Nhân Hoà Y Đạo - 仁和医道

Nhân Hoà Y Đạo - 仁和医道 Nhân Hoà Y Đạo - Kế thừa và phát triển tinh hoa Y Học Cổ Truyền
(1)

Nhân Hòa Y Đạo là nơi để các bác sĩ y học cổ truyền trẻ học tập, mở mang tầm hiểu biết về kiến thức, kỹ năng chuyên môn qua những bài giảng, chia sẻ của các bậc tiền bối. Nơi đây còn là địa điểm để các bác sĩ trẻ học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng phát triển.Tại đây thường xuyên diễn ra các buổi giao lưu chuyên môn quen thuộc của rất nhiều sinh viên, y bác sĩ trẻ có niềm đam mê với nghề. Đây cũng là mái nhà thân thương, nơi bình yên, an toàn để các bác sĩ trẻ có cơ hội tu tâm, tu thân, tu nghiệp để phấn đấu sống cuộc đời mà mình mong muốn. Nhân Hòa Y Đạo còn là địa điểm tin cậy của những người bệnh, những người có mong muốn điều tiết và phục hồi sức khỏe. Với phương châm "Coi khách hàng là người thân", các bác sĩ trẻ nơi đây luôn dùng cái tâm, sự chân thành và yêu thương để chăm sóc sức khỏe cho mọi người. Với lối tư duy trị liệu theo Đông y truyền thống, các phương pháp được sử dụng có tính an toàn, thân thiện và nhẹ nhàng, là nơi lý tưởng để người bệnh gửi gắm niềm tin.

Có khi nào, bạn làm một mớ xét nghiệm, chụp chiếu kết quả vẫn bình thường, mà cơ thể vẫn không được khoẻ mạnh ? Hay một ...
29/01/2026

Có khi nào, bạn làm một mớ xét nghiệm, chụp chiếu kết quả vẫn bình thường, mà cơ thể vẫn không được khoẻ mạnh ? Hay một căn bệnh, điều trị đủ nơi, nhưng lặp đi lặp lại mãi không khỏi?

Có những giai đoạn, tôi gặp rất nhiều người đến khám tại Nhân Hoà trong một trạng thái giống nhau. Không phải đau dữ dội, cũng không phải bệnh cấp tính nguy hiểm. Chỉ là mệt, khó ngủ, đau âm ỉ, không còn cảm giác khỏe như trước, và trong lòng luôn có một nỗi lo mơ hồ không gọi được tên.

Điều quen thuộc nhất tôi nghe được là: “Bác sĩ ơi, chắc cơ thể em có vấn đề gì rồi.” Và ngay sau đó là một danh sách dài những xét nghiệm, thuốc men, phương pháp mà họ đã thử qua. Thật ra, phản xạ ấy rất tự nhiên. Khi cơ thể lên tiếng, con người gần như luôn hướng ra bên ngoài để tìm lời giải. Chúng ta tìm thuốc tốt hơn, chẩn đoán chính xác hơn, phương pháp mới hơn. Nhưng càng đi xa, nhiều người lại càng cảm thấy… trống rỗng và bất an hơn.

Có một điều tôi ngày càng tin chắc, sau nhiều năm làm nghề: Rất nhiều vấn đề sức khỏe không bắt đầu từ cơ thể, mà từ cách chúng ta sống và cách chúng ta đối xử với chính mình. Chính vì vậy, khi đọc cuốn Hướng Nội Cầu của Dư Hạo, tôi có một cảm giác rất đặc biệt: không phải đang đọc một cuốn sách y học, mà giống như đang nghe một người thầy với đầy cảm ngộ chậm rãi kể chuyện – kể về thân, về tâm, và về những điều con người hiện đại đã vô tình bỏ quên.

Cuốn sách này không cố gắng chứng minh điều gì cao siêu. Nó chỉ chậm rãi nhắc lại một chân lý rất sâu sắc của Trung y: thân và tâm vốn là một thể thống nhất. Khi tâm thần rối loạn, khí huyết sẽ khó mà điều hòa. Khi sống đi ngược lại nhịp điệu tự nhiên thì tinh khí căn bản sớm muộn cũng bị hao tổn.

Thầy Dư Hạo không coi bệnh tật như kẻ thù. Ông không khuyên chạy trốn bệnh, cũng không hứa hẹn loại bỏ triệu chứng bằng những “bí quyết” hấp dẫn. Ông nhìn bệnh như một tín hiệu thông minh của cơ thể, một lời nhắc nhở rằng: có điều gì đó bên trong đang lệch nhịp. Nhiều cơn đau mạn tính, nhiều cảm giác mệt mỏi không tên, thực ra không phải vì “cơ thể đã hỏng”, mà vì chúng ta đã sống quá lâu trong trạng thái căng thẳng, tiêu hao và tách rời chính mình.

Khi con người luôn hướng ngoại cầu, chấp trước được – mất, hơn – thua, tâm thần khó mà an định. Mà tâm không yên, thì thân rất khó khỏe. “Hướng nội cầu” không kêu gọi rút lui khỏi cuộc sống. Ngược lại, nó dạy một điều rất khó trong thời đại này: Nhận thức được trạng thái của bản thân mình, tu tâm để hiểu được bản chất của con người, cuộc sống, giữ được sự an định bên trong khi vẫn đang sống giữa ồn ào.
Biết dừng lại đúng lúc. Biết lắng nghe cơ thể trước khi nó buộc phải “lên tiếng”. Biết điều chỉnh tâm thế, thay vì chỉ cố gắng kiểm soát triệu chứng. Tôi nghĩ, đây không phải là cuốn sách để đọc vội. Nó giống như một tấm gương đặt trước mặt mỗi người. Đọc đến đâu, người ta buộc phải tự hỏi đến đó: Mình đang sống thế nào? Mình có thực sự lắng nghe cơ thể mình không? Mình có đang tiêu hao bản thân quá mức không? Có lẽ vì vậy, giá trị lớn nhất của cuốn sách này không chỉ nằm ở kiến thức, mà ở thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận, ở sự thức tỉnh nhẹ nhàng mà nó mang lại.

Nếu bạn đang mong muốn đi sâu vào nội tâm của bản thân, tự chữa lành từ sâu thẳm bên trong chính mình, hay bạn đang mệt mỏi, hoang mang, cảm thấy mình đã tìm quá lâu ở bên ngoài mà vẫn chưa thật sự an ổn, có thể, câu trả lời không ở đâu xa. Đôi khi, chỉ cần hướng vào bên trong một chút, mọi thứ đã bắt đầu thay đổi rồi.
_ Bác sĩ Đặng Hữu Phúc_

"Vạn vật trên thế gian, mỗi thứ đều có đặc tính riêng của nó, vậy làm sao để nhận biết được những sự vật này? Người xưa ...
28/01/2026

"Vạn vật trên thế gian, mỗi thứ đều có đặc tính riêng của nó, vậy làm sao để nhận biết được những sự vật này? Người xưa đã phát minh ra một biện pháp rất đơn giản, đó là chia thành âm dương. Căn cứ vào giới tính con người để phân ra nam và nữ. Căn cứ vào chiều cao để phân ra cao và thấp. Căn cứ vào thời tiết để phân thành trời nắng và trời âm u. Chúng ta dựa vào cảm giác nhiệt độ không khí, có thể phân ra nóng và lạnh. Đây đều là dựa vào âm dương mà chia ra cả. Nam, cao, trời nắng, nóng thì thuộc về dương; nữ, thấp, trời âm u, lạnh sẽ thuộc về âm".

"Cái này thì dễ hiểu rồi, nhưng một người là nam lại thấp lùn thì sẽ thuộc vào cái gì? Còn một người nữ mà cao thì thuộc vào cái gì ạ?" Tôi nghi hoặc hỏi: "Nam thì thuộc dương, thấp bé thuộc âm, người nam mà thấp bé chẳng lẽ chính là người âm dương ư?"

Ông nghe thấy tôi hỏi như vậy, rất vui mừng, cho rằng tôi rất có ngộ tính trong việc lý giải âm dương. Ông tiếp tục giải thích cho tôi: "Nam giới thuộc dương, nhưng trong nam giới lại phân ra cao và thấp, người thấp lại thuộc về âm, chung quy lại mà nói thì người đàn ông mà thấp bé thì sẽ được coi là âm trong dương!"

“Ồ, thế mà con còn nghĩ người đấy là người âm dương cơ!"

“Bản thân âm dương là một sự đối lập, nhưng nếu không có âm thì cũng không thể nào định nghĩa được dương, nếu không có dương thì cũng không biết nói về âm như thế nào.
Chính vì nhờ có sự tồn tại, biến hóa của âm dương, thế giới mới có sự thay đổi, có tương hỗ chế ước, trong chế ước lại có sự phát triển, thành thục..."

“Ồ! Con hiểu rồi! Mùa hè rất nóng, thuộc dương; mùa đông rất lạnh, thuộc âm." Tôi nói hùa theo.

"Đúng rồi đấy. Nếu không có sự nóng nực của mùa hè, thì thực vật sẽ không sinh trưởng tốt tươi được; nếu không có cái lạnh giá của mùa đông, mùa xuân năm sau cây cối cũng không thể phát triển mạnh mẽ được."

“Đúng ạ! Mùa đông năm trước trời rất ấm áp, kết quả là mùa xuân năm nay hoa màu trong trang trại đều sinh bệnh, mọi người cũng đau ốm cả." Tôi bắt theo câu chuyện của ông mà nói.

“Vỏ ngoài quả bạch quả thuộc dương, nhân bên trong lại thuộc âm, cả dương cả âm đều nằm thống nhất trên một quả, đúng là một sự hoàn hảo mà." Ông vừa cười tít mắt vừa nhìn tôi.

“Thế còn có loại dược liệu nào cũng có tính thống nhất như vậy không ạ?" Tôi gặng hỏi thêm.

“Có chứ! Còn nhiều lắm! Ví dụ như: Vỏ ngoài của sinh khương (tức là củ gừng) thì mang tính lương mát, phần thịt bên trong lại mang tính ấm; ma hoàng phát hãn, làm ra mồ hôi, nhưng rễ ma hoàng thì lại có tác dụng chỉ hãn, tức là cầm mồ hôi..”

Lời nói của ông khiến tôi vô cùng ngạc nhiên, sự vật thực sự có thể kỳ diệu vậy sao?

Ông tiếp lời: “Trong cơ thể người thì tâm thuộc hoả, thận thuộc thuỷ, thuỷ và hoả vốn tương khắc. Nhưng vì có thuỷ mà hoả không quá vượng, có hoả mà thủy không quá hàn."

“Phức tạp quá." Nghe ông nói đều đều mà lòng tôi thầm nghĩ. Nhưng nhờ những lời ông giảng giải mà lý luận về âm dương trong tôi dần dần sáng tỏ, rõ ràng hơn, tuy rắng đối với tuổi đời non nớt của tôi lúc đấy mà nói, những hệ thống về âm dương này quả thực vẫn còn quá phức tạp.

Ông tiếp tục giảng: "Trong những trường hợp nhất định, âm dương có thể chuyển hóa lẫn nhau: Âm có thể chuyển thành dương, và ngược lại dương cũng có thể chuyển thành âm."

“Có phải khi mùa đông sang mùa hè là âm chuyển thành dương, còn mùa hè sang mùa đông là dương chuyển thành âm đúng không ạ?" Tôi hiếu kỳ hỏi lại.

"Đúng! Đúng! Đúng!" Ông rất vui khi nghe thấy câu đáp lại của tôi. "Âm dương trong lúc chuyển hóa qua lại lẫn nhau đồng thời cũng có thể chế ước lẫn nhau, chúng ta thường lợi dụng tính chuyển hóa và chế ước lẫn nhau của âm dương để điều chỉnh sự cân bằng trong cơ thể, đây cũng là cơ sở để chúng ta trị bệnh. Nếu dương bệnh thì sẽ dùng âm dược để trị, còn nếu là âm bệnh thì sẽ dùng dương dược để trị! Ví dụ trên người nổi các mụn bọc, da ửng đỏ, phát sốt..."

"Con biết rồi ạ, phát sốt, da ửng đỏ thuộc dương, thì sẽ dùng âm dược, mà tính hàn thuộc âm, nên dùng các thuốc có tính hàn thì có thể chữa chứng nổi mụn nhọt có tính thuộc dương này phải không ạ?" Tôi cướp lời ông.

“Quá đúng!" Ông vui mừng nhìn tôi đáp, dường như đã thấy được hy vọng truyền thừa y thuật của mình. Ông tiếp tục hỏi: "Vậy nổi mụn nhọt mà không phát sốt, da cũng không đỏ ửng lên thì sao?"

"Như vậy thì phải dùng dương dược, lấy tính ôn ấm của dược vật mà dùng thôi! Quá đơn giản!" Tôi cảm thấy đây thật sự là một trò chơi thú vị.

Dần dần tôi nhận ra rằng trong khám chữa bệnh, không phải là chỉ cần ghi nhớ thuốc gì dùng để trị bệnh gì, mà còn phức tạp hơn thế, nhưng hồ như lại rất đơn giản...

Khoảng thời gian đó, tôi cũng không biết phải nói thế nào, chỉ biết là ông đã dẫn tôi vào một vùng đất quý mà vô cùng thần bí, có rất nhiều, rất nhiều thứ thú vị, tôi buộc phải dùng trái tim để lĩnh ngộ!

Trích Đông y chi lộ - Chương 4: Ông cố dạy tôi về âm dương.

28/01/2026

Tam thất là một dược liệu quý hỗ trợ tốt cho tim mạch, người bệnh ung thư và người cao tuổi nhưng nguồn hàng đạt chuẩn hiện nay khá khan hiếm. Vì vậy, Nhân Hoà và bác sĩ Thương Yêu xin phép đề nghị mỗi người bệnh nên đăng ký lượng vừa đủ (khoảng 1–2kg) để dùng.

Đây không phải là giới hạn, mà là mong muốn chia sẻ cơ hội chăm sóc sức khỏe cho nhiều người bệnh đang thực sự cần. Nhân Hoà và bác sĩ Thương Yêu sẽ cố gắng duy trì nguồn dược liệu ổn định, để Tam thất tốt đến đúng tay, đúng giá trị.

Xin cảm ơn sự tin tưởng và đồng hành của mọi người 🌷

TƯ DUY ĐIỀU TRỊ ĐAU LƯNG DO THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM, TÁI PHÁT NHIỀU LẦN.    Có một góc nhìn rất hay của Giáo sư Phùng Thế Luân ...
27/01/2026

TƯ DUY ĐIỀU TRỊ ĐAU LƯNG DO THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM, TÁI PHÁT NHIỀU LẦN.
Có một góc nhìn rất hay của Giáo sư Phùng Thế Luân - bậc thầy về tư duy Lục kinh biện chứng, về tiếp cận đau lưng do thoát vị đĩa đệm hay tái phát nhiều lần mà bản thân mình - Bs.Phi Hưng cũng đang áp dụng hằng ngày tại Nhân Hoà Y Đạo, đó là chúng ta sẽ không tiếp cận ca bệnh từ góc độ “ thoát vị nặng hay nhẹ” mà sẽ đi từ câu hỏi cốt lõi hơn :
Vì sao đau lưng lại tái phát nhiều lần và ngày càng nặng theo tuổi tác?

Case bệnh theo chia sẻ của Gs. Phùng Thế Luân :
Bệnh nhân nam 65 tuổi, đau lưng hơn 20 năm tái đi tái lại từng đợt, đã từng được chẩn đoán thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng và điều trị chủ yếu bằng thuốc giảm đau ngắt quãng, Gần đây sau khi lao động mệt mỏi thì đau lưng tăng nặng, ảnh hưởng đến vận động và sinh hoạt nên đến khám.

Bệnh nhân tới khám không chỉ với một tổn thương cơ học ở cột sống mà với một chỉnh thể bệnh lý đã hình thành và cố định theo thời gian.

Triệu chứng lúc khám: đau lưng, chủ yếu đau lệch sang bên phải, thỉnh thoảng có đau lan xuống chi dưới, tự cảm thấy vùng lưng lạnh, mệt mỏi, thính lực tai trái giảm, thỉnh thoảng ho, khạc đờm, chất đờm trong loãng, ăn uống và giấc ngủ bình thường, đại tiện điều hòa, tiểu đêm nhiều lần. Chất lưỡi ám tối, rêu lưỡi trắng nhuận (thủy hoạt), tĩnh mạch dưới lưỡi giãn, mạch trầm.

Cận lâm sàng: MRI cột sống thắt lưng: Thoái hóa cột sống thắt lưng, thoát vị đĩa đệm L4/5 - L5/S1.

Quan sát toàn bộ biểu hiện của bệnh nhân : không sợ gió, không sợ lạnh hay sốt có thể loại trừ bệnh ở biểu; ho khạc đờm trong loãng, cảm giác lạnh lưng, mệt mỏi kéo dài, tiểu đêm nhiều lần cho thấy bên trong cơ thể tồn tại hàn ẩm đã lâu ngày. Đau lưng thiên lệch,cảm giác lạnh lưng, tái phát trên nền lao động mệt mỏi phản ánh hàn thấp theo thời gian hạ chú xuống thắt lưng, làm kinh mạch trở trệ. Lưỡi ám tối, rêu trắng thủy hoạt, tĩnh mạch dưới lưỡi giãn cùng mạch trầm là những dấu hiệu quan trọng để biện chứng Thái âm bệnh, trong đó hàn ẩm nội thịnh là gốc, huyết ứ là yếu tố đồng thời khiến bệnh kéo dài và cố định.

Biện chứng: Thái âm bệnh kiêm huyết ứ

Dưới lăng kính này, thoát vị đĩa đệm trên MRI chỉ là kết quả của một quá trình bệnh lý lâu dài, chứ không phải nguyên nhân duy nhất gây đau.
“Lưng lạnh đau” là chủ chứng có giá trị định hướng phương thuốc rất cao. Khi chủ chứng này lại đi kèm với “tiểu tiện tự lợi”, tức tiểu nhiều lần, tiểu đêm – chứ không phải tiểu tiện thông lợi sinh lý – thì phương chứng Thận Trước Thang được xác lập một cách rõ ràng và thường dùng để điều trị các chứng hàn thấp hạ xâm, đặc biệt là các bệnh lý đau lưng mạn tính ở người cao tuổi.

Phương thuốc: Thận Trước Thang gia giảm
Phụ tử 10g, Can khương 9g, Phục linh 15g, Bạch truật 15g, Đảng sâm 15g, Đan sâm 15g, Xuyên khung 10g, Đỗ trọng sao muối 10g, Tục đoạn phiến 15g, Đương quy 12g, Thược dược 12g, Ý dĩ nhân sao cám 15g, Ngưu tất 12g, Chích cam thảo 6g.
x5 thang sắc uống 2 ngày 1 thang chia 2 bát khoảng 150ml/bát , sau ăn sáng/chiều 30p.

Hiệu quả lâm sàng: sau 5 thang thuốc thì đau thắt lưng và cảm giác lưng lạnh cải thiện rõ rệt, vận động thoải mái hơn nhiều, thay đổi tư thế không còn đau nhiều như trước. Tiếp tục dùng thêm thang trên x 7 thang.

Sử dụng Thận Trước Thang gia giảm trong ca bệnh này thể hiện rõ tư duy trị bệnh từ căn nguyên.
- Phụ tử, Can khương được dùng để ôn trung tán hàn, khôi phục dương khí đã suy yếu lâu ngày.
- Phục linh, Bạch truật, Ý dĩ nhân vừa kiện tỳ vừa hóa ẩm, nhằm cắt nguồn sinh hàn thấp.
- Đảng sâm được gia vào để củng cố trung khí, giúp tỳ vị có đủ lực vận hóa, tránh tình trạng “chỉ tán hàn mà không giữ được khí”.
- Đỗ trọng sao muối, Tục đoạn, Ngưu tất vừa bổ can thận vừa dẫn thuốc quy kinh hạ tiêu, trực tiếp xử lý vùng thắt lưng – nơi bệnh tà đã cố định.

Đương quy, Thược dược phối hợp với Đan sâm, Xuyên khung mang ý dưỡng huyết hoạt huyết, giải quyết huyết ứ hình thành trên nền hàn ẩm lâu ngày.

Toàn phương vừa mang tinh thần chủ đạo của Thận Trước Thang, vừa hàm chứa ý nghĩa của Tân Định Bạch Truật Thang trong điều trị thận hư yêu thống, đồng thời tiếp thu tinh thần Đương Quy Thược Dược Tán để xử lý huyết ứ và thủy ẩm cùng tồn tại.

Điều này không đơn thuần là giảm đau tạm thời, mà phản ánh việc hàn ẩm được hóa giải, kinh mạch dần thông, huyết hành trở lại. Với bệnh mạn tính, đặc biệt ở người cao tuổi, cần kiên trì điều chỉnh chỉnh thể, lấy ổn định lâu dài làm mục tiêu, thay vì chạy theo hiệu quả tức thời. Đây cũng chính là điểm khác biệt căn bản giữa điều trị kinh phương có chiều sâu và cách tiếp cận chỉ dựa vào chẩn đoán hình ảnh hoặc triệu chứng đơn lẻ.

__Bác sĩ Phi Hưng__

26/01/2026

Cuối cùng thì cuốn sách HƯỚNG NỘI CẦU Level cao nhất trong bộ sách tâm huyết của Dư Hạo tiên sinh viết đã chính thức đến tay độc giả Việt Nam, hoàn thiện cho bộ 3 giá trị mà tiên sinh muốn truyền đạt.
🔥Bộ 3 cuốn: Đông Y Chi Lộ – Y Gian Đạo – Hướng Nội Cầu
Ba cuốn sách – một con đường: gieo duyên, học đạo, trị thần.
👉Nếu bạn chỉ muốn yêu Đông y: đọc Đông Y Chi Lộ. Nếu bạn muốn học Đông y: đọc Y Gian Đạo. Nếu bạn muốn chữa từ gốc: đọc Hướng Nội Cầu

🌺 Khi đặt combo 2 cuốn ( Hướng nội cầu với Đông Y Chi Lộ ) sẽ được tặng khóa học Nhập môn Đông Y Chi Lộ
🌺Khi đặt combo 3 cuốn sẽ được tặng Chuyên đề Điều thần

Đây cũng là món quà trang trọng mà Dư Hạo tiên sinh, Thiện Tri Thức và Nhân Hòa Y Đạo muốn gửi đến độc giả Việt Nam một bộ sách không chỉ giúp bạn hiểu Đông y, mà còn giúp bạn hiểu chính mình.

MẤT NGỦ KÉO DÀI VÀ VẾT NỨT TRÊN LƯỠI CÓ LIÊN QUAN GÌ VỚI NHAU?      Hôm đó, Nhân Hòa tiếp nhận một bệnh nhân nữ mất ngủ ...
25/01/2026

MẤT NGỦ KÉO DÀI VÀ VẾT NỨT TRÊN LƯỠI CÓ LIÊN QUAN GÌ VỚI NHAU?

Hôm đó, Nhân Hòa tiếp nhận một bệnh nhân nữ mất ngủ đã hơn 7 năm. Những năm đầu chỉ là khó vào giấc, ngủ không sâu. Nhưng càng về sau, giấc ngủ càng tệ hơn. Đặc biệt khoảng 1 năm trở lại đây, có những đêm gần như thức trắng. Khi ngủ được thì cũng chỉ chợp mắt 1–2 tiếng, tỉnh giấc là không thể ngủ lại.

Bệnh nhân vẫn duy trì thuốc an thần trong thời gian dài (clorpheniramin 4mg + eszopiclone 2mg mỗi ngày) nhưng hiệu quả ngày càng kém. Ngày không buồn ngủ, người mệt, bứt rứt, tim đập nhanh, lòng bàn chân nóng ran cả ngày. Ăn uống kém, bụng chướng, không muốn ăn, ăn không thấy ngon miệng. Bệnh nhân đến khám sau một đêm hoàn toàn không ngủ. Sắc mặt ám, dáng đi chậm, người ngồi không yên, ánh mắt mệt mỏi rõ.

Thầy Phúc không vội hỏi bệnh mà vừa đặt tay bắt mạch thầy vừa nhẹ nhàng nói: “Cô thè lưỡi ra cháu xem.”
👉 Và nhìn vào lưỡi, vấn đề đã hiện ra rất rõ: Chất lưỡi đỏ, trên bề mặt có nhiều vết nứt sâu, đặc biệt ở giữa và đầu lưỡi và giữa lưỡi gần như mất rêu. Trong khi đó, rìa lưỡi lại phủ rêu trắng nhớt, dính mép.

Thầy nhìn lưỡi một lúc rồi nói chậm rãi: “Nhìn lưỡi thôi là đã thấy cơ thể cô thiếu dưỡng từ lâu rồi.”

Trong Đông y, lưỡi của người khỏe mạnh thường hồng nhuận, rêu lưỡi mỏng hoặc vừa phải. Còn lưỡi nứt là dấu hiệu rất điển hình của âm huyết hư tổn.
Tôi chợt nhớ tới những gì từng đọc trong sách của thầy Dư Hạo, thầy giải thích về những vết nứt trên lưỡi rất dễ hình dung: “Tưởng tượng bề mặt lưỡi giống như mặt ruộng. Khi ruộng đủ nước, đủ dinh dưỡng, đất sẽ mềm, mặt ruộng phẳng, cây cối sinh trưởng tốt. Nhưng khi ruộng thiếu nước, thiếu phân lâu ngày, mặt đất sẽ khô lại, co rút và nứt nẻ. Lưỡi cũng như vậy.”

Nhìn lại lưỡi của bệnh nhân lúc đó, những đường nứt hiện rõ, kèm sắc lưỡi đỏ, rêu không đều. Chỉ riêng dấu hiệu này thôi cũng đã cho thấy: đây không phải là một ca mất ngủ “mới phát”, mà là sự hao tổn âm huyết tích lũy qua nhiều năm. Lưỡi nứt càng nhiều, chứng tỏ phần âm huyết trong cơ thể càng suy. Âm huyết suy thì cơ thể thiếu dịch để nuôi dưỡng. Thiếu dưỡng thì Tâm không được nuôi dưỡng thì thần khó yên. Mà khi âm không đủ để chế dương, hỏa rất dễ bốc lên, sinh ra cảm giác nóng trong, bứt rứt, hồi hộp và mất ngủ kéo dài.

Đáng chú ý hơn, lưỡi của bệnh nhân không chỉ nứt, mà còn kèm rêu trắng nhớt ở rìa. Điều này cho thấy: âm hư nhưng kèm tỳ vị yếu, sinh thấp đàm. Đây là tình trạng âm hư kiêm thấp, rất thường gặp ở những ca mất ngủ kéo dài nhiều năm: Âm không đủ để neo giữ thần, Tỳ yếu không vận hóa được sinh thấp, Thấp trọc quấy nhiễu Tâm khiếu giấc ngủ càng rối loạn.

Sau đó, thầy tập trung xem mạch để củng cố chẩn đoán. Mạch phù mà yếu, xích mạch tế, cho thấy nền tảng khí âm đều suy. Hướng điều trị được xác lập rõ ràng: Tư âm thanh nhiệt, dưỡng Tâm an thần, đồng thời kiện Tỳ, trừ thấp.

Sau 4 thang thuốc kết hợp châm cứu, bệnh nhân quay lại tái khám. Cô nói đã ngủ được tới 3 giờ sáng (trước đó chỉ 1–2 giờ). Giấc ngủ sâu hơn. Lòng bàn chân bớt nóng khoảng 6–7 phần. Tim đỡ hồi hộp, đầu đỡ căng. Ăn uống khá hơn, bụng nhẹ, đại tiện đều.

Bên cạnh thuốc, thầy dặn bệnh nhân điều chỉnh lại sinh hoạt: Uống đủ nước ấm. Hạn chế đồ cay chiên rán dầu mỡ, giảm đồ ngọt, sữa, đồ lạnh. Nghỉ ngơi sớm, tránh để tâm trí căng thẳng. Tập đi bộ nhẹ, hít thở sâu, thả lỏng cơ thể mỗi tối.
Nếu bạn hoặc người thân có biểu hiện lưỡi nứt, đỏ, ít rêu hoặc kèm rêu nhớt, kèm theo các triệu chứng như khó ngủ, ngủ không sâu, nóng trong, bứt rứt tay chân, mệt mỏi kéo dài, hãy sớm điều chỉnh lại lối sống: ăn uống thanh đạm, ngủ đủ giấc, hạn chế thức khuya, giảm ăn cay nóng chiên nướng và bổ sung phù hợp theo thể trạng. Đồng thời, nên được bác sĩ biện chứng cụ thể để xác định đúng căn nguyên và hướng điều trị phù hợp, tránh kéo dài tình trạng hao tổn âm huyết dẫn tới bệnh mạn tính khó hồi phục.

_BS Giao Linh_

ĐẠI THỰC BÀO LIÊN QUAN ĐẾN KHỐI U (TAMs) TRONG UNG THƯ VÚ THỂ TAM ÂM VÀ CHIẾN LƯỢC ĐIỀU TRỊ BẰNG ĐÔNG Y (P2)    Ở bài vi...
24/01/2026

ĐẠI THỰC BÀO LIÊN QUAN ĐẾN KHỐI U (TAMs) TRONG UNG THƯ VÚ THỂ TAM ÂM VÀ CHIẾN LƯỢC ĐIỀU TRỊ BẰNG ĐÔNG Y (P2)
Ở bài viết trước, chúng ta nhìn ung thư vú thể tam âm từ góc độ miễn dịch học hiện đại: vi môi trường khối u, vai trò của đại thực bào liên quan khối u (TAMs) và cách những tế bào miễn dịch này có thể bị “dẫn lệch hướng”, vô tình nuôi dưỡng chính khối u.
Bài viết này là phần 2, nơi chúng ta tiếp tục câu chuyện đó, nhưng từ một lăng kính khác: quan điểm của Đông y. Không phải để thay thế miễn dịch học hiện đại, mà để xem Đông y đã nhìn nhận ung thư vú ra sao từ hàng trăm năm trước, và vì sao tư duy điều hòa tái lập cân bằng của Đông y lại gặp nhau rất tự nhiên với chiến lược điều tiết TAMs ngày nay.

⭐️QUAN ĐIỂM CỦA ĐÔNG Y VỀ UNG THƯ VÚ
Đông y từ lâu đã có nhận thức về ung thư vú. Trong sách Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương thời Tống lần đầu đưa ra khái niệm “nhũ nham” và mô tả: “Vỡ ra như quả lựu chín, hoặc vỡ sâu bên trong, bệnh này thuộc về can tỳ uất nộ, khí huyết hư tổn” miêu tả này tương hợp với biểu hiện của ung thư vú trong y học hiện đại.
Cao Bỉnh Quân đời Thanh trong Dương Khoa Tâm Đắc Tập dẫn lời Tiết Lập Trai: “Vú thuộc kinh Vị Dương Minh túc, núm vú thuộc kinh Can Quyết Âm túc”, lại rằng: “Phụ nữ lấy can làm tiên thiên”. Những luận điểm này cho thấy bệnh cơ bệnh lý của ung thư vú liên quan đến can tỳ uất kết, khí huyết hư tổn; tạng phủ chủ yếu là can và tỳ, vị trí bệnh ở vú.
Những năm gần đây, Đông y ngày càng phát huy vai trò quan trọng trong điều trị TNBC. Bài viết này sẽ trình bày tổng quan về việc Đông y điều trị TNBC thông qua cơ chế điều tiết quá trình phân cực TAMs.

⭐️ĐÔNG Y ĐIỀU TIẾT QUÁ TRÌNH PHÂN CỰC CỦA TAMs TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ THỂ TAM ÂM
Điều trị nhắm trúng đích vào TAMs nhằm kích hoạt khả năng tiêu diệt khối u của TAMs, hoặc ức chế quá trình chiêu mộ và chức năng thúc đẩy khối u của chúng. Nghiên cứu cho thấy, kiểu hình phân cực của TAMs trong và ngoài cơ thể đều có thể đảo ngược được.
Các chiến lược điều tiết TAMs để điều trị TNBC bao gồm: Ức chế sự chiêu mộ TAMs, Loại bỏ TAMs, Trung hòa các yếu tố chủ chốt do TAMs tiết ra; Thúc đẩy TAMs kiểu M2 tái phân cực thành M1, Tăng cường khả năng thực bào của TAMs, từ đó nâng cao hoạt tính kháng ung thư, Ức chế sự tập trung TAMs trong mô vú nhằm giảm sự phát triển và di căn của khối u, Làm suy kiệt TAMs trong vi môi trường khối u (TME).
Những năm gần đây, nghiên cứu cho thấy Đông y phát huy vai trò đáng kể trong việc điều tiết quá trình phân cực TAMs:

1. Tăng cường chức năng thực bào, thúc đẩy phân cực về M1
👉Hoàng cầm tố (Baicalein): Là một hoạt chất chiết xuất từ cây Hoàng cầm. Trên mô hình chuột ung thư vú, thấy rằng PI3Kγ có thể là một trong những đích tác dụng chính của hoàng cầm tố. Nó ức chế hoạt tính và biểu hiện mRNA của PI3Kγ, từ đó kích hoạt tín hiệu viêm liên quan đến NF-κB, tăng cường phân cực về M1.

👉Bạch đầu ông saponin A3 (Pulchinenoside A/Anemoside A3/AA3): (trong vị thuốc thanh nhiệt giải độc bạch đầu ông) thúc đẩy biểu hiện TNF-α và IL-12 ở M1 theo cơ chế phụ thuộc liều, không ảnh hưởng các kiểu hình đại thực bào khác, qua trục TLR4/IL-12/VEGF ức chế sự phát triển và sinh mạch của khối u.
Dâm dương hoắc đa đường ( Polysaccharide Epimedium) : chiết từ vị thuốc dương dâm dương hoắc chứa 8 loại monosaccharide, có khả năng tăng cường phản ứng tế bào T gây độc và Th1, thúc đẩy phân cực M1, nâng cao hoạt tính kháng ung thư.

👉Ba kích thiên: (một trong Tứ đại Nam dược) Chiết xuất ethanol của ba kích thiên thúc đẩy TAMs phân cực về M1, giảm tân sinh mạch máu và ức chế tế bào ung thư hiệu quả hơn cả 5-FU.

👉Đông trùng hạ thảo: vị ngọt, tính bình, quy kinh phế và thận, nhờ điều tiết tín hiệu NF-κB, điều chỉnh các cytokine và tăng sản xuất NO, đã được chứng minh hướng TAMs nghiêng về kiểu hình M1.

2. Thúc đẩy M2 tái phân cực thành M1
👉Phương “Ung độc thanh”: Bài thuốc do GS Vương Chí Ninh sáng chế gồm: bạch hoa xà thiệt thảo, nga truật, hoàng kỳ, cam thảo,… Bài thuốc này làm giảm biểu hiện CD206 và chemokine CXCL1 của TAMs kiểu M2, đồng thời tăng xâm nhập đại thực bào M1 vào TME, thúc đẩy M2 chuyển hóa sang M1.

👉Bồ công anh: Thuộc họ Cúc, với các flavonoid và acid phenolic trong chiết xuất nước, được chứng minh trên tế bào TNBC người là làm tăng IL-8, TNF-α, iNOS (dấu hiệu M1), giảm CD206, ARG-1, TGF-β (dấu hiệu M2), thúc đẩy chuyển hóa M2 thành M1, phát huy cơ chế chống ung thư trong TME.

👉Baicalin: Một flavonoid tự nhiên từ Hoàng cầm, trong thực nghiệm chuột cho thấy có thể tái lập trình trực tiếp TAMs kiểu M2 thành M1 mà không phụ thuộc vào yếu tố ngoại sinh từ tế bào ung thư, làm tăng M1 và giảm M2 theo cách phụ thuộc liều.

3. Ức chế TAMs phân cực về M2
👉Thanh hao tố ( Artemisinin): (chiết từ Thanh hao hoa vàng) và dẫn xuất hoạt tính dihydroartemisinin ức chế biểu hiện VEGFA, MMP-9, MMP-10, từ đó ngăn chặn kích hoạt STAT3, cản trở phân cực M2.

👉Flavonoid cam thảo: Trên chuột ung thư vú, khi tiêm flavonoid cam thảo vào cơ thể, thấy giảm rõ ARG-1, tức giảm TAMs M2. ARG-1 là dấu hiệu chủ yếu của M2, và bị ức chế mạnh mẽ theo kiểu phụ thuộc liều ở cả mức gene và protein.

👉Tiêu tỳ phương: Gồm nhục thung dung, ích mẫu, đan sâm, uất kim, nga truật, nữ trinh tử, hà thủ ô, mẫu lệ, giáp xác – bài thuốc này giảm CD163, CD206 và ARG-1 của TAMs M2, đồng thời ức chế CXCL-1, ngăn chặn quá trình phân cực về M2.

Trong suốt quá trình tiến triển của ung thư, đặc biệt là ung thư vú thể tam âm(TNBC), đại thực bào liên quan khối u (TAMs) luôn âm thầm “đứng giữa chiến tuyến”. Khi TAMs nghiêng về hướng bất lợi, khối u được nuôi dưỡng; khi điều chỉnh được quá trình phân cực của chúng, cơ thể có cơ hội khôi phục năng lực kháng ung thư. Đây cũng chính là điểm gặp nhau rất tự nhiên giữa miễn dịch học hiện đại và tư duy điều trị chỉnh thể của Đông y.
Đông y với nguyên tắc phù chính khu tà, điều hòa đa đích, đa con đường cho thấy nhiều tiềm năng trong điều tiết TAMs và hỗ trợ điều trị Ung thư vú thể tam âm. Tuy vậy, phải thẳng thắn nhìn nhận rằng các nghiên cứu hiện nay vẫn còn ở giai đoạn đầu, chủ yếu là thực nghiệm, thiếu dữ liệu lâm sàng chuẩn hóa. Điều đó không làm giảm giá trị của Đông y, mà nhắc chúng ta cần nghiên cứu sâu hơn, bài bản hơn, để làm rõ cơ chế, thành phần hiệu quả và ứng dụng đúng chỗ, đúng người.
Con đường phía trước còn dài, nhưng hướng đi là rõ ràng: kết hợp Đông – Tây y một cách khoa học, tôn trọng cơ thể như một chỉnh thể sống và là một tiểu vũ trụ thu nhỏ, để từng bước tái lập cân bằng miễn dịch và mở thêm cơ hội cho người bệnh.

Bác sĩ Thu Hương tổng hợp và trích dẫn

Nguồn: 高阳,史有阳,陈利利等.基于肿瘤相关巨噬细胞探讨中医药治疗三阴性乳腺癌特色及研究进展[J].上海中医药大学学报,2023,37(04):90-94.
GAO Yang,SHI Youyang,CHEN Lili,et al.Exploration on characteristics and research progress of traditional Chinese medicine in treatment of triple⁃negative breast cancer based on tumor⁃associated macrophages[J].Academic Journal of Shanghai University of Traditional Chinese Medicine,2023,37(04):90-94.

📘 HƯỚNG NỘI CẦU – HÀNH TRÌNH CHỮA LÀNH TỪ NỘI TÂM     Hướng Nội Cầu là cuốn sách kết hợp giữa Y học cổ truyền (Đông y), ...
23/01/2026

📘 HƯỚNG NỘI CẦU – HÀNH TRÌNH CHỮA LÀNH TỪ NỘI TÂM

Hướng Nội Cầu là cuốn sách kết hợp giữa Y học cổ truyền (Đông y), triết học Phật – Đạo – Nho và tâm lý học, nhằm hướng dẫn người đọc tìm lại sức khỏe và sự an lạc từ chính nội tâm mình.

Cuốn sách không đơn thuần là sách y học, mà là sách về Tâm – Thân. Nội dung nhấn mạnh rằng gốc rễ của bệnh tật và khổ đau nằm ở nội tâm. Muốn chữa bệnh tận gốc, con người cần quay về bên trong “hướng nội cầu”, thay vì chỉ tìm kiếm thuốc men hay giải pháp từ bên ngoài “hướng ngoại cầu”.

Sách gồm 20 bài giảng, đi từ những cảm ngộ về cuộc sống đến các phương pháp tu dưỡng cụ thể. Tác giả lý giải cơ chế Tâm – Khí – Huyết – Thần, cho thấy khi tâm loạn thì khí huyết rối, khí huyết rối thì sinh bệnh. Vì vậy, Đông y coi trọng nguyên lý “Thượng công điều thần” , thầy thuốc giỏi trước hết phải điều hòa tinh thần.

Sách Hướng Nội Cầu không dạy bốc thuốc hay châm cứu, mà hướng dẫn người đọc điều chỉnh tâm thái, cảm xúc, thói quen sống, học cách thu năng lượng về, sống ở hiện tại và nuôi dưỡng chính khí. Đây không phải là sách để tra cứu bệnh, mà là sách để sửa mình, giúp mỗi người tìm lại sự cân bằng, bình an và sức khỏe từ bên trong.

📌 Đặt trước sách “Hướng Nội Cầu” ngay hôm nay tại Nhân Hoà Y Đạo
📚Giá sách : 228.000 VNĐ
👉 Comment hoặc inbox page để được hướng dẫn đăng ký.

NHÂN HOÀ CẢM ƠN CẢ NHÀ !

22/01/2026

✨CÂU CHUYỆN VỀ DANH Y TRƯƠNG TÍCH THUẦN ĐIỀU TRỊ THÀNH CÔNG CHỨNG RỐI LOẠN KINH NGUYỆT, CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG LÚC NÓNG LÚC LẠNH, ĂN UỐNG KÉM
Bạn đã bao giờ gặp tình trạng kinh nguyệt bỗng nhiên rối loạn, cơ thể thì lúc nóng lúc lạnh, ăn uống kém, mà khám mãi vẫn không tìm ra nguyên nhân rõ ràng?
Có một y án được ghi chép bởi danh y Trương Tích Thuần đã hé lộ một góc nhìn rất khác, thậm chí đi ngược lại suy nghĩ quen thuộc của nhiều người. Điều khiển người ta bất ngờ là mấu chốt vấn đề lại không nằm ở nơi ai cũng nghĩ đến.
👉Hãy cùng Nhân Hòa lắng nghe câu chuyện trong video để hiểu hơn về sức khỏe phụ nữ dưới góc nhìn rất khác của y học cổ truyền nhé 👇🍀

🌟Quan trọng, cần lưu lại: HƯỚNG DẪN XỬ LÝ CÁC TÁC DỤNG PHỤ THƯỜNG GẶP KHI HOÁ TRỊ     Trong quá trình khám chữa bệnh ở v...
22/01/2026

🌟Quan trọng, cần lưu lại: HƯỚNG DẪN XỬ LÝ CÁC TÁC DỤNG PHỤ THƯỜNG GẶP KHI HOÁ TRỊ
Trong quá trình khám chữa bệnh ở viện và Nhân Hoà Y Đạo, những câu hỏi về tác dụng phụ của hóa trị gần như là những vấn đề mà bệnh nhân và người nhà thường hỏi nhất: Hóa chất xong ăn gì cũng nôn, uống nước cũng thấy khó chịu, phải làm sao? Bạch cầu giảm quá thấp, không dám ra ngoài sợ nhiễm trùng, bổ sung thế nào? Tay chân tê bì, châm chích cả đêm không ngủ được, có cách nào giảm không?
Sự khó chịu do tác dụng phụ gây ra quả thực là rào cản rất lớn để người bệnh hoàn thành quá trình hóa trị. Nhưng chỉ cần tìm đúng phương pháp, có thể giảm nhẹ hoặc thậm chí tránh được những tác dụng phụ này một cách hiệu quả.
Hôm nay, chúng tôi sẽ chia sẻ những phương án đối phó đã được kiểm chứng lâm sàng cho các tác dụng phụ phổ biến nhất sau hóa trị, giúp bạn hoặc người thân bớt khổ sở và bước qua quá trình điều trị một cách suôn sẻ hơn. Nội dung khá dài, mọi người có thể lưu lại khi cần dùng nhé!

I. ỨC CHẾ TUỶ XƯƠNG
1. Giảm bạch cầu
Đây là tác dụng phụ phổ biến nhất. Trong suốt chu kỳ hóa trị, bác sĩ sẽ thường xuyên cho bệnh nhân xét nghiệm công thức máu để theo dõi số lượng bạch cầu. Thông thường, bạch cầu sẽ giảm xuống mức thấp nhất vào tuần thứ 2 sau hóa trị, do thuốc hóa trị có tác dụng tiêu diệt mạnh lên các tế bào tủy xương đang sinh sôi nhanh. Sự giảm này chỉ là tạm thời, thường bắt đầu phục hồi vào tuần thứ 3 sau hóa trị. Giá trị bình thường: Bạch cầu: (4.0-10.0) x 10^9/L; Bạch cầu hạt trung tính: (1.8-6.3) x 10^9/L.
🔆Khi bạch cầu thấp hơn bình thường, bệnh nhân cần lưu ý:
(1) Nghỉ ngơi, phòng ngừa nhiễm trùng: Nghỉ ngơi, mặc thêm quần áo, tránh nơi đông người, đeo khẩu trang khi ra ngoài, hạn chế tiếp khách.
(2) Dinh dưỡng: Tăng cường dinh dưỡng, uống nhiều nước, ăn thực phẩm giàu protein, ngủ đủ giấc.
(3) Xử lý vết thương nhỏ: Khử trùng kịp thời để tránh nhiễm trùng toàn thân.
(4) Vệ sinh thực phẩm: Khử trùng dụng cụ ăn uống. Theo dõi thân nhiệt để phát hiện sớm nhiễm trùng.
(5) Chăm sóc răng miệng: Khi bạch cầu giảm (thường sau 1 tuần hóa trị), cần tăng cường chăm sóc răng miệng, súc miệng bằng dung dịch súc miệng sau ăn và trước khi ngủ. Dùng bàn chải lông mềm. Nếu loét miệng đau nhiều, báo nhân viên y tế để được chỉ định dùng thuốc gây tê tại chỗ súc miệng trước khi ăn.
(6) Chăm sóc vùng hậu môn: Rửa bằng nước sạch sau khi đại tiện, dùng giấy mềm. Bổ sung rau quả giàu chất xơ (nhiệt độ thường hoặc làm ấm nóng) để tránh táo bón.
(7) Cách ly bảo vệ: Khi bạch cầu < 1 x 10^9/L, nguy cơ nhiễm trùng nặng cao, cần báo ngay bác sĩ để áp dụng biện pháp cách ly bảo vệ.

2. Giảm tiểu cầu
Giá trị bình thường: (100-300) x 10^9/L. Tiểu cầu có chức năng cầm máu. Nếu giảm xuống dưới 50 x 10^9/L sẽ có nguy cơ chảy máu.
🔆Biện pháp tự chăm sóc khi tiểu cầu giảm:
(1) Phòng ngừa chảy máu: Hỉ mũi nhẹ nhàng; dùng bàn chải lông mềm hoặc bọt biển, súc miệng bằng nước muối nhẹ; tránh dùng chỉ nha khoa hoặc dụng cụ xịt rửa miệng khi tiểu cầu giảm; ăn thức ăn ít chất xơ cứng, tránh đồ ăn thô cứng; dùng dao cạo điện; cẩn thận khi dùng đồ sắc nhọn.
(2) Theo dõi sau thủ thuật: Sau tiêm/chọc, ấn điểm chọc ít nhất 15 phút. Tránh dùng thuốc đặt hậu môn, thụt tháo. Báo bác sĩ khi muốn dùng thuốc chống viêm giảm đau (như aspirin, ibuprofen) hoặc thực phẩm chức năng (nhiều loại có tác dụng làm loãng máu).
(3) Theo dõi đại tiểu tiện: Giữ phân mềm, dùng thuốc nhuận tràng nếu cần. Quan sát màu sắc phân/nước tiểu, giữ mẫu bất thường và báo bác sĩ.
(4) Phòng ngừa xuất huyết nội sọ: Theo dõi thay đổi về ý thức, cảm giác, vận động, nhịp thở. Báo ngay nhân viên y tế nếu có đau đầu, buồn nôn.

3. Giảm hồng cầu, hemoglobin (Thiếu máu)
- Giá trị bình thường: Hồng cầu: (3.8-5.1) x 10^12/L; Hemoglobin: (120-165) g/L. Khi giảm sẽ gây mệt mỏi, chóng mặt, hồi hộp, da xanh...
🔆Biện pháp tự chăm sóc:
(1) An toàn: Thay đổi tư thế từ từ để tránh ngã.
(2) Dinh dưỡng: Thiếu máu thiếu sắt nên ăn nhiều thịt nạc, trứng, gan, đậu, rong biển, nấm, mộc nhĩ... kết hợp bổ sung vitamin C để tăng hấp thu sắt.

II. Phản ứng đường tiêu hóa
1. Buồn nôn và nôn
🔆Khuyến nghị giảm nhẹ:
(1) Cách ăn uống: Sau ăn không nằm ngay, nên ngồi tựa 30-60 phút. Chia nhỏ 6-8 bữa/ngày. Nhai kỹ. Ăn nhiều vào thời điểm ít buồn nôn nhất (thường là sáng sớm). Uống nước từng ngụm nhỏ giữa các bữa.
(2) Thực phẩm cần tránh: Đồ chiên rán, dầu mỡ, cay, mặn, ngọt, đồ quá nóng/lạnh. Tránh rượu, caffein.
(3) Dùng thuốc: Nếu nôn nặng (≥ 3 lần), báo bác sĩ để được chỉ định thuốc chống nôn.

2. Táo bón
Nguyên nhân: Do thuốc hóa trị gây tổn thương tế bào niêm mạc ruột.
🔆Biện pháp:
(1) Vận động & thói quen: Vận động nhẹ phù hợp thể lực, tập thói quen đi đại tiện đúng giờ.
(2) Dinh dưỡng: Uống nước mật ong ấm, massage bụng nhẹ nhàng. Uống nước ấm buổi sáng. Ăn nhiều rau.
(3) Dùng thuốc: Nếu các biện pháp trên không hiệu quả, báo bác sĩ để dùng thuốc nhuận tràng.

3. Tiêu chảy
Nguyên nhân: Thuốc hóa trị ảnh hưởng đến chuyển hóa tế bào ruột.
🔆Biện pháp:
(1) Dinh dưỡng: Tránh thức ăn thô cứng, nhiều xơ, ngọt, cay, chiên rán, đồ quá nóng/lạnh, rượu, cà phê. Ăn nhạt, bổ sung nước, ăn trái cây (như cam, nước ép rau giàu kali). Đảm bảo thực phẩm sạch, tươi.
(2) Theo dõi: Quan sát số lần, màu sắc phân, giữ mẫu bất thường và báo bác sĩ.
(3) Chăm sóc hậu môn: Rửa nhẹ bằng khăn ấm ẩm sau đại tiện, giữ khô ráo. Thoa kem bảo vệ da hoặc kem kẽm oxit nhiều lần/ngày để phòng ngừa tổn thương da.

III. Độc tính trên hệ tiết niệu
Nguyên nhân: Thuốc hóa trị và chất chuyển hóa bài tiết qua thận, bàng quang, có thể gây tổn thương nếu lưu lại lâu.
🔆Biện pháp bảo vệ:
(1) Bù nước và kiềm hóa: Uống đủ nước trước và trong hóa trị để duy trì lượng nước tiểu 2000-3000ml/ngày. Với liều cisplatin cao, bác sĩ sẽ truyền dịch muối sinh lý. Liều thông thường có thể dùng bicarbonate natri 5% truyền tĩnh mạch để kiềm hóa nước tiểu (duy trì pH 7-8), ngừa kết tinh ống thận.
(2) Phòng ngừa bệnh thận do acid uric: Với bệnh nhân ung thư nhạy hóa trị (như bệnh bạch cầu, lymphoma), cần bù nước, kiềm hóa nước tiểu. Ăn kiêng thực phẩm giàu purin (thịt đỏ, nội tạng, lạc...).
(3) Xử trí tổn thương nặng: Nếu suy giảm chức năng thận nặng, bác sĩ sẽ mời chuyên khoa thận hội chẩn để đánh giá và lập kế hoạch điều trị.

IV. Bất thường chức năng gan
Nguyên nhân: Gan là cơ quan chuyển hóa chính của thuốc hóa trị.
- Biểu hiện: Mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, tăng men gan, nặng có thể vàng da (thường tạm thời).
- 🔆Biện pháp phục hồi:
(1) Nghỉ ngơi: Ngủ đủ, giảm hoạt động, nghỉ tại giường để giảm gánh nặng cho gan.
(2) Dinh dưỡng: Ăn nhạt, ít dầu mỡ; tăng cường protein chất lượng cao (cá, trứng) và thực phẩm giàu vitamin C, E, B (cà chua, cam, rau xanh) để hỗ trợ tái tạo tế bào gan.
(3) Dùng thuốc: Tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định của bác sĩ.
(4) Theo dõi: Quan sát màu da (vàng), phù nề, báo bác sĩ nếu có bất thường.

V. Rụng tóc
Đặc điểm: Phản ứng tạm thời, tóc thường mọc lại sau vài tuần kết thúc hóa trị, có thể thay đổi chất tóc.
🔆Biện pháp đối phó:
(1) Quản lý hình ảnh: Có thể cạo tóc trước, đội tóc giả phù hợp để tăng tự tin.
(2) Chăm sóc da đầu: Gội bằng nước ấm và dầu gội dịu nhẹ 2-3 lần/tuần, sấy khô ở nhiệt độ thấp. Chải bằng lược răng thưa hoặc bàn chải mềm. Dùng gối vải cotton, lụa. Tuyệt đối không uốn/nhuộm tóc.
(3) Chống nắng: Đội mũ, che ô, quấn khăn khi ra ngoài, dùng kem chống nắng. Nếu rụng lông mi, đeo kính râm để bảo vệ mắt.
(4) Dinh dưỡng hỗ trợ: Ăn thực phẩm giàu protein, vitamin, sắt, đồng, i-ốt để hỗ trợ mọc tóc.

VI. Độc tính thần kinh
Nguyên nhân: Một số thuốc (như vinca alkaloid, cisplatin, paclitaxel, oxaliplatin...) có thể gây tổn thương thần kinh ngoại biên.
🔆Biểu hiện: Tê bì, đau, dị cảm (như châm chích), yếu cơ tay chân/thân mình, một số kèm chóng mặt. Triệu chứng thường hồi phục (vài tháng đến vài năm).
🔆Biện pháp đối phó:
(1) Phòng ngừa ngã do chóng mặt: Thay đổi tư thế từ từ. Trước khi ngồi dậy từ tư thế nằm, để chân thõng xuống giường 20-30 giây. Sau khi đứng, cử động ngón chân, mắt cá chân trước. Nếu chóng mặt, ngồi/nằm nghỉ ngay. Trước khi bỏ dụng cụ hỗ trợ (gậy...), đứng vững vài phút.
(2) Tránh kích thích lạnh: Không rửa tay bằng nước lạnh, ăn đồ lạnh, hít gió lạnh. Rửa tay nước ấm và lau khô, giữ ấm ngay. Đeo găng tay khi trời lạnh, không chạm trực tiếp vào kim loại (đồ trang sức, tay nắm cửa). Dùng găng tay cotton dày khi lấy đồ từ tủ lạnh.
(3) Phòng ngừa bỏng/tổn thương do lạnh: Kiểm tra da tay chân hàng ngày, giữ ẩm. Tránh tiếp xúc vật nóng. Đo nhiệt độ nước tắm trước (do cảm giác bất thường dễ gây bỏng). Giữ ấm để giảm nguy cơ tổn thương da.

VII. Phản ứng da, niêm mạc
1. Hội chứng bàn tay-bàn chân (HFS)
Nguyên nhân: Thường gặp với capecitabine, doxorubicin liposome...
Biểu hiện: Nóng, đau, đỏ, sưng ngón tay/chân, nặng có thể tróc vảy, loét.
🔆Biện pháp đối phó:
(1) Tránh kích thích: Đi giày rộng, dùng đệm giảm chấn, tránh lao động nặng, tiếp xúc nhiệt độ cao. Nâng cao tay chân khi ngồi/nằm. Tránh ăn cay.
(2) Can thiệp thuốc: Dùng vitamin B6, celecoxib theo chỉ định. Dùng thuốc kháng nấm/kháng sinh nếu cần.
(3) Xử lý tổn thương: Bóng nước, tróc da cần nhân viên y tế xử lý. Không tự lột da tróc, dùng kéo vô trùng cắt phần da chết. Ngừng hoặc giảm liều thuốc theo chỉ định.

2. Phản ứng da
(1) Viêm da/Phát ban/Ngứa: Tránh nắng gắt, chất tẩy rửa kích ứng. Không gãi.
(2) Sạm da/Nứt móng: Che chắn khi ra nắng, mặc quần áo dài, thoa kem chống nắng.

3. Tổn thương niêm mạc
(1) Loét miệng: Súc miệng sau ăn và trước ngủ. Dùng bàn chải mềm. Tránh thuốc lá, rượu, đồ chua cay nóng. Dùng dung dịch súc miệng/thuốc bôi theo chỉ định. Nếu đau, dùng thuốc tê tại chỗ trước ăn.
(2) Loét hậu môn: Uống nhiều nước, ăn nhiều chất xơ để tránh táo bón. Ngâm nước ấm pha thuốc tím 2 lần/ngày. Dùng đệm hơi để giảm áp lực lên vùng hậu môn.

4. Phản ứng liên quan đến tĩnh mạch
Phòng ngừa viêm tĩnh mạch và hoại tử do thoát thuốc: Cần thao tác tiêm truyền đúng kỹ thuật. Theo dõi vị trí tiêm truyền trong quá trình truyền. Báo nhân viên y tế ngay nếu thấy đỏ, sưng, đau.

VIII. Độc tính trên tim - Điểm đối phó
Nguyên nhân: Thuốc nhóm anthracycline (như doxorubicin, mitoxantrone) dễ gây độc tính tim, có thể dẫn đến bệnh cơ tim, suy tim. Độc tính liên quan đến tổng liều tích lũy.
🔆Biện pháp đối phó:
Nguyên tắc cốt lõi: Phòng ngừa là ưu tiên, phát hiện sớm và can thiệp sớm.
(1) Phòng ngừa & Theo dõi: Hoàn thành kiểm tra điện tâm đồ theo chỉ định trước truyền. Trong truyền, nếu có tức ngực, hồi hộp..., báo ngay nhân viên y tế.
(2) Xử trí triệu chứng: Sau hóa trị, nếu xuất hiện đau ngực, hồi hộp, khó thở, mệt mỏi... cần báo ngay nhân viên y tế, nằm nghỉ và ăn nhạt. Bác sĩ sẽ can thiệp bằng thuốc bảo vệ tim.

IX. Các tác dụng phụ thường gặp khác - Điểm đối phó
(1) Mệt mỏi: Phản ứng phổ biến nhất. Đảm bảo nghỉ ngơi đầy đủ, tránh làm việc quá sức, vận động nhẹ nhàng phù hợp. Nếu mất ngủ, dùng thuốc ngủ theo chỉ định.
(2) Độc tính trên tai: Thuốc nhóm platinum (cisplatin, carboplatin) dễ gây giảm thính lực, ù tai. Cần kiểm tra thính lực định kỳ trong điều trị, theo dõi sát tình trạng, xử trí triệu chứng khi có bất thường·
(3) Vấn đề kinh nguyệt: Bệnh nhân nữ có thể rối loạn kinh nguyệt hoặc vô kinh, một số vào mãn kinh sớm với các triệu chứng như bốc hỏa, đổ mồ hôi, mất ngủ, thay đổi cảm xúc. Cần điều chỉnh tâm lý, tìm hướng dẫn từ nhân viên y tế khi cần.

Trên hành trình hóa trị, buồn nôn, rụng tóc, mệt mỏi, mất ngủ... ai gặp cũng thấy khó chịu. Nhưng tôi muốn nói với mọi người rằng : Những phản ứng này, không phải cứ cố chịu đựng là xong, mà có những phương pháp để giảm nhẹ. Y học hiện đại có thể chống nôn, tăng bạch cầu, bảo vệ tim; còn Đông y thì giỏi điều hòa tỳ vị, dưỡng khí huyết, an thần, điều hoà giảm tác dụng phụ. Một bên tấn công tà khí (bệnh), một bên phù chính (nâng cao thể trạng), phối hợp tốt, người bệnh sẽ bớt khổ sở và thêm nhiều tự tin hơn.
Tất nhiên, mỗi người có thể trạng khác nhau, dùng thuốc khác nhau, phản ứng cũng muôn hình vạn trạng. Đừng áp dụng kinh nghiệm của người khác một cách máy móc, cũng đừng cố chịu đựng trong im lặng. Hãy kịp thời nói với bác sĩ về cảm giác của bạn, chúng ta cùng nhau điều chỉnh phác đồ, tìm giải pháp.
Hy vọng hướng dẫn này có thể giúp ích cho bạn hoặc người thân. Dù hóa trị có nhiều thách thức, nhưng với sự đồng hành của nhân viên y tế, cùng sự phối hợp khoa học giữa Đông và Tây y, chắc chắn có thể bình an vượt qua giai đoạn hóa trị và hồi phục thuận lợi!❤️🌷
--- Bác sĩ Thương Yêu ---

Address

Hanoi

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 09:00 - 17:00
Thursday 09:00 - 17:30
Friday 09:00 - 17:30
Saturday 09:00 - 17:30

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nhân Hoà Y Đạo - 仁和医道 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Nhân Hoà Y Đạo - 仁和医道:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram