kwang Hui [10]. Những lý do dẫn đến sự chưa phù hợp có thể do cấu trúc dân số (già hoặc trẻ), có thể do khái niệm đau khác nhau, có thể do khác biệt văn hóa dẫn đến định nghĩa và hiểu đau khác nhau, …

Tỷ lệ đau mạn tính tăng dần theo nhóm tuổi tăng cao dần,phù hợp với các nghiên cứu [2, 3, 4, 5, 6, 7, 8,10]. Tuổi tăng có thể tăng tỷ lệ mắc các bệnh mạn tính không lây là một trong những nguyên nhân gây đau mạn tính.

Tỷ lệ đau nhiều nhất ở người đã nghỉ hưu (65,63%), người cao tuổi (53,51%) và người thất nghiệp (32,26%), phù hợp với các nghiên cứu [3, 5, 7]. Người nghỉ hưu, cao tuổi có tỷ lệ đau mạn tính cao hơn có thể do ảnh hưởng của tuổi tác. Nhưng những người thất nghiệp có tỷ lệ đau nhiều có thể do kém vận động ảnh hưởng sức cơ, độ dẻo dai của cơ xương khớp, khả năng ứng phó với stress của cơ thể,….

Người có trình độ học vấn thấp nhất có tỷ lệ đau nhiều nhất.Ngược lại, người có trình độ học vấn cao có tỷ lệ đau thấp hơn.Kết quả trên phù hợp với nghiên cứu [5, 8].Trình độ học vấn cao thường tương ứng với sự hiểu biết tốt hơn về bệnh tật, giúp phòng ngừa và điều trị tốt hơn trong đó góp phần làm giảm tỷ lệ đau mạn tính.

Những người thu nhập thấp có tỷ lệ đau nhiều hơn. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu [2,4,5,7,10].

Những người độc thân có tỷ lệ đau thấp nhất, phù hợp với nghiên cứu [2, 5, 8].Kết quả này có thể do những người độc thân có nhiều điều kiện chăm sóc sức khỏe cho mình tốt hơn.

2. Đặc điểm đau mạn tính

Vị trí đau mạn tính thường gặp nhất là khớp gối (36,98%), thắt lưng (30,18%), vùng đầu mặt (15,38%) và khớp vai (14,20%). Đây là những vị trí cần sự cử động nhiều nên dễ bị tổn thương gây đau.

Điều này phù hợp với các nghiên cứuArthus G. Cosby và cộng sự tại Mississippi cho thấy đau thắt lưng (49%), chân – khớp gối (41%), vai – cánh tay (20%) [1];Catherine B. Johannes và cộng sự tại Mỹ với đau nhiều nhất vùng thắt lưng[2];Dwight E. Moulin và cộng sự tại Canada ghi nhận vị trí đau phổ biến nhất là lưng (35%), chân (21%), đầu (15%) và cổ (14%); trong đó 44% xuất phát từ bệnh lý khớp [4];Érica Brandão de Moraes Vieira và cộng sự tại São Luís, Brazil nhận xét đau thường gặp nhất ở chi (51%), đầu (36%) [5].

Mức độ đau trung bình 4,675 ± 2,290. Mức độ đau phổ biến là 4,1- 6 (33,94%). Mức độ đau từ trung bình trở lên 4,1- 10chiếm tỷ lệ khá cao (59,39%).Điều này phù hợp với nghiên cứucủa Catherine B. Johannes và cộng sự, một nửa đau hàng ngày ở mức trung bình trong 3 tháng qua, đau nhiều (>7 theo thang điểm 0-10) là 32% [2];Didier Bouhassira và cộng sự ghi nhận mức độ đau trung bình 4,5 ± 2,1 ; 33,9% đau nhẹ, 46,5% đau vừa (mức đau 4-6), 16,1% đau nhiều (mức đau 7-10) [3];Dwight E. Moulin và cộng sự nhận xét mức độ đau trung bình 6,3 ; 20,3% đau nhẹ, 47,9% đau vừa, 31,7% đau nhiều [4]; Érica Brandão de Moraes Vieira và cộng sự nhận xét đau nhẹ 20,7%, đau vừa 57,7%, đau nhiều 21,6% [5].

Trong số những bệnh nhân đi khám bệnh, 66,03% hài lòng về kết quả điều trị và chăm sóc, 17,93% không ý kiến và 16,04% không hài lòng. Điều này cho thấy sự chăm sóc y tế vẫn còn chưa đáp ứng được nhu cầu của 33,97% bệnh nhân đau. Tuy nhiên, khi so sánh với số liệu của nghiên cứu Érica Brandão de Moraes Vieira và cộng sự ghi nhận 55% bệnh nhân không hài lòng với điều trị [5], nhiều hơn số liệu của chúng tôi.

Đau mạn tính gây khó chịu đối với 86,39% bệnh nhân và ảnh hưởng công việc đối với 77,51% bệnh nhân. Vì thế, việc chẩn đoán, điều trị và chăm sóc bệnh nhân đau mạn tính một cách hiệu quả rất quan trọng để giảm thiểu những ảnh hưởng xấu tác động lên bệnh nhân. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Arthus G. Cosby và cộng sự cho thấy bệnh nhân đau vừa và nhiều ít nhất trong 1 tháng có ảnh hưởng không tốt đến giấc ngủ (84%), công việc (68%), hoạt động vui chơi giải trí (78%), quan hệ tình dục (43%), quan hệ với những người khác (36%) và tình trạng sức khỏe tâm thần (lo âu 66%, trầm cảm 63%, cảm giác cô đơn 46%) [1];Érica Brandão de Moraes Vieira và cộng sự ghi nhận đau làm cản trở công việc 23,5%, hoạt động hàng ngày 21,7%, vui chơi giải trí 6,1%, gây buồn bã 47,2% [5].

Chi phí điều trị đau mạn tính trong 6 tháng rất thay đổi tùy từng trường hợp, tối thiểu 0 đ, tối đa 98.800.000 đ, trung bình : 2.120.000 ± 7.178.796 đ, trung vị : 500.000 đ; khoảng cách tứ phân vị : 75.000 đ; 2.280.000 đ.

Đau mạn tính làm tiêu tốn ở Mỹ hơn 40 tỷ USD/ năm [4], đây là một chi phí lớn kể cả đối với quốc gia giàu mạnh. Nếu so sánh với chi phí điều trị đau mạn tính tại Việt Nam sẽ là khập khiễng. Tuy nhiên, khảo sát này cho thấy hàng tháng bệnh nhân đau mạn tính cũng có một chi phí nhất định cho việc điều trị chỉ riêng một chứng đau mạn tính được dành ra từ nguồn thu nhập của mình, nhất là đối với những người cao tuổi, hưu trí, thất nghiệp,…có nguồn thu nhập rất thấp.

V. KẾT LUẬN

Đau mạn tính là một trong những vấn đề sức khỏe cần được quan tâm của người dân thành phố Hồ Chí Minh vì tỷ lệ mắc khá cao 30,73%, nhất là đối với phụ nữ, người cao tuổi, người thất nghiệp, hưu trí, người có trình độ học vấn thấp, thu nhập thấp, phụ nữ đông con.

Vị trí đau phổ biến nhất là khớp gối, thắt lưng, đau vùng đầu mặt. Hơn một nửa số bệnh nhân (59,39%) chịu đựng mức độ đau từ vừa đến dữ dội. Đau mạn tính còn gây ảnh hưởng không tốt đến cảm xúc của 86,35% bệnh nhân và đến công việc đối với 77,51%bệnh nhân.

Tuy nhiên, nơi ưu tiên bệnh nhân đến để giải quyết tình trạng đau của mình: đi bác sĩ (cả công lập và tư nhân) chỉ chiếm 31,06%, tự mua thuốc 16,57% và đáng lưu ý vẫn còn 40,24% bệnh nhân tự điều trị. Tính dọc suốt thời gian đau, chỉ có 62,72% bệnh nhân đi khám bệnh, trong đó có đến 24,52% đi khám muộn sau khởi phát bệnh 1 tháng.

Mặc dù có đến gần 1/3 dân cư thành phố bị đau mạn tính nhưng số cơ sở y tế và bác sĩ chuyên về đau vẫn còn khá khiêm tốn, hy vọng rằng trong tương lai vấn đề đau mạn tính sẽ được quan tâm nhiều hơn nhằm mang lại sự chăm sóc sức khỏe tốt hơn cho bệnh nhân.

Nguồn: Hội thần kinh học Việt Nam

Address

Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Y Tế Công Nghệ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share