18/03/2023
CÂY ĐINH LĂNG
I. HOẠT CHẤT, TÁC DỤNG:
1. Hoạt chất:
Vỏ rễ và lá đinh lăng chứa saponin, alcaloid, các vitamin B1, B2, B6, vitamin C, 20 acid amin, glycosid, alcaloid, phytosterol, tanin, acid uric, caroten, nhiều nguyên tố vi lượng và 21,10% đường. Trong lá còn có saponin triterpen (1,65%) và một genin đã phân lập được là acid oleanolic.
+Lá cây thuốc đinh lăng, trung tâm Sâm và Dược liệu thành phố Hồ Chí Minh thuộc Viện Dược Liệu đã phân lập được 5 hợp chất. Trong rễ đinh lăng cũng tìm được 5 hợp chất, tuy nhiên chỉ có 3 hợp chất là trùng với một số chất trong lá. Ba chất này có tính kháng khuẩn mạnh mẽ và chống các loại ung thư.
2. Tác dụng:
1. Theo Y học cổ truyền
+Vị thuốc Đinh lăng dùng làm thuốc bổ dưỡng, chữa suy nhược cơ thể, thận yếu, phụ nữ sau khi sinh thiếu sữa, sản hậu huyết xông nhức xương.
+Dùng làm thuốc chữa ho, ho ra máu, bí tiểu, chữa kiết lỵ.
+Thân và cành dùng chữa thấp khớp, đau lưng.
+Lá dùng chữa hạ sốt, vết thương sưng đỏ, sưng đau.
+Rễ của cây còn được dùng làm thuốc bồi bổ tăng lực, chữa cơ thể suy nhược, ốm yếu, xanh xao, ăn uống kém, phụ mẹ sau đẻ thiếu máu. Có nơi lại dùng chữa ho, ho ra máu, đau bụng, kiết lỵ và làm thuốc nhuận tràng, trị táo bón.
+Lá chữa cảm sốt, mụn nhọt sưng đỏ, sưng đau, dị ứng mẩn ngứa, lở loét (giã đắp) . Thân và cành chữa khớp, đau lưng.
2. Theo Y học dân gian
Theo tài liệu của Học viện Quân sự Việt Nam, dung dịch cao Đinh lăng có tác dụng:
+Tăng biên độ điện não, tăng tần số các sóng alpha, gamma và giảm tỉ lệ sóng delta; tăng khả năng đáp ứng của các tế bào thần kinh thị giác với các kích thích ánh sáng tăng nhẹ sự phấn khích khi thực hiện phản xạ trong đó tăng hoạt động phản xạ có điều kiện bao gồm phản xạ âm tính và phản xạ phân biệt.
+Nhìn chung, dưới tác dụng của cao Đinh lăng, vỏ não được hoạt hoá nhẹ và có sự cân bằng, mọi chức năng của hệ thống thần kinh trung ương khi tiếp nhận và phản ứng sẽ tốt hơn.
+Khi bộ đội tập luyện quân sự có sử dụng bột rễ cây đinh lăng thì khả năng chịu đựng và sức dẻo dai của cơ thể tăng lên rõ rệt.
+Các nghiên cứu của nước này cũng cho biết bột rễ hay dịch chất rễ Đinh Lăng có khả năng làm tăng sức đề kháng của cơ thể người trong môi trường nóng ẩm còn tốt hơn Vitamin C và chè bạc hà. Đó là tác dụng làm tăng sức khỏe của thảo dược này.
+Dịch chiết rễ và bột rễ cây Đinh Lăng có tác dụng kích thích tiêu hoá, tăng sức đề kháng với bệnh tật.
II. BỘ PHẬN DÙNG, BÀO CHẾ:
1. Bộ phận dùng:
Trong dân gian hay thấy người ta dùng lá cây Đinh lăng, nhưng bộ phận dùng chính xác là rễ đã phơi hoặc sấy khô.
Thu hoạch rễ vào mùa thu đông sau khi cây trồng trên 5 năm, vì lúc này rễ rất mềm và có nhiều tinh dầu. Đào lấy rễ, làm sạch, tách lấy vỏ rễ, cắt lát, phơi khô ở nơi thoáng để giữ nguyên đặc tính. Sau khi phơi khô, rễ mềm, thường được cắt thành những lát mỏng.
2. Bào chế cây đinh lăng
+Đinh lăng sống: Loại bỏ tạp chất, làm sạch, phơi hay sấy khô.
+Đinh lăng chế rượu gừng và mật ong: Đổ rượu gừng 5% vào Đinh lăng tươi, trộn đều cho ngấm rượu gừng rồi sao qua nhỏ lửa. Tẩm thêm Mật ong vào đảo đều cho ngấm mật và sao cho thơm. Dùng 5 lít rượu gừng 5% và 5kg Mật ong cho 100kg dược liệu.
III. LƯU Ý:
+Trong lá đinh lăng có nhiều saponin nên nếu trẻ sử dụng quá nhiều sẽ dễ mắc phải các tác dụng như chóng mặt, hoa mắt, đau đầu, mệt mỏi. Vì thế, tùy theo mỗi trường hợp bệnh để điều chỉnh liều sử dụng cho phù hợp và không nên uống nhiều.
+Trẻ em không nên uống nước lá đinh lăng mà chỉ được dùng ngoài da bởi hệ thần kinh của bé chưa phát triển hoàn chỉnh, nếu thường xuyên uống nước lá đinh lăng có thể ảnh hưởng tiêu cực lên tổng trạng cũng như hệ tim mạch.
+Thai phụ trong 3 tháng đầu không nên uống lá đinh lăng vì có thể nguy hiểm cho thai nhi.
+Tất cả bài thuốc từ lá đinh lăng đều cần có quá trình chuyển hoá và phát huy tác dụng rồi mới có kết quả.
+Song song với việc dùng lá đinh lăng trong hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ cũng cần có chế độ sinh hoạt và ăn uống hợp lý.