Bác Sĩ Thành

Bác Sĩ Thành Bác sĩ Da liễu Thẩm mỹ Bác sĩ Thành, ông là ai?

Bác sĩ Thành là nhà điều trị, nhà đào tạo lĩnh vực da liễu thẩm mỹ, ông tốt nghiệp bác sĩ đại học Y Hà Nội, ông có nhiều kinh nghiệm chuyên sâu trong thực hành thẩm mỹ, trực tiếp tư vấn và điều trị cho hàng nghìn khách hàng mỗi năm về các vấn đề da liễu thẩm mỹ.

       CÓ NHẤT THIẾT PHẢI DÙNG KEM CHỐNG NẮNG MỖI NGÀY?Nói trước luôn, bác sĩ Thành là người dùng KCN mỗi ngày. Thực tế,...
17/07/2025



CÓ NHẤT THIẾT PHẢI DÙNG KEM CHỐNG NẮNG MỖI NGÀY?

Nói trước luôn, bác sĩ Thành là người dùng KCN mỗi ngày. Thực tế, có một nghiên cứu cho thấy kết cấu da, độ trong và sắc tố da được cải thiện chỉ bằng cách thoa kem chống nắng hàng ngày (BS sẽ để link nghiên cứu phía dưới), vì vậy làn da của bạn có khả năng tự phục hồi nếu bạn cắt giảm lượng tia cực tím chiếu vào nó.
Nhưng (Các bạn hay bảo đằng sau chữ “Nhưng” mới là bắt đầu, BS học theo 😛)
Nếu khẳng định cứ nhất thiết phải thoa hằng ngày bất kể trường hợp nào cũng phải dùng KCN thì liệu có đúng? (mà suy nghĩ này cũng rất phổ biến). Trong khuôn khổ bài viết này chúng ta cùng xem có ngoại lệ nào hay không?

NHỮNG TRƯỜNG HỢP KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI DÙNG KCN:
1. Chỉ số tia cực tím trong ngày thấp
Trước tiên phải khẳng định lại rằng việc dùng KCN mục tiêu là ngăn cản tia UV tác động đến da, vì vậy dễ thấy rằng khi không có tia UV (hoặc khi chỉ số UV ở ngưỡng rất thấp) thì có thể không cần dùng KCN:
Điều này phụ thuộc vào chỉ số tia UV:

Khi chỉ số tia cực tím từ 3 trở lên vào giữa ngày, bạn nên sử dụng biện pháp chống nắng nếu ra ngoài lâu hơn vài phút. Ngay cả khi chống nắng, da bạn vẫn có thể sản xuất đủ vitamin D.

Khi chỉ số tia cực tím dưới 3, có thể không cần dùng KCN.
Đây là sự thống nhất các cảnh báo từ chuyên gia da liễu cũng như nội tiết, sức khỏe xương và ung thư. Tổ chức Y tế Thế giới cũng có hướng dẫn tương tự (link hướng dẫn của WHO phía dưới nhé).

Chúng nhằm mục đích cân bằng giữa rủi ro sức khỏe và lợi ích của việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời - chủ yếu là sản xuất vitamin D.
Ngay cả đối với những người có làn da trắng rất nhạy cảm, nguy cơ bị tổn thương ngắn hạn và dài hạn do tia cực tím khi chỉ số UV từ 2 trở xuống là hạn chế và trong các trường hợp bình thường, không cần có biện pháp bảo vệ nào.

Vậy ở trường hợp này, nếu các bạn đang có ý định ra ngoài mà không thoa KCN, các bạn chỉ cần xem dự báo thời tiết xem mức UV để quyết định có cần thoa KCN hay không, và chú ý chỉ số UV rất khác nhau ở các thời điểm trong ngày.
Các bạn có thể xem chỉ số UV ở ứng dụng thời tiết mặc định của I.phone hoặc tải app xem UV trên điện thoại là được nhé.

2. Khi ở trong nhà
Đối với hầu hết mọi người, có lẽ là không cần dùng KCN – bạn có thể không nhận đủ tia cực tím trong nhà. Kính cửa sổ chặn gần như toàn bộ tia UVB, nhưng tia UVA vẫn xuyên qua được và điều đó có khả năng gây lão hóa sớm và xuất hiện sắc tố. Nhưng mái nhà và các bức tường có thể đang chặn phần lớn ánh sáng, trừ khi bạn có ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào da qua cửa sổ hoặc nếu bạn ở ngay cạnh một cửa sổ lớn và bạn có thể nhìn thấy nhiều bầu trời qua đó.
Màn hình máy tính và màn hình điện thoại không tạo ra đủ ánh sáng gây hại để lo lắng trừ khi bạn có một tình trạng đặc biệt (bạn sẽ biết nếu bạn có). Đèn huỳnh quang cũng không tạo ra nhiều tia cực tím nếu chúng được sản xuất đúng quy chuẩn và đủ điều kiện che chắn, có thể hãy cẩn thận nếu bạn có bóng đèn trần, đặc biệt là bóng đèn cũ.
Vì vậy nếu ở trong nhà trong hầu hết thời gian hằng ngày và làm việc ở vị trí không gần cửa sổ thì bạn có thể không cần dùng KCN.

3. Một số tình trạng da đặc biệt
+ Tình trạng mụn trứng cá nặng: Việc dùng kem chống nắng ngay có vẻ chưa cần thiết, ưu tiên trước tiên là điều trị mụn trứng cá. Trong trường hợp bị mụn trứng cá nặng việc dùng thêm KCN có thể gây tình trạng bít tắc lỗ chân lông trở nên nghiêm trọng hơn. Việc bạn thoa KCN bằng tay và tẩy trang vào buổi tối có thể làm các nốt mụn sưng viêm hơn do kích thích viêm do ma sát, và việc cần dùng nhiều bước làm sạch hơn có thể khiến hàng rào bảo vệ tự nhiên trên da bạn càng suy yếu.
Vì vậy trường hợp bị mụn nặng, bạn nên tập trung điều trị mụn trước có thể sẽ mất vài tháng để kiểm soát mụn, sau đó bạn dùng KCN cũng chưa muộn. Trong lúc không dùng KCN bạn vẫn có thể tránh nắng bằng cách kết hợp che chắn nắng bằng mũ, nón, áo, vào bóng râm, ở trong nhà…
+ Da đang ở đợt cấp của tình trạng dị ứng: Khi da đang có tình trạng dị ứng với một hoạt chất mà bạn chưa biết rõ, và đang ở giai đoạn có những biểu hiện rầm rộ: ngứa, nổi mụn nước, ban đỏ, sẩn…Bạn nên được thăm khám và hướng dẫn điều trị bởi bác sĩ để nhanh chóng kiểm soát tình trạng dị ứng trước khi quyết định thoa lên da bất kể thứ gì, ngay cả KCN.
+ Da đang có vết thương hở: rõ ràng việc giữ cho vết thương không bị nhiễm trùng và nhanh hồi phục sẽ quan trọng nhất. Tùy loại vết thương sẽ có hướng dẫn chăm sóc khác nhau. Nhưng KCN chỉ thích hợp ở giai đoạn sau khi vết thương đã liền và không còn nguy cơ nhiễm trùng nữa. Việc thoa KCN lúc này để hạn chế vùng da lành thương bị thâm lâu và tạo điều kiện để vết thương tái tạo tốt hơn.

4. Bạn không thích KCN :))
KCN đúng ra là có thể giúp chúng ta trẻ lâu hơn, nhưng nếu bạn không thích KCN thì bạn vẫn có rất nhiều cách để chống lại nguy cơ từ tia UV và khắc phục những dấu hiệu lão hóa (bảo vệ da bằng che chắn, ăn uống, sinh hoạt khoa học, có thể kết hợp dùng những hoạt chất trẻ hóa, dùng máy móc công nghệ hiện có…), có thể bạn sẽ vất vả hơn trong việc chống lại những hậu quả do tia UV đã tác động lên da nhưng ngược lại bạn chẳng phải chịu những khó chịu của việc thoa KCN đã khiến bạn chẳng thể thể thích được chúng.
Dùng KCN có lẽ mới gần đây mới trở nên phổ biến, BS cũng đã được gặp rất nhiều khách hàng trước giờ không dùng KCN mà nhìn họ vẫn rất trẻ. Đặc điểm thường thấy là họ có tinh thần thoải mái, vui vẻ, ăn uống khoa học…

LƯU Ý:
Có những trường hợp bác sĩ vẫn khuyên bạn nên cân nhắc dùng KCN:
Da lão hóa sớm.
Da đang có tình trạng thâm nám.
Da đang sử dụng các hoạt chất treatment AHA, BHA, Retinoids…. Những thứ này có thể làm cho làn da của bạn nhạy cảm hơn với tia cực tím, vì vậy nếu bạn không bôi kem chống nắng, việc chăm sóc da chống lão hóa của bạn thực sự có thể khiến da bạn lão hóa nhanh hơn, điều này là sự thật.
Công việc của bạn tiếp xúc thường xuyên, liên tục với ánh nắng.

TÓM LẠI
Lợi ích của KCN là không thể phủ nhận, nhưng nó không phải là điều gì đó bắt buộc (giống như nước uống) khiến chúng ta phải dùng mỗi ngày, bạn có thể rơi vào một số trường hợp như thế này:
+ Bạn rất thích KCN: hãy dùng chúng nhiều lần mỗi ngày.
+ Bạn hơi thích KCN và vẫn sợ tia UV làm bạn già nhanh hơn: Hãy thoa KCN nhưng có thể không sử dụng chúng nếu ở vào một số trường hợp BS đưa ra ở trên.
+ Bạn không thích KCN nhưng vẫn muốn trẻ lâu: sử dụng hay không tùy mong muốn của bạn. (Không dùng thì phải che chắn kỹ nha)
+ Bạn không thích sử dụng KCN: thì thôi không dùng nữa, dùng các biện pháp chống lão hóa khác, còn rất nhiều phương pháp chống lão hóa.

BS nói tới đây có lẽ các bạn cũng đã thấy rằng: không nhất thiết ngày nào cũng phải dùng KCN, hãy đọc và tham khảo một vài trường hợp ngoại lệ kể trên, để bạn có thể đưa ra quyết định tốt nhất cho tình huống của mình. Việc lựa chọn vẫn là của các bạn mà thôi!

Riêng bác sĩ thì quyết định là vẫn bôi đều đặn. Hơi hèn :)) Thà phòng hơn chữa. Vì Tia cực tím của mặt trời vẫn là một trong các nguyên nhân lớn nhất gây lão hóa và nám da, ung thư da. Phòng ngừa dễ dàng và hiệu quả hơn nhiều so với việc cố gắng khắc phục thiệt hại sau đó, và nó thường rẻ hơn – đặc biệt là khi tổn thương sâu hơn mà bạn sẽ cần các quy trình để giải quyết chứ không chỉ chăm sóc da.
Nếu không thoa kem chống nắng, điều đó có nghĩa là các sản phẩm chăm sóc da phải làm việc chăm chỉ hơn để đạt được kết quả. Việc khắc phục hậu quả của một sự việc đã xảy ra bao giờ cũng là hạ sách, thay vì vậy tốt hơn nếu ta phòng tránh được nó đúng không. Vì vậy, nếu chặn một loạt tia cực tím hoặc những tia có hại tương tự như vậy – sản phẩm của bạn sẽ có thể hoạt động tốt hơn.
Còn các bạn thì lựa chọn thế nào? Nói bác sĩ biết với nhé.

Bác Sĩ Thành (Founder Delaxi Beauty & Clinic)

_______________
*Bài viết thuộc quyền sở hữu của bác sĩ Thành và group Đồng Điệu. Đề nghị không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý của tác giả.

*Bài viết độc lập, không được tài trợ bởi bất cứ nhãn hàng nào.

DÙNG KCN 2 ĐỐT NGÓN TAY CÓ THỪA THÃI?Kem chống nắng là một trong những cách quan trọng nhất để bảo vệ làn da của bạn ở b...
12/07/2025

DÙNG KCN 2 ĐỐT NGÓN TAY CÓ THỪA THÃI?

Kem chống nắng là một trong những cách quan trọng nhất để bảo vệ làn da của bạn ở bất kỳ độ tuổi nào. Khi sử dụng thường xuyên, kem chống nắng cho mặt và cơ thể giúp ngăn ngừa cháy nắng, ung thư da và các dấu hiệu lão hóa sớm. Đây là điều không cần bàn cãi nữa, đã có rất nhiều nghiên cứu nói về lợi ích của KCN. Và việc của chúng ta là đảm bảo thoa KCN đúng cách.
Đúng cách ở đây là đủ số lần, đủ lượng kem cho mỗi lần. Và câu hỏi lượng kem cho mỗi lần như thế nào là đủ lại gây tranh cãi. Gần đây BS thấy có ý kiến cho rằng: “Việc dùng KCN 2 đốt ngón tay có phải thừa thãi, là thuyết âm mưu của nhà tư bản?”

1/ BÔI KEM CHỐNG NẮNG 2 ĐỐT NGÓN TAY CÓ CHỨNG CỨ KHOA HỌC KHÔNG?
Đầu tiên phải nói rằng chúng ta dùng tay để thoa KCN, nên việc dùng ngón tay ước lượng lượng KCN để thoa cho các vùng khác nhau trên cơ thể là vô cùng thuận tiện, không cần dùng thêm bất cứ một thiết bị nào khác để đong đếm lượng KCN, khiến cho việc sử dụng trở nên dễ dàng. Tiết kiệm thời gian và công sức.
Vậy với 2 đốt ngón tay cho vùng mặt đã đủ lượng KCN cần thiết hay chưa? Để xem xét câu hỏi này và tìm câu trả lời, chúng ta cần có một căn cứ dựa theo những nghiên cứu đã được thực hiện. Chắc hẳn mọi người đã nghe tới con số 2mg/cm2 da. Đây là một con số có thực được xác đinh bởi các nghiên cứu về khả năng bảo vệ của KCN. Theo đó để đạt được SPF(chỉ số thể hiện khả năng ngăn cản tia UVB tác động lên da) và PA(thể hiện khả năng ngăn cản tia UVA) trên nhãn chỉ đạt được khi thoa đủ lượng KCN là 2mg/cm2 da. Các bạn có thể tham khảo rất nhiều nghiên cứu nói về kết luận này, BS chọn một nghiên cứu đại diện và để link ở phía dưới để các bạn tiện theo dõi.
Chúng ta cùng so sánh con số 2mg/cm2 và sự ước lượng 2 đốt ngón tay mà chúng ta nhắc đến ở đây.

Đầu tiên cùng quy về lượng KCN dùng cho khuôn mặt:
+ 2mg/cm2: Với 1 khuôn mặt nam hoặc nữ trung bình có diện tích dao động từ 300 – 500 cm2. Nếu lấy con số 300 - 500cm2 để tính ra lượng KCN cần thiết cho 1 lần thoa là: 300*2=600mg=0,6g và 500*2=1000mg=1g. Như vậy con số dao động từ 0,6-1g KCN cho riêng vùng mặt.
+ 2 Đốt ngón tay (lóng ngón tay): Trong y học, một đơn vị đầu ngón tay (FTU) là lượng thuốc mỡ, kem hay dạng bán rắn khác lấy ra từ tuýp thuốc có đường kính miệng 5mm tính từ nếp gấp của đốt xa(nếp gần đầu ngón tay nhất) đến đầu ngón tay của một người lớn. (nguồn: link ở dưới phần bình luận)
Một đơn vị lóng ngón tay được mô tả là lượng kem được bóp ra dài bằng 1 lóng tay như hình.
Khối lượng kem cho mỗi đơn vị lóng tay rất khác nhau ở các đối tượng
- Ở nam: 1 đơn vị lóng tay (FTU) tương đương với 0.5g
- Ở nữ: 1 đơn vị lóng tay (FTU) tương đương với 0.4g
- Với trẻ 4 tuổi: tương đương 1/3 người lớn.
- Trẻ 6 tháng-1 tuổi: tương đương ¼ người lớn
Vậy 2 đốt ngón tay người lớn tương đương 2 FTU dao động từ 0.8-1g lượng KCN nếu kem được lấy đảm bảo những tiêu chuẩn trên.
Như vậy về mặt tính toán so sánh ở trên việc lấy khoảng hơn 1 đến 2 đốt ngón tay sẽ ra được lượng KCN đủ cho 1 khuôn mặt có diện tích 300 - 500cm2. Tùy vào kích thước khuôn mặt mà các bạn có thể căn.
Phép đo này đã được đề xuất trong một lá thư viết cho Tạp chí Y học Anh năm 2002, trong đó nêu bật một quy tắc chung về cách chúng ta bôi dưới lượng kem chống nắng mà chúng ta cần. Đây là một cách đo phổ biến và lấy được lượng KCN tương đối đủ cho hầu hết mọi người. Và thuận tiện trong thực hành.
*Một cách đo khác:
Theo Quy tắc số 9 của Wallace: diện tích đầu + mặt + cổ của 1 người chiếm 9% diện tích toàn bộ cơ thể. Như vậy vùng mặt và trước cổ chiếm diện tích khoảng 4.5% tương ứng với lượng KCN thoa đủ cho mặt và mặt trước cổ là ¼ thìa coffee. Với vùng mặt sẽ cần ít hơn ¼ thìa coffee.
Cái này bác sĩ chia sẻ thêm, bạn nào thấy rối quá có thể bỏ qua.

TÓM LẠI:
Qua phân tích ở trên chắc hẳn chúng ta cũng thấy rằng việc lấy 1 lượng KCN với 2 đốt ngón tay là có cơ sở khoa học, rất thuận tiện áp dụng và với lượng KCN lấy đúng cách, đủ tiêu chuẩn(đường kính miệng 5mm, dạng mỡ hay kem) thì lượng KCN đa phần đủ cho toàn bộ khuôn mặt của tất cả mọi người. Vì vậy đây có lẽ không phải thuyết âm mưu.

2/ MỘT SỐ CHÚ Ý ĐỂ DÙNG KCN HIỆU QUẢ:
+ KCN bị giảm số lượng do mồ hôi, tác động của ánh sáng, điều kiện môi trường. Nên thoa lại 2h/lần, đặc biệt với người hoạt động trong điều kiện tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.
+ Hoạt động trong môi trường nước: sử dụng KCN chống nước rửa trôi.
+ Kết hợp các biện pháp che chắn vật lý khác: mũ rộng vành, áo chống nắng, vào khu vực bóng râm.
+ Uống vitamin D để bổ sung thêm vitamin D cho cơ thể.

3/ NHỮNG KHÓ KHĂN THỰC TẾ KHI DÙNG KCN THEO CÁCH NÀY:
Bác sĩ biết với 1 số loại KCN nếu bôi như vậy thường sẽ trắng mặt hoặc quá bóng.
Nếu bạn thấy không thoải mái thuận tiện trong việc dùng 2 đốt ngón tay thì bạn có thể bôi ít hơn. Điều này nghĩa là bạn chấp nhận giảm chỉ số SPF/PA trong KCN của mình xuống, nhưng có bôi thì vẫn tốt hơn không bôi. Vì vậy bạn cần dùng thêm các đồ che chắn vật lý như khẩu trang vải tối màu để hỗ trợ. (Cái này là hạ sách nha). Vì bác sĩ luôn chú trọng đến việc tinh thần thoải mái. Những bạn làm công việc trực tiếp ngoài trời thì bác sĩ khuyên bạn vẫn nên dùng đủ lượng.
Bạn có thể phủ thêm phấn để mặt bớt bóng dầu.
Với những bạn da quá nhiều mụn, cần ưu tiên điều trị mụn trước thì giai đoạn này các bạn có thể tạm ngưng KCN, nhưng vẫn phải che chắn vật lý nhé.
Tùy thuộc vào yếu tố công việc để các bạn quyết định có bôi lại KCN sau 2 tiếng/lần không, đương nhiên bôi được thì tốt. Nhưng xét về thực tế lượng UV trong ngày cũng sẽ giảm dần khi về chiều. Chính bác sĩ cũng không đảm bảo được ngày nào cũng bôi lại như vậy.
Sau cùng các bạn cũng đừng quá gò bó vì KCN, rồi hoang mang lo lắng khi mình không làm quá đúng nguyên tắc. Nhưng cũng cần phải hiểu rõ sự đánh đổi cũng như hiểu làn da của mình để tự đưa ra quyết định.

Bác sĩ Thành (Founder Delaxi Beauty & Clinic)


_______________
*Bài viết thuộc quyền sở hữu của bác sĩ Thành và group Đồng Điệu. Đề nghị không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý của tác giả.

*Bài viết độc lập, không được tài trợ bởi bất cứ nhãn hàng nào.

KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ MỤN TRỨNG CÁ (Phần 2)Phần 1(link bài viết P1 BS sẽ để dưới phần bình luận): BS Thành có nói về...
11/07/2025

KHÁNG SINH TRONG ĐIỀU TRỊ MỤN TRỨNG CÁ (Phần 2)

Phần 1(link bài viết P1 BS sẽ để dưới phần bình luận): BS Thành có nói về các kháng sinh dùng đường uống trong điều trị mụn trứng cá, phần 2 sẽ là các kháng sinh dùng tại chỗ, và một số biện pháp nhằm hạn chế tình trạng kháng kháng sinh. Mời các bạn cùng tìm hiểu phía dưới!

KHÁNG SINH TẠI CHỖ
Clindamycin
Clindamycin bôi tại chỗ là một trong những kháng sinh tại chỗ phổ biến nhất được sử dụng để điều trị mụn trứng cá, đặc biệt là mụn viêm từ nhẹ đến trung bình. Thuộc nhóm lincosamide, nó được đánh giá cao nhờ khả năng kiểm soát vi khuẩn và tính tiện lợi trong ứng dụng lâm sàng.

Cơ chế hoạt động

Clindamycin ức chế tổng hợp protein vi khuẩn bằng cách gắn vào tiểu đơn vị 50S của ribosome, ngăn Cutibacterium acnes phát triển – vi khuẩn chính gây mụn viêm.
Ngoài tác dụng kháng khuẩn, clindamycin có hiệu quả chống viêm nhẹ, giúp giảm sưng đỏ và kích ứng quanh tổn thương mụn.
Dạng bôi tại chỗ (gel, lotion, dung dịch 1%) cho phép tập trung tác động trực tiếp lên da, giảm thiểu hấp thu toàn thân.

Ưu điểm
Hiệu quả nhanh: Giảm số lượng và mức độ viêm của mụn trong 2–4 tuần.
Tác dụng phụ toàn thân thấp: Vào tuần hoàn rất ít, ít gây rối loạn tiêu hóa hay nhạy cảm ánh sáng như kháng sinh uống.
Dễ sử dụng: Nhiều dạng bào chế (gel, lotion, dung dịch) phù hợp với các loại da (da dầu, da khô).

Nhược điểm và lưu ý
Kháng thuốc: C. acnes kháng clindamycin ngày càng phổ biến, đặc biệt khi dùng đơn độc. Tỷ lệ kháng tại một số khu vực lên đến 40–60%, làm giảm hiệu quả nếu không kết hợp đúng cách.
Tác dụng phụ tại chỗ: Có thể gây khô da, đỏ nhẹ, hoặc kích ứng (thường giảm sau 1–2 tuần).
Hiệu quả giới hạn: Không tác động đến mụn đầu đen hoặc mụn không viêm (do không làm thông thoáng lỗ chân lông).
Không dùng đơn độc: Các hướng dẫn khuyến cáo tránh dùng clindamycin tại chỗ một mình để ngăn kháng thuốc.

Erythromycin
Erythromycin bôi tại chỗ (thường ở nồng độ 2%, đôi khi 1% hoặc 4%, tùy dạng bào chế) là một kháng sinh thuộc nhóm macrolide, từng được sử dụng rộng rãi trong điều trị mụn trứng cá, đặc biệt là mụn viêm nhẹ đến trung bình. Tuy nhiên, vai trò của nó đã giảm dần trong những năm gần đây do vấn đề kháng thuốc ngày càng gia tăng. Dưới đây là phân tích chi tiết về erythromycin tại chỗ trong điều trị mụn:
Cơ chế hoạt động
Erythromycin ức chế tổng hợp protein vi khuẩn bằng cách gắn vào tiểu đơn vị 50S của ribosome, ngăn Cutibacterium acnes (trước đây là Propionibacterium acnes) phát triển – nguyên nhân chính gây mụn viêm.
Nó cũng có tác dụng chống viêm nhẹ, giúp giảm sưng và đỏ ở các tổn thương mụn.
Dạng bôi tại chỗ (gel, dung dịch, kem) tập trung tác động lên da, ít hấp thu toàn thân.
Ưu điểm
An toàn: Hấp thu toàn thân rất thấp, ít tác dụng phụ nghiêm trọng (chủ yếu kích ứng tại chỗ như khô da, đỏ nhẹ).
Dung nạp tốt: Phù hợp với da nhạy cảm
Lịch sử sử dụng lâu dài: Đã được chứng minh hiệu quả trong quá khứ với mụn viêm.
Nhược điểm và lưu ý
Kháng thuốc nghiêm trọng: Tỷ lệ C. acnes kháng erythromycin rất cao (lên đến 50–70% ở nhiều khu vực), làm giảm đáng kể hiệu quả so với clindamycin hoặc các kháng sinh khác. Kháng chéo với clindamycin cũng là vấn đề lớn.
Hiệu quả giảm sút: Ít hiệu quả khi dùng đơn độc, đặc biệt ở những bệnh nhân đã từng dùng macrolide trước đó.
Tác dụng phụ tại chỗ: Gây khô da, b**g tróc, hoặc kích ứng nhẹ (thường tự giảm sau vài tuần).
Không tác động mụn không viêm: Không hiệu quả với mụn đầu đen hoặc bít tắc lỗ chân lông.
Ít được khuyến cáo: Các hướng dẫn hiện đại không ưu tiên erythromycin do kháng thuốc và có các lựa chọn tốt hơn.

Dapsone
Dapsone bôi tại chỗ là một lựa chọn độc đáo trong điều trị mụn trứng cá, Dapsone không được xếp vào nhóm kháng sinh truyền thống (như penicillin, tetracycline, hay macrolide). Thay vào đó, nó thuộc nhóm sulfon (hay sulfone), một lớp hợp chất hóa trị liệu kháng khuẩn nó có thể ức chế được Cutibacterium acnes (C. acnes), giảm viêm, ít gây kháng thuốc:
Cơ chế hoạt động
Cơ chế kháng khuẩn: Dapsone (diaminodiphenyl sulfone) là một hợp chất sulfon, hoạt động bằng cách ức chế tổng hợp axit folic – một chất thiết yếu cho sự phát triển của vi khuẩn. Cụ thể: Dapsone cạnh tranh với axit para-aminobenzoic (PABA), một tiền chất trong quá trình tổng hợp dihydrofolic acid, ngăn vi khuẩn sản xuất folate. C. acnes, dù là vi khuẩn kỵ khí phát triển chậm, vẫn phụ thuộc vào con đường sinh tổng hợp folate để tồn tại. Khi folate bị thiếu hụt, vi khuẩn không thể tổng hợp DNA, RNA và protein, dẫn đến sự phát triển bị kìm hãm hoặc chết.
Tuy nhiên, tác dụng kháng khuẩn của dapsone với C. acnes không mạnh bằng các kháng sinh như clindamycin hay erythromycin. Vai trò chính của nó trong điều trị mụn nằm ở khả năng chống viêm, trong khi tác dụng kháng khuẩn là phụ trợ.
Chống viêm
Cơ chế: Myeloperoxidase là enzyme được giải phóng bởi bạch cầu đa nhân (neutrophil) trong phản ứng viêm. Enzyme này xúc tác sản xuất hypochlorous acid (HOCl) – một gốc tự do mạnh gây tổn thương mô.
Tác động của Dapsone: Dapsone ngăn chặn hoạt động của MPO, giảm sản xuất HOCl và các chất oxy hóa khác, từ đó hạn chế phá hủy mô da quanh tổn thương mụn.
Điều này đặc biệt hữu ích trong mụn viêm (mụn sẩn, mụn mủ), nơi neutrophil tích tụ và gây sưng đỏ.

Ưu điểm
Chống viêm: Hiệu quả rõ rệt với mụn viêm, đặc biệt ở phụ nữ trưởng thành (mụn nội tiết).
Ít gây kháng thuốc: Vì không phải kháng sinh điển hình, dapsone không góp phần vào vấn đề kháng C. acnes – lợi thế lớn so với clindamycin/erythromycin.
Dung nạp tốt: Ít gây khô da hoặc kích ứng hơn benzoyl peroxide, phù hợp với da nhạy cảm.

Nhược điểm và lưu ý
Hiệu quả hạn chế với mụn không viêm: Không tác động nhiều đến mụn đầu đen hoặc bít tắc lỗ chân lông, đòi hỏi kết hợp với retinoid.
Tác dụng phụ tại chỗ: Khô da, đỏ nhẹ, hoặc cảm giác châm chích (thường nhẹ và thoáng qua). Khi dùng cùng benzoyl peroxide, có thể gây vàng da tạm thời (rửa sạch được).
Tác dụng toàn thân hiếm: Hấp thu qua da thấp, nhưng ở người thiếu G6PD (glucose-6-phosphate dehydrogenase), có nguy cơ nhỏ gây tan máu (dù hiếm với dạng bôi).
Hiệu quả chậm hơn: Có thể mất 8–12 tuần để thấy cải thiện rõ, chậm hơn kháng sinh tại chỗ trong vài trường hợp.
Lời khuyên cụ thể dành cho các bạn bị mụn trứng cá khi cần sử dụng kháng sinh bôi tại chỗ và kháng sinh đường uống để hạn chế tình trạng kháng kháng sinh:

Tuân thủ đúng hướng dẫn của bác sĩ
Uống hoặc bôi thuốc đúng liều, đúng thời gian, và không tự ý tăng/giảm liều hay ngừng sớm, ngay cả khi mụn cải thiện. Ví dụ: Nếu bác sĩ kê doxycycline 100 mg/ngày trong 8 tuần, đừng bỏ giữa chừng sau 4 tuần vì thấy “hết mụn”.
Không tự ý dùng thuốc thừa hoặc chia sẻ thuốc
Tránh dùng lại kháng sinh từ lần điều trị trước hoặc lấy thuốc từ bạn bè, vì điều này có thể dùng sai liều hoặc sai loại, làm tăng nguy cơ kháng thuốc.
Kết hợp với sản phẩm không kháng sinh. Sử dụng thêm benzoyl peroxide (2.5% hoặc 5%) hoặc retinoid (như adapalene) theo chỉ định để giảm phụ thuộc vào kháng sinh và tăng hiệu quả. Benzoyl peroxide đặc biệt giúp giảm kháng thuốc vì nó diệt khuẩn mà không tạo áp lực chọn lọc.
Dùng đủ thời gian nhưng không quá lâu. Thông thường, kháng sinh chỉ nên dùng trong 8–12 tuần (theo chỉ định). Sau đó, chuyển sang duy trì bằng liệu pháp không kháng sinh để tránh vi khuẩn tiếp xúc kéo dài với thuốc.
Báo cáo sớm nếu không hiệu quả. Nếu sau 4–6 tuần mà mụn không cải thiện, hãy gặp bác sĩ để điều chỉnh phác đồ thay vì tự tăng liều – điều này có thể là dấu hiệu vi khuẩn đã kháng thuốc.

Một số lưu ý dành cho bác sĩ lâm sàng khi điều trị mụn với kháng sinh để hạn chế kháng thuốc:
Hạn chế kháng kháng sinh là một ưu tiên quan trọng trong y học hiện đại, đặc biệt khi điều trị mụn trứng cá bằng kháng sinh đường uống và tại chỗ. Dưới đây là những lời khuyên cụ thể dựa trên nguyên tắc sử dụng kháng sinh hợp lý và chiến lược quản lý bệnh hiệu quả:
1. Ưu tiên liệu pháp không kháng sinh khi có thể
Khuyến khích sử dụng các phương pháp tại chỗ như benzoyl peroxide (có tác dụng diệt khuẩn mà không gây kháng thuốc) hoặc retinoid (tăng tái tạo da, giảm bít tắc lỗ chân lông) làm nền tảng điều trị.
Với mụn nhẹ đến trung bình, cân nhắc liệu pháp không kháng sinh (axit salicylic, axit azelaic) trước khi dùng kháng sinh.
2. Kết hợp kháng sinh với benzoyl peroxide
Khi dùng kháng sinh (đặc biệt là tại chỗ như clindamycin, erythromycin), luôn kết hợp với benzoyl peroxide để giảm áp lực chọn lọc lên vi khuẩn, từ đó giảm nguy cơ Cutibacterium acnes phát triển kháng thuốc. Nghiên cứu cho thấy sự kết hợp này hiệu quả hơn và bền vững hơn dùng kháng sinh đơn độc.
3. Hạn chế thời gian sử dụng kháng sinh
Chỉ định kháng sinh đường uống (như doxycycline, minocycline) trong thời gian ngắn (thường 8–12 tuần), sau đó chuyển sang duy trì bằng liệu pháp tại chỗ không kháng sinh khi tình trạng viêm được kiểm soát.
Tránh kéo dài liệu pháp kháng sinh không cần thiết; đánh giá lại hiệu quả sau 6–8 tuần để quyết định ngừng hoặc điều chỉnh.
4. Sử dụng liều thấp khi phù hợp
Với kháng sinh như doxycycline hoặc minocycline, cân nhắc liều dưới mức kháng khuẩn (subantimicrobial dose, ví dụ: doxycycline 20–40 mg/ngày) để tận dụng tác dụng chống viêm mà không tạo áp lực kháng thuốc.
5. Chọn kháng sinh phù hợp với mức độ và cơ địa
Ưu tiên kháng sinh có phổ hẹp (như sarecycline) thay vì phổ rộng (như TMP-SMX) khi điều trị mụn để giảm tác động lên hệ vi sinh vật toàn cơ thể.
Xét nghiệm kháng sinh đồ (nếu khả thi) trong trường hợp mụn kháng trị hoặc nghi ngờ nhiễm khuẩn phức tạp.
6. Hướng dẫn bệnh nhân
Hướng dẫn bệnh nhân tuân thủ phác đồ, không tự ý tăng liều hoặc kéo dài thời gian dùng thuốc.
Khuyên tránh chia sẻ thuốc với người khác hoặc dùng thuốc thừa từ lần điều trị trước.
7. Tránh dùng kháng sinh tại chỗ đơn độc
Không kê đơn kháng sinh tại chỗ (như clindamycin, erythromycin) mà không kết hợp với benzoyl peroxide hoặc retinoid, vì điều này làm tăng đáng kể nguy cơ kháng thuốc của C. acnes.
8. Theo dõi và đánh giá định kỳ
Đặt lịch tái khám (4–6 tuần) để đánh giá đáp ứng điều trị, điều chỉnh phác đồ nếu cần, và ngừng kháng sinh sớm nếu không còn chỉ định.
Theo dõi dấu hiệu kháng thuốc (mụn không cải thiện sau 6–8 tuần) và chuyển sang liệu pháp thay thế.
9. Cân nhắc kháng sinh thay thế một cách thận trọng
Chỉ dùng các kháng sinh như TMP-SMX hoặc cephalexin… trong trường hợp đặc biệt (mụn kháng trị, nhiễm khuẩn thứ phát), tránh lạm dụng làm tăng kháng chéo.
10. Thúc đẩy nghiên cứu và cập nhật hướng dẫn
Tham gia cập nhật kiến thức về kháng sinh mới và các hướng dẫn từ tổ chức uy tín để áp dụng thực hành tốt nhất.
Khuyến khích báo cáo các trường hợp kháng thuốc để đóng góp vào dữ liệu địa phương.
Kết luận
Kháng sinh dùng trong điều trị mụn trứng cá đường uống (doxycycline, minocycline, TMP-SMX, v.v.) và bôi tại chỗ (clindamycin, erythromycin, dapsone…) là công cụ mạnh mẽ trong điều trị mụn trứng cá, đặc biệt với mụn viêm. Chúng tiêu diệt Cutibacterium acnes và giảm viêm qua các cơ chế như ức chế ribosome, tổng hợp folate, hay myeloperoxidase (dapsone). Tuy nhiên, kháng thuốc là thách thức lớn, đặc biệt với, nhóm tetracycline, erythromycin, clindamycin…, do lạm dụng và dùng đơn độc. Để hạn chế, bác sĩ nên ưu tiên liệu pháp không kháng sinh (benzoyl peroxide, retinoid), dùng kháng sinh ngắn hạn (8–12 tuần), kết hợp thông minh, và có thể cân nhắc dùng liều thấp (như doxycycline 40 mg). Bệnh nhân cần tuân thủ hướng dẫn, tránh tự ý dùng thuốc, và kết hợp lối sống lành mạnh. Một chiến lược thông minh sẽ giúp kiểm soát mụn hiệu quả, đồng thời bảo vệ tương lai của kháng sinh.

Bác Sĩ Thành
_______________
Bài viết thuộc quyền sở hữu của BS. Đỗ Thành và group Đồng Điệu. Đề nghị không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý của tác giả.
Bài viết độc lập, không được tài trợ bởi bất cứ nhãn hàng nào.

TIÊM VỚI ỐNG THÔNG(CANUALA) CÓ AN TOÀN HƠN VỚI KIM?Gần đây, một sự việc gây chấn động cộng đồng làm đẹp: một nhà thiết k...
07/05/2025

TIÊM VỚI ỐNG THÔNG(CANUALA) CÓ AN TOÀN HƠN VỚI KIM?

Gần đây, một sự việc gây chấn động cộng đồng làm đẹp: một nhà thiết kế trẻ tuổi tại Hàn Quốc đã bị mất thị lực một bên mắt sau khi tiêm Juvelook Volume — một sản phẩm kích thích tăng sinh collagen.
Sự cố đau lòng này làm nhiều người liên tưởng ngay đến những trường hợp tương tự từng xảy ra tại Việt Nam: tắc mạch sau tiêm chất làm đầy, đặc biệt ở vùng mũi và quanh mắt — nơi hệ thống mạch máu cực kỳ phức tạp.
Dù chi tiết vụ việc lần này vẫn đang được làm rõ, nhiều chuyên gia nhận định: rất có thể nguyên nhân xuất phát từ việc tiêm bằng kim nhọn trẻ hóa vùng quanh mắt, mũi, khiến chất tiêm vô tình đi thẳng vào lòng mạch máu.
Một lần nữa, câu hỏi quan trọng được đặt ra:
“Tiêm bằng ống thông (cannula) có thực sự an toàn hơn so với kim?”
Vì có thể, chỉ cần thay đổi công cụ, sự việc đáng tiếc có thể đã không xảy ra…
Kể từ khi ra đời các ống thông, làm thay đổi lĩnh vực thuốc tiêm thẩm mỹ, đã có một cuộc tranh luận lớn về tính hữu ích của chúng và liệu chúng có an toàn hơn kim tiêm hay không liên quan đến nguy cơ tiêm vào mạch máu. Trước hết một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng chúng có thể làm giảm đau, phù nề, mẩn đỏ và tụ máu do tiêm[1].

Vậy trong nguy cơ tiêm vào nội mạch thì sao?
Trong 10 năm qua, nhiều nhãn hiệu ống thông đã xuất hiện trên thị trường, mặc dù không có nhiều nghiên cứu phân tích sự khác biệt giữa chúng. Nhưng nhìn chung các luận điểm đều cho rằng có sự khác biệt đáng kể về an toàn giữa các ống thông kích thước khác nhau, lực đưa ống khác nhau. Và đặc biệt đều cho rằng sử dụng ống thông an toàn hơn kim.

Một số thống kê và bàn luận về vấn đề này BS có tổng hợp được:

Có một nhóm hồi cứu của Alam [2] đã thu thập dữ liệu vào năm 2018-2019 liên quan đến các thủ thuật do bác sĩ da liễu được cấp phép thực hiện và khả năng tắc mạch máu bằng kim là 1 trên 6.410 trên 1 ml, trong khi khả năng là 1 trên 40.882 với ống thông. Tuy nhiên không chỉ ra hãng sản xuất ống thông và loại ống thông sử dụng.

Ngoài ra, Goodman [3] đã báo cáo 83% trường hợp tắc mạch máu trong cuộc khảo sát của họ là bằng kim và 17% bằng ống thông.
Trong một nghiên cứu trên xác trước đây của Pavicic [4] , họ đã phân tích lực xuyên thấu của cả kim và ống thông có cỡ khác nhau. Một đồng hồ đo lực nhạy hơn được hiệu chuẩn để ghi lại mức thấp tới 0,1 N đã được sử dụng để phát hiện sự khác biệt. 294 thủ thuật thâm nhập vào động mạch thái dương nông và mặt đã được thực hiện trên bốn mẫu xác đông lạnh tươi bằng cả kim (cỡ 20, 22, 25 và 27) và ống thông (cỡ 22, 25 và 27). Lực liên tục tăng dần được áp dụng và đo cho đến khi thâm nhập vào động mạch xảy ra. Kết quả: Ống thông, với các kích thước đo được ngoại trừ 27-gauge, đều cần lực lớn hơn để xuyên vào động mạch so với kim có kích thước tương ứng, khẳng định tính an toàn của ống thông 22-gauge và 25-gauge; tuy nhiên, ống thông 27-gauge cần lực tương tự như kim 27-gauge, cho thấy ống thông 27-gauge không an toàn hơn kim 27-gauge. Kết quả nghiên cứu mới công bố này cũng chỉ ra rằng có vẻ như rất có thể lực xuyên động mạch cần thiết ở hầu hết bệnh nhân lâm sàng sẽ cần cao hơn so với lực xuyên động mạch dùng trong nghiên cứu này(áp dụng với tử thi), về lực xuyên thấu mô cũng vậy. Qua nghiên cứu này có thể đưa ra khuyến cáo về việc cần sử dụng ít lực hơn và thận trọng hơn nhiều ở những bệnh nhân lớn tuổi là điều hợp lý vì mạch máu của họ có thể dễ bị xuyên thấu hơn nếu ống thông không thể trượt xung quanh nó.

Sự thâm nhập vào động mạch có thể có nhiều hơn khi sử dụng lực cần thiết để tiến qua mô cao hơn. Thường ở những bệnh nhân trẻ tuổi có da dày hơn, đặc biệt là ở mũi và những người có các kết nối xơ dày đặc hơn, có thể khó tìm được mặt phẳng trượt trơn tru. Sự khác biệt giữa kim/ống thông nhỏ hơn với kim/ ống thông cỡ lớn hơn đã được đề cập ở trên, nhưng lực cần thiết để thâm nhập vào mô cũng ít hơn khi dùng ống thông/kim có kích thước nhỏ hơn ở cả mô sống và mô tử thi, do đó làm giảm sự khác biệt về lực cần thiết để đâm thủng mạch máu và mang lại một số lợi thế nhất định cho tất cả các kích thước ống thông.

Khi so sánh 2 cỡ khác nhau của ống thông giống hệt nhau, kích thước lớn hơn không chỉ làm tăng lực xuyên động mạch và tăng lực xuyên mô mà còn kém linh hoạt hơn khi uốn quanh mạch máu. Lực tăng lên này để điều khiển và tăng sức mạnh xuyên qua, đặc biệt là qua các dây chằng gần mạch máu, bị bỏ qua trong các nghiên cứu trên tử thi đã mổ xẻ. Tác giả tin rằng những tác động này làm giảm tính an toàn về khả năng xuyên động mạch với ống thông lớn hơn. Do đó, nhiều tác đề xuất rằng với kỹ thuật chính xác, một ống thông nhỏ, đầu tù, linh hoạt ở những vùng nhỏ, nhạy cảm, mỏng manh, chật hẹp có thể an toàn hơn và ít gây chấn thương hơn so với ống thông lớn hơn.

Khi tiêm các vùng nhỏ, mỏng manh, chẳng hạn như hốc mắt, đặc biệt là với chất làm đầy có hệ số ma sát thấp, ống thông 27-gauge có thể là lựa chọn tốt hơn để giảm chấn thương cho vùng đó và ngăn ngừa lượng chất làm đầy được tiêm lớn hơn vì kích thước nhỏ hơn cho phép người tiêm kiểm soát nhiều hơn (cần nhiều lực hơn để tiêm cùng một lượng). Người ta đã chứng minh rằng thể tích tiêm vào hốc mắt càng thấp thì tác dụng phụ càng thấp, đặc biệt là về sưng tấy. Ngoài ra, sẽ ít có nguy cơ tắc nghẽn nghiêm trọng hơn với lượng chất làm đầy nhỏ hơn và có thể ít nguy cơ bị chèn ép hơn trong không gian chật hẹp như mũi. Trong mũi, ống thông lớn hơn vừa có ít không gian để di chuyển vừa kém linh hoạt hơn, hạn chế khả năng trượt và uốn cong qua các mạch máu. Ống thông 27-gauge là 0,41mm và ống thông 22-gauge là 0,72mm. Vì khoảng cách để di chuyển trong không gian này từ da đến xương rất hẹp nên không gian bổ sung với ống thông nhỏ hơn, linh hoạt hơn có thể là một lợi thế.

Trong các nghiên cứu này, phát hiện nổi bật nhất là việc xuyên động mạch bằng ống thông rất khó. Cần phải thử nhiều lần và đôi khi cần đến môi trường không có trong tiêm trực tiếp với việc loại bỏ toàn bộ cân xung quanh và cố định. Hầu hết các tác giả tin rằng các yếu tố quan trọng nhất dẫn đến việc tăng độ an toàn của ống thông là hệ số ma sát của chúng - khả năng lướt trên mạch mà không làm thủng chúng và tính linh hoạt của chúng. Cân xung quanh các mạch này hỗ trợ quá trình này để bảo vệ mạch máu với ống thông. Ngoài ra, khi mạch máu nằm trong một không gian cố định, không thể di chuyển, thì việc đâm thủng dễ dàng hơn nhiều trong khi những mạch máu trong cơ thể không nằm trong không gian đó - một không gian linh hoạt hơn. Hơn nữa, khi sử dụng ống thống trong mô sống khi gặp chướng ngại vật, người tiêm có thể cảm thấy cần tăng lực để vượt chướng ngại vật hoặc thay vào đó là lựa chọn một hướng khác để hạn chế gây tổn hại mạch máu.

Tóm lại những phát hiện chính ở các thống kê có thể chỉ ra:

1) Việc tiêm thẩm mỹ bằng kim dễ xuyên qua mạch máu hơn so với ống thông trên tất cả các cỡ, bao gồm cả cỡ kim và ống thông loại nhỏ;
2) Cần sử dụng ít lực hơn và thận trọng hơn nhiều ở những bệnh nhân lớn tuổi là điều hợp lý vì mạch máu của họ có thể dễ bị xuyên thấu hơn nếu ống thông không thể trượt xung quanh nó
3) Sự trượt của ống thông xung quanh mạch máu là yếu tố chính góp phần vào tính an toàn của ống thông và các yếu tố góp phần vào hiện tượng này cần được nghiên cứu thêm.

Dùng kim hay ống thông đều có tỷ lệ nhất định về khả năng có thể tiêm vào mạch máu và nguy cơ khác như khối chất làm đầy chèn ép mạch máu vẫn tồn tại. Tuy nhiên chúng ta có cơ sở tin rằng việc sử dụng ống thông(canuala) an toàn hơn so với kim. Vì vậy ở những vùng nguy hiểm vẫn nên ưu tiên sử dụng ống thông, và cần 1 kỹ thuật chính xác. Một bác sĩ cũng cần có quá trình học hỏi, đúc rút kinh nghiệm thường xuyên để thực hành lâm sàng an toàn hơn!
(Link các báo cáo BS để dưới mục cmt)

Bác Sĩ Thành

Address

Hanoi
100000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bác Sĩ Thành posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Bác Sĩ Thành:

Share