PRP Phương pháp trị liệu tự thân

PRP Phương pháp trị liệu tự thân Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from PRP Phương pháp trị liệu tự thân, Medical and health, Hanoi.

Niêm mạc tử cung – hay còn được gọi là nội mạc tử cung – là lớp phủ toàn bộ bề mặt phía trong của tử cung, có cấu tạo gồ...
12/10/2020

Niêm mạc tử cung – hay còn được gọi là nội mạc tử cung – là lớp phủ toàn bộ bề mặt phía trong của tử cung, có cấu tạo gồm 2 phần là lớp đáy và lớp nông. Lớp đáy – hay nội mạc căn bản – là các tế bào mô trụ tuyến và mô đêm, không chịu nhiều biến đổi của chu kỳ kinh nguyệt. Lớp nông – hay nội mạc tuyến – chịu sự tác động lớn trong thời kỳ kinh nguyệt.

Niêm mạc tử cung đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với quá trình thụ thai và mang thai ở người phụ nữ. Niêm mạc tử cung quá dày hoặc quá mỏng có thể là nguyên nhân gây khó thụ thai, hiếm muộn ở nữ giới.

Lớp niêm mạc tử cung dưới sự tác động của hormone sinh dục nữ sẽ trở nên dày lên tùy theo từng thời điểm cụ thể trong tháng, phụ thuộc vào chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ.

Niêm mạc tử cung dày lên khi tới giai đoạn chuẩn bị để cho trứng đã thụ tinh làm tổ. Nếu như trứng không được thụ tinh thì lớp niêm mạc này sẽ bị b**g tróc và được đẩy ra ngoài cơ thể và hình thành hiện tượng hành kinh ở phụ nữ.
https://tamanhhospital.vn/ung-dung-huyet-tuong-giau-tieu-cau-trong-thu-tinh-ong-nghiem/

8 CÁCH ĐỂ CÓ NGUỒN TẾ BÀO GỐC TỐT HƠN TRƯỚC KHI ĐIỀU TRỊ  Bệnh nhân thường hỏi chúng tôi làm thế nào họ có thể cải thiện...
27/06/2020

8 CÁCH ĐỂ CÓ NGUỒN TẾ BÀO GỐC TỐT HƠN TRƯỚC KHI ĐIỀU TRỊ

Bệnh nhân thường hỏi chúng tôi làm thế nào họ có thể cải thiện chất lượng hoặc số lượng tế bào gốc của họ trước khi làm thủ thuật. Là một phòng khám về tế bào gốc tiên tiến bậc nhất ở Hoa Kì, chúng tôi đã sử dụng hơn một thập kỷ trải nghiệm nghiên cứu về tế bào gốc và đã rút ra được 8 giải pháp giúp cải thiện hiệu quả chất lượng tế bào gốc cho bệnh nhân trước khi điều trị.
8 cách để cải thiện tế bào gốc của bạn là gì?
1. Cắt / giảm tối đa việc tiêu thụ đường
Người Mĩ thường tiêu thụ rất nhiều đường. Chúng ta đã hấp thu đường như thế nào? Bất kỳ thực phẩm nào chuyển thành glucose trong máu. Đường được thấy rõ ràng là đường trắng chúng ta cho vào cà phê, nước uống và cho vào một số món ăn, các loại trái cây siêu ngọt và nước trái cây, v.v. Khác, ít rõ ràng, bao gồm tinh bột, chẳng hạn như bánh mì và mì ống. Khi kết hợp với việc hoạt động quá ít, tất cả các đường này tạo ra quá nhiều insulin, gây ra hội chứng rối loạn chuyển hóa, có thể dẫn đến tăng cân, kháng insulin, huyết áp cao, v.v. Theo một nghiên cứu, tế bào gốc trưởng thành sống lâu hơn trong nuôi cấy tế bào khi glucose giảm.
Thêm vào đó, nguy cơ mắc bệnh ung thư tăng lên do béo phì hoặc thừa cân. Cũng đã có nhiều nghiên cứu tiếp tục cho thấy rằng những thức ăn chứa nhiều đường này không chỉ gây nguy cơ ung thư mà còn có một loạt các bệnh mãn tính khác. Do đó nói không với đường hay hạn chế tối thiểu tiêu thụ đường sẽ là một quyết định tuyệt vời cho sức khỏe của bạn: cải thiện chất lượng cuộc sống, kiểm soát cân nặng, và quan trọng hơn cả đối với bệnh nhân có kế hoạch điều trị bằng tế bào gốc khi nó giúp cải thiện chất lượng cũng như số lượng các tế bào gốc của bạn.
Điều quan trọng là cũng cần lưu ý trong việc chuyển sang sử dụng đường nhân tạo, chẳng hạn như sucralose (ví dụ: Splenda — gói màu vàng) và aspartame (ví dụ: NutraSweet — gói màu xanh), nó cũng không phải là lựa chọn hoàn hảo để thay thế đường. Sucralose đã được tìm thấy nó ảnh hưởng đến phản ứng đường huyết và insulin, dẫn đến sự gia tăng nồng độ đường huyết cao điểm và tỷ lệ bài tiết insulin. Trong một nghiên cứu năm 2014, sucralose hạn chế sự tăng trưởng của vi khuẩn Bacteroides trong ống nghiệm, nó có thể gây ra nhưng rối loạn ở ruột của bạn.
Để cắt đường, chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt của Atkins, Zone hoặc South Beach là một ý tưởng hay. Đây là những chế độ ăn ít đường huyết. Chế độ ăn ít đường huyết có lợi vì nó giúp kiểm soát sự tiết insulin và lượng đường trong máu của bạn.
Bạn nên loại bỏ đường và sử dụng chế độ ăn kiêng Atkins trong vài tháng trước khi thực hiện thủ thuật tế bào gốc, kiểm tra hemoglobin A1C (HBA1C) trước và sau bữa ăn (có thể mất 6 tháng để giảm). HBA1C hướng tới là 5.1.
2. Giảm lượng calo của bạn
Ngay việc hạn chế calo ngắn hạn cũng có thể cải thiện chức năng tế bào gốc.
Một nghiên cứu cho thấy rằng khi hạn chế lượng calo ở chuột, tế bào gốc cơ của nó đã được cải thiện về chức năng. Điều này còn ảnh hưởng tốt đến những tế bào khác, như ti thể (các "nhà máy điện" nhỏ của tế bào) cũng phong phú hơn ở những con chuột này. Ngoài ra, hiệu ứng này còn tốt ở cả chuột nhỏ và chuột già. Cuối cùng, bạn không phải hạn chế lượng calo trong một thời gian dài; thậm chí chỉ cần giảm lượng calo ngắn hạn vẫn sẽ cải thiện tế bào gốc. Đây không phải là bài báo duy nhất cho thấy hiện tượng này, vì nó cũng được thấy trong các tế bào gốc trung mô. Cả hai nghiên cứu này đều ở chuột, chưa có nghiên cứu về hiệu ứng này có thể hoặc không thể kéo dài đến con người. Tuy nhiên, ít nhất một nghiên cứu trên người đã chỉ ra rằng giảm cân thông qua chế độ ăn ít calo giúp tăng số lượng tế bào gốc tuần hoàn trong máu.
Lời khuyên cho bạn: ngoài việc cắt đường và ăn một chế độ ăn ít đường huyết (số 1), hãy thử giảm lượng calo nạp vào 20% trong hai tuần trước khi bạn lấy các tế bào gốc.
3. Giảm lượng Triglycerides
Cơ thể của chúng ta đốt cháy các carbohydrate để tạo năng lượng, và khi hấp thu quá nhiều, chúng sẽ được lưu trữ như chất béo trung tính để sử dụng sau này. Triglyceride của chúng ta có thể trở nên cực kỳ cao nếu chúng ta thường xuyên hấp thụ nhiều carbohydrate hơn chúng ta có thể đốt cháy. Điều này làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim và huyết áp cao. Nó cũng liên quan đến hội chứng chuyển hóa và tăng cân, đặc biệt khi được kết hợp bởi lượng đường và calo dư thừa.
Ngoài ra, sau nhiều năm kinh nghiệm nuôi cấy tế bào gốc cho bệnh nhân, chúng tôi đã quan sát thấy rằng ở những bệnh nhân có lượng chất béo trung tính cao hoặc có các vấn đề béo phì, tế bào gốc sẽ phát triển kém hơn.
Kiểm tra lượng chất béo trung tính cũng như giảm lượng đường, carbohydrate và lượng calo của bạn để mang chất béo trung tính xuống mức bình thường là việc bạn nên làm trước khi lấy tế bào gốc.
4. Tăng độ mạnh cũng như sự dẻo dai trong luyện tập thể chất
Nghiên cứu cho thấy những động vật già có lượng hoạt động nhiều và mạnh hơn có tế bào gốc tốt hơn, và những tế bào gốc này tạo ra nhiều xương hơn. Nó cũng cho thấy rằng các tế bào gốc trong cơ bắp được tăng cường bằng cách tập thể dục, hơn nữa, những người nâng tạ có các tế bào gốc trong cơ bắp của họ là tốt hơn. Chúng tôi phân loại và ghi lại mức độ hoạt động khác nhau của các bệnh nhân vứi các nhãn đánh dấu: “Boulder Active”, “American Active” và “Coach Potato”.
Boulder Active với các chỉ số sau đây: tập thể dục 8-12 giờ một tuần và cường độ tập thể dục đối với một người bình thường có thể sẽ khó khăn. Ví dụ sau:
- Đi xe đạp - từ 50 đến 100 dặm (với núi và lên dốc cao)
- Chạy trên đường mòn trên núi - hai giờ với độ cao lên tới ít nhất 1.000 feet
American Active là những người thường xuyên đến câu lạc bộ sức khỏe với các hoạt động với các thiết bị như:
- Elliptical
- Máy chạy bộ
- Máy nâng tạ tại các mức cao và cho đến khi đạt được số thiết lập.
Couch Potato chính là việc hiếm khi tập hay chỉ với những bài rèn luyện đơn giản. Tập thể dục không phải là một phần của lối sống Couch Potato.
Hãy cố gắng để có được mức độ hoạt động của bạn ở đâu đó giữa Boulder (sự dẻo dai) và American Active (sự mạnh mẽ),
Nếu bạn bị chấn thương hoặc các vấn đề về sức khỏe khiến cho những tập luyện này trở nên không thể, chỉ cần tập trung vào những gì bạn có thể làm. Hãy thử các hoạt động nhẹ trong hồ bơi để bắt đầu, và sau đó chỉ tăng dần hoạt động của bạn khi có thể.
Trở thành một vận động viên ưu tú, chuyên nghiệp không phải là mục tiêu trong trường hợp này. Bạn chỉ cần thực hiện nó để cải thiện nguồn tế bào gốc của bạn để chúng tôi có thể thu hoạch các tế bào gốc tốt nhất cho phương pháp điều trị của bạn.
5. Bổ sung thêm các chất cho cơ thể
Việc bổ sung dinh dưỡng với một số chất phổ biến sau có thể có lợi cho tế bào gốc hoặc sụn. Chúng bao gồm:
- Vitamin D3
- Vitamin C
- Curcumin
- Glucosamine
- Chondroitin
- Resveratrol
Cùng với vitamin D và C, chúng tôi sử dụng curcumin, glucosamine, chondroitin và resveratrol làm thành phần chính trong Công thức Regenexx hỗ trợ cải thiện nguồn tế bào gốc. Chúng tôi đã chọn những chất này vì có rất nhiều nghiên cứu lâm sàng xác nhận lợi ích của chúng, đông thời cũng dựa trên hiệu ứng tế bào gốc được phản ánh trong dữ liệu phòng thí nghiệm của chúng tôi.
- D3, và các vitamin D khác có thể làm giảm sự lão hóa của các tế bào gốc; giúp tế bào gốc biệt hóa, làm cho tế bào gốc của chúng ta khỏe mạnh hơn.
- Vitamin C có lợi cho tế bào gốc tủy xương bằng cách thúc đẩy sự gia tăng số lượng chúng.
- Curcumin đã được chứng minh là điều chỉnh sự hình thành xương và ngăn chặn stress oxy hóa, làm giảm sự mất xương. Ngoài ra, nó có đặc tính chống viêm mạnh, có lợi với các tế bào gốc trung mô.
- Các nghiên cứu cho thấy glucosamine và chondroitin bảo vệ sụn và giảm mất sụn, và chúng tạo thành 2 trong số 8 chất bổ sung (trong số 18) đã vượt qua các xét nghiệm của chúng tôi khi tạo công thức tế bào gốc.
- Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng resveratrol bảo vệ sụn và giúp tế bào gốc phân biệt và sinh sôi nảy nở. Ngoài ra, resveratrol giúp kiểm soát lượng đường trong máu, phù hợp với thảo luận về hội chứng chuyển hóa ở số 1 trong danh sách này.
6. Hạn chế dùng các loại thuốc theo toa khi có thể
Có nhiều loại thuốc theo toa làm tổn thương tế bào gốc. Nhiều bệnh nhân có tế bào gốc không thể phát triển do một loại thuốc nhất định bệnh nhân này đang dùng và khi dừng thuốc vấn đè này lại biến mất. Vì vậy hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn để hiểu rõ về những loại thuốc gì bạn cần hạn chế và thuốc nào có khả năng dùng.
Việc dừng bất kỳ loại thuốc nào có thể làm hỏng tế bào gốc của bạn 1-2 tuần trước khi bạn làm thủ thuật tế bào gốc là một diều vô cùng cần thiết.
7. Tránh xa steroid!
Steroid liều cao được sử dụng cho rất nhiều bệnh, từ hen suyễn đến đau đầu gối đến đĩa đệm thoát vị, nhưng vấn đề là chúng là những loại thuốc độc hại cho tế bào gốc. Chúng có thể là chất chống viêm mạnh mẽ, nhưng một nghiên cứu đã kết luận rằng steroid tác động mạnh đến các tế bào gốc trung mô và khiến chúng không biệt hóa được thành xương.
Trong những tháng gần thủ thuật điều trị tế bào gốc của bạn, nếu bạn đang dùng steroid (đường uống hoặc ngoài màng cứng), hãy dừng lại ngay. Nói chuyện với bác sĩ của bạn về một giải pháp thay thế an toàn cho tế bào gốc của bạn.
8. Đôi khi lượng Oxy thấp sẽ tốt hơn
Bạn đã nghe nói về lều dưỡng khí oxy thấp chưa? Nhiều vận động viên ưu tú ngủ trong những lều này để rèn luyện trong điều kiện oxy thấp. Các tế bào gốc có thể sinh trưởng và duy trì khả năng sống tốt hơn ở mức oxy thấp, vì vậy oxy thấp đôi khi là điều tốt. Tế bào gốc thực sự phân biệt tốt hơn khi mức oxy bình thường.
Trước khi làm thủ thuật tế bào gốc, hãy đi nghỉ ngơi thư giãn ở một nơi có vị trí cao.
Kết luận: Đây là những điều chúng tôi khuyên bệnh nhân làm để có được nguồn tế bào gốc tốt nhất cho điều trị. Bạn có thể đọc thêm về tất cả những điều này bằng cách xem cuốn sách Nutrition 2.0 của Dr. Pitts. Hãy nhớ rằng thủ thuật tế bào gốc của bạn sẽ chỉ hiệu quả khi tế bào gốc khỏe mạnh - vì vậy hãy tập trung vào những cách này để cải thiện tế bào gốc của bạn để có được kết quả tốt nhất có thể!

Liệu pháp mới với PRP: Giải pháp cho vô sinh nam?Là một người đã chứng kiến nhiều thay đổi trong lĩnh vực sản khoa 40 nă...
27/06/2020

Liệu pháp mới với PRP: Giải pháp cho vô sinh nam?
Là một người đã chứng kiến nhiều thay đổi trong lĩnh vực sản khoa 40 năm qua, tôi cảm thấy rất thích thú khi thấy các nhà nghiên cứu tập trung sự chú ý của họ vào các yếu tố sinh sản nam giới - Bởi Scott Laidler.
Gần đây tôi đã đọc một bài viết về loại vắc-xin PRP (huyết tương giàu tiểu cầu) mới được thiết kế để giúp cải thiện khả năng sinh sản của nam giới bằng cách tăng cường sự khỏe mạnh, tốc độ và chất lượng của tinh trùng. Nghiên cứu được thực hiện ở Tây Ban Nha đã phát hiện ra rằng bằng cách lấy một mẫu máu của nam giới và tiêm nó vào một mẫu dịch tinh dịch của anh ta, người ta có thể cải thiện tốc độ di chuyển của tinh trùng.
Là một người đã chứng kiến nhiều thay đổi trong lĩnh vực sản khoa trong 40 năm qua, tôi rất thích thú khi thấy các nhà nghiên cứu tập trung sự chú ý của họ vào các yếu tố sinh sản nam giới. Từ lâu, chúng ta đã tập trung vào các yếu tố nữ khi điều trị các vấn đề sinh sản, tuy nhiên điều quan trọng là, chúng ta biết rằng 50% các vấn đề sinh sản cũng có liên quan trực tiếp đến các yếu tố nam giới.
Các yếu tố do nam giới luôn là một chủ đề khó đối với các nhà nghiên cứu về khả năng sinh sản bởi vì, trong hơn 50 năm qua, phần lớn bệnh nhân tới xin giúp đỡ về vấn đề sinh sản là phụ nữ. Do đó, các nhà nghiên cứu đã có thể thu thập rất nhiều dữ liệu về các yếu tố sinh sản của nữ giới và cũng có nhiều phụ nữ sẵn sàng tham gia nghiên cứu để chứng minh những phát hiện của họ. Điều này có nghĩa là sự hiểu biết về các vấn đề sinh sản của nữ giới và các phương pháp điều trị liên quan luôn tiến triển nhanh chóng. Trong khi đó, cho đến tận gần đây, nhiều người đàn ông vẫn luôn tin rằng họ không có trách nhiệm gì trong vấn đề này. Do đó, điều này cũng trở thành khó khăn cho các nhà nghiên cứu trong việc tìm kiếm vai trò của nam giới trong sản khoa.
Một số nghiên cứu xuất sắc về các yếu tố sinh sản của nam giới đã được thực hiện ở Brussels, nơi các nhà nghiên cứu đã phát triển ý tưởng tuyệt vời về ICSI (thụ tinh trong ống nghiệm) vào đầu những năm 90. Kỹ thuật này đã được sử dụng rộng rãi kể từ đó. (Lưu ý: ICSI là một kỹ thuật thụ tinh rất thành công, trong đó một tinh trùng được tiêm vào trung tâm của trứng.) Ý tưởng đó đã thúc đẩy nhiều nhà nghiên cứu phát triển các giải pháp mới để xử lý các vấn đề cụ thể ở nam giới.
Nhận thấy người Tây Ban Nha ngày càng quan tâm đến nghiên cứu tập trung vào nam giới, tôi nhận thấy rằng đã đến lúc thế giới bắt đầu quan tâm đến yếu tố nam giới, từ việc bắt đầu cải thiện chất lượng tinh dịch, cải thiện số lượng tinh trùng thấp, giảm dị tật bẩm sinh, làm tăng khả năng sống sót của tinh trùng, tốc độ và khả năng tinh trùng xâm nhập vào trong trứng. Là một người từ lâu đã nghiên cứu về lĩnh vực sinh sản, điều này rất thú vị với tôi, vì theo thời gian, nó có khả năng tạo ra một bước đột phá lớn trong việc cải thiện khả năng sinh sản của nam giới.
Tuy nhiên vấn đề là ở đây, có rất ít bác sĩ chuyên về khả năng sinh sản của nam giới và mặc dù phần lớn trong số họ đang cố gắng hết sức để tiến hành nghiên cứu, nhưng thật không may, không có kết quả quan trọng nào được tìm thấy. Do đó, việc việc cấp bách nhất hiện nay là tổ chức các nhà nghiên cứu cải thiện các phương pháp nhằm điều trị khả năng sinh sản của nam giới và cố gắng tránh dễ dàng để bệnh nhân điều trị IVF, mặc dù IVF có thể là phương pháp thích hợp nhất. Để từ đó nhiều hơn các cặp vợ chồng có thể được hưởng lợi nhiều từ các nghiên cứu, theo thời gian, sẽ cho phép số lượng người thụ thai thành công tự nhiên nhiều hơn.
Liên quan đến các nghiên cứu của Tây Ban Nha và phương pháp sử dụng máu của chính bệnh nhân để cải thiện chất lượng dịch tinh dịch và tinh trùng. Đó là một bước nhỏ theo đúng hướng. Là chuyên gia về khả năng sinh sản, chúng tôi đã có các phương pháp thành công khác để theo dõi hoạt động của tinh trùng và cải thiện chất lượng và tốc độ của chúng bằng phương tiện phòng thí nghiệm đặc biệt. Mọi người làm việc trong lĩnh vực sinh sản đều biết rằng có kỹ thuật lọc rửa tinh trùng, và phương pháp loại bỏ bất kỳ vật liệu không cần thiết, mảnh vụn và tế bào không mong muốn nào trong dịch tinh dịch ... tất cả đều được biết đến nhưng sử dụng máu của chính mình như một phương pháp, điều này là một bước mới. Và, cho đến khi chúng tôi nhận được phân tích dữ liệu đầy đủ về số lượng bệnh nhân tham gia nghiên cứu và tỷ lệ thành công đằng sau nó, chúng tôi chưa thể so sánh kết quả của phương pháp này với các phương pháp hiện tại đã có có thể cải thiện thành công tinh trùng mà không cần lấy máu.
Điều quan trọng hơn đối với tôi khi là một nhà khoa học và bác sĩ phụ khoa là nghiên cứu này sẽ cho chúng tôi thấy có bao nhiêu bệnh nhân đã thử nghiệm; có bao nhiêu bệnh nhân đã trải qua các vấn đề sinh sản kéo dài hơn hai năm; và có bao nhiêu người đàn ông (có vấn đề về khả năng sinh sản đã tồn tại hơn hai năm) được điều trị bằng phương pháp này có bạn đời mang thai thành công. Sau đó, chúng tôi có thể đánh giá nghiên cứu một cách khách quan chính xác. Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu công bố, nghiên cứu hoàn toàn là thông tin.

Giới thiệu các tế bào gốc Stromal có nguồn gốc từ máu kinh nguyệt(MenSCs)1. Khám phá về MenSCVào cuối kỳ kinh nguyệt, cá...
27/06/2020

Giới thiệu các tế bào gốc Stromal có nguồn gốc từ máu kinh nguyệt
(MenSCs)
1. Khám phá về MenSC
Vào cuối kỳ kinh nguyệt, các tế bào lớp cơ bản màng mội mạc của phụ nữ sẽ nhanh chóng sinh sôi và biệt hóa để thay thế các tế bào biểu mô và tế bào trung mô, để duy trì tính toàn vẹn của nội mạc tử cung. Năm 1978, Prianishnikov [1] đã đề xuất sự tồn tại của tế bào gốc nội mạc tử cung, gây ra sự tăng sinh và sửa chữa lớp chức năng của nội mạc tử cung. Năm 2007, Masuda và cộng sự. [2] xác nhận rằng một số tế bào nội mạc tử cung có thể tự làm mới, với khả năng tăng sinh cao và khả năng biệt hóa nhất định, đáp ứng các tiêu chí của tế bào gốc. Năm 2008, một nhóm nghiên cứu do Hida [3], một nhà khoa học Nhật Bản, đã phân lập thành công các tế bào gốc có khả năng biệt hóa đa chiều từ máu kinh nguyệt của phụ nữ. Trong cùng năm đó, các nhà khoa học Mỹ Patel và cộng sự, [4] đã phân lập các tế bào gốc trung mô từ máu kinh nguyệt của phụ nữ khỏe mạnh và đặt tên cho tế bào là tế bào gốc stromal có nguồn gốc từ máu kinh nguyệt (MenSCs). Những năm tiếp theo, các nghiên cứu lâm sàng và nghiên cứu cơ bản như nhân bản tế bào tiếp tục cho thấy các tế bào gốc nội mạc tử cung nằm ở lớp cơ bản, và có hai loại tế bào gốc là biểu mô và stromal [5-6].
2. Nguồn gốc của MenSC
Có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của tế bào gốc nội mạc tử cung. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng các tế bào gốc nội mạc tử cung được phát triển từ các tế bào gốc phôi còn lại, nghĩa là các tế bào gốc nội mạc tử cung có thể là kết quả của sự tăng sinh và biệt hóa của các tế bào gốc trong thời kỳ bào thai [7]. Các nghiên cứu khác cho thấy các tế bào gốc nội mạc tử cung cũng có thể bắt nguồn từ tủy xương [8-9]. Nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra rằng có rất ít tế bào gốc trung mô tủy xương trong nhiều cơ quan quan trọng của cơ thể con người.
3. Phương pháp xác định và đánh dấu MenSC
Hiện nay, các nghiên cứu về tế bào gốc nội mạc tử cung chủ yếu được thực hiện bằng cách chuẩn bị huyền phù tế bào đơn để phát hiện sự hình thành các khuẩn lạc vô tính. Gargett [10] nuôi cấy biểu mô nội mạc tử cung và tế bào trung mô phân lập từ mô nội mạc tử cung bằng cách có enzyme in vitro, có 0,09% tế bào biểu mô và 0,02% tế bào trung mô có thể hình thành các dòng vô tính lớn sau 15 ngày. Cervello và cộng sự [11] tin rằng các tế bào mô đệm nội mạc tử cung của CD31, CD34 và CD144 có thể là những dấu ấn quan trọng để phân tách các tế bào gốc mô đệm nội mạc tử cung. Masuda và cộng sự[12] nhận thấy rằng ngoài CD140b và CD146, W5C5 cũng có thể được sử dụng như một chỉ số hiệu quả để đánh nhãn tế bào gốc nội mạc tử cung. Mặc dù các dấu hiệu này đóng một vai trò quan trọng trong nghiên cứu về tế bào gốc nội mạc tử cung, nhưng vẫn không có dấu hiệu xác định cho các tế bào gốc nội mạc tử cung.
4. Ưu điểm của MenSC
Tế bào gốc trung mô nội mạc tử cung có thể được phân lập và nuôi cấy in vitro từ các tế bào tế bào nội mạc tử cung trong máu kinh nguyệt, có các ưu điểm sau [3,13-15]:
(1) Máu kinh nguyệt có thể được lấy hàng tháng dó đó lượng MenSC thu được rất phong phú;
(2) Thật thuận tiện để thu thập, và có thể được thu thập bằng cách sử dụng cốc kinh nguyệt, không xâm lấn;
(3) Khả năng tự đổi mới mạnh mẽ và tiềm năng đa dạng hóa;
(4) Trong liệu pháp lâm sàng của MenSCs, không có hoặc từ chối miễn dịch thấp trong cấy ghép;
(5) Không có vấn đề đạo đức nào về MenSC.
5. Nghiên cứu và triển vọng ứng dụng của liệu pháp MenSCs
5.1 Các bệnh liên quan đến Nội mạc tử cung
Những thay đổi về số lượng, chức năng, vị trí và cơ chế điều hòa của tế bào gốc nội mạc tử cung có thể dẫn đến các bệnh liên quan đến nội mạc tử cung, bao gồm lạc nội mạc tử cung, vô sinh và ung thư nội mạc tử cung. Xét về mối quan hệ chặt chẽ giữa tế bào gốc nội mạc tử cung và các bệnh lâm sàng, các nghiên cứu sâu hơn về MenSC sẽ tăng thêm hiểu biết, sẽ có thêm cơ sở lý thuyết cho việc điều trị bệnh bằng tế bào gốc nội mạc tử cung [16-19].
5.2 Các bệnh khác
5.2.1 Đột quỵ
Đột quỵ không chỉ ảnh hưởng đến chức năng của các tế bào thần kinh, mà còn liên quan đến các tế bào não, tương tác với hệ thống miễn dịch xung quanh. Borlongan và cộng sự [20] nhận thấy rằng MenSC cung cấp một số chất đóng vai trò bảo vệ thần kinh bằng cách nghiên cứu các mô hình đột quỵ in vitro và in vivo của MenSC. Các nghiên cứu khác đã phát hiện ra rằng việc điều trị các tế bào gốc thúc đẩy sự giải phóng một hoặc nhiều yếu tố [21-22], có lợi ích tiềm năng trong điều trị đột quỵ [23]. Do đó, cấy ghép MenSCs có thể là một cách hiệu quả để điều trị đột quỵ và các bệnh hạch nền cơ bản khác, như bệnh Parkinson và bệnh Huntington.
5.2.2 Suy gan
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng liệu pháp ghép MenSCs có thể làm giảm mức độ xơ hóa gan, thúc đẩy tái tạo tế bào gan, giảm viêm gan, từ đó cải thiện chức năng gan của bệnh nhân bị suy gan và giảm tỷ lệ tử vong do bệnh gan [24-25].

HUYẾT TƯƠNG GIÀU TIỂU CẦU – TIỀM NĂNG VÀ ỨNG DỤNGPhần 1: Định nghĩa huyết tương giàu tiểu cầuHuyết tương giàu tiểu cầu t...
27/06/2020

HUYẾT TƯƠNG GIÀU TIỂU CẦU – TIỀM NĂNG VÀ ỨNG DỤNG
Phần 1: Định nghĩa huyết tương giàu tiểu cầu
Huyết tương giàu tiểu cầu tự thân (PRP – Platelet Rich Plasma) là huyết tương có nồng độ tiểu cầu cao gấp nhiều lần so với huyết tương trong máu bình thường được tách chiết từ máu của chính bệnh nhân. Bình thường số lượng tiểu cầu trong máu khoảng từ 140.000 đến 400.000 tiểu cầu/ μl máu (trung bình 200.000), trong khi đó số lượng tiều cầu trong PRP cao hơn gấp nhiều lần, từ 2- 8 lần, so với mức trung bình. Sở dĩ cần một nồng độ lớn tiểu cầu trong liệu pháp PRP vì khi tiểu cầu được hoạt hóa sẽ dẫn đến quá trình ly giải các hạt α chứa bên trong tiểu cầu, từ đó giải phóng ra nhiều loại protein là các cytokine chống viêm và hàng chục các yếu tố tăng trưởng (growth factor) có vai trò quan trọng đối với quá trình làm lành vết thương. Các protein trên sẽ gắn vào các thụ thể (receptor) của các tế bào đích tương ứng như tế bào nguồn gốc trung mô, nguyên bào xương, nguyên bào sợi, tế bào biểu mô, tế bào nội mô...Sự gắn kết này sẽ hoạt hóa một loại protein dẫn truyền tín hiệu nội bào để truyền thông tin tới gen đặc hiệu tương ứng, kết quả là tạo nên sự tăng sinh tế bào, hình thành chất căn bản, các sản phẩm dạng xương, sụn, tổng hợp collagen... tham gia vào quá trình sửa chữa, tái tạo tổ chức tổn thương sụn, xương, phần mềm... Trong chuyên ngành cơ xương khớp, liệu pháp PRP tự thân được sử dụng để điều trị bệnh thoái hóa khớp gối, chấn thương thể thao, viêm gân và các điểm bám tận, kích thích sự lành vết thương phần mềm cũng như làm nhanh liền xương sau phẫu thuật.


Phần 2: Cấu tạo, chức năng của tiểu cầu và hạt α

Tiểu cầu là các phân mảnh của mẫu tiểu cầu (megakaryocyte), một loại tế bào bạch cầu sinh ra ở tủy xương. Tiểu cầu là tế bào nhỏ nhất trong các tế bào máu, có hình tròn hoặc hình bầu dục với đường kính xấp xỉ 2 μm (1,2- 2,3 μm). Tiểu cầu trú ngụ trong các mạch máu và có nồng độ cao trong lách. Bình thường số lượng tiểu cầu trong máu từ 140.000 đến 400.000/mm (μl). Đời sống trung bình của tiểu cầu là 10 ngày trước khi bị thực bào bởi các đại thực bào của hệ thống lưới nội mô.
Về cấu tạo, bên trong tiểu cầu là một siêu cấu trúc phức tạp, chủ yếu gồm một hệ thống vi quản ở ngoại vi, hệ thống ống dày đặc, ti lạp thể, nhiều hạt (alpha- 24 α, delta- δ, lambda- λ) và hệ thống các kênh mở. Trong tiểu cầu, hạt α có số lượng từ 50 đến 80 hạt và hình thành trong quá trình trưởng thành của mẫu tiểu cầu. Hạt có đường kính khoảng 200- 500 nm, được bao quanh bởi một lớp màng và chứa khoảng 30 loại protein có hoạt tính sinh học khác nhau, trong đó có thể kể đến các protein như yếu tố 4 tiểu cầu, yếu tố von Willebrand, fibrinogen, thrombospondin, protein S, yếu tố XIII... là những yếu tố quan trọng tham gia vào quá trình đông cầm máu của tiểu cầu. Hạt cũng chứa rất nhiều các protein bao gồm nhiều yếu tố tăng trưởng có chức năng quan trọng trong quá trình làm lành vết thương.
Hình Cấu trúc tiểu cầu

Chức năng của tiểu cầu: tiểu cầu có chức năng chính là tham gia vào quá trình đông- cầm máu và khởi đầu quá trình làm lành vết thương.

Phần 3: Tổng quan quá trình làm lành vết thương
Quá trình làm lành vết thương được chia làm 3 giai đoạn chồng chéo nhau: giai đoạn viêm (inflammation), giai đoạn tăng sinh (proliferation) và giai đoạn sửa chữa, tái tạo tổ chức (remodel) (theo Pietrzak [2]).
Đáp ứng đầu tiên khi xảy ra tổn thương ở mô là quá trình viêm. Khi máu thoát khỏi thành mạch bị tổn thương, tiểu cầu tham gia thực hiện chức năng cầm máu dẫn đến hình thành cục máu đông làm đầy tổn thương. Lúc này tiểu cầu đã được hoạt hóa cùng với nhiều tế bào (TB) khác nhau và hạt α của tiểu cầu giải phóng các yếu tố tăng trưởng và các cytokine. Quá trình này hấp dẫn các TB di chuyển tập trung đến nơi tổn thương, tăng sinh, biệt hóa và tổng hợp các chất căn bản. Bạch cầu đa nhân trung tính là những TB viêm đầu tiên xâm nhập vào vị trí vết thương, hình thành sự bảo vệ chống lại quá trình nhiễm trùng cũng như loại bỏ các mô hoại tử. Đời sống của chúng ngắn, từ vài giờ đến vài ngày. Tiếp theo là các TB đơn nhân và TB lympho T: TB đơn nhân biệt hóa thành đại thực bào đóng vai trò chính hỗ trợ các TB đa nhân trung tính thực hiện chức năng cũng như bản thân nó giải phóng ra các yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình viêm. Đời sống của các TB đơn nhân và lympho kéo dài từ nhiều ngày đến nhiều tháng. Sau đó các TB gốc nguồn gốc trung mô di chuyển tới khu vực tổn thương, nơi chúng sẽ biệt hóa thành các TB đặc hiệu tương ứng với mô tổn thương như TB xương, sụn, xơ, các TB mạch máu và mô khác. Các nguyên bào sợi cũng di cư tới, tăng sinh và sản xuất ra môi trường ngoại bào. TB biểu mô mạch máu cạnh mô tổn thương cũng tăng sinh, hình thành mạng lưới mao mạch tân tạo hướng về khu vực thương tổn, khởi động quá trình tăng sinh mạch máu. Gần về cuối giai đoạn viêm, tổ chức hạt mới hình thành, có màu hồng với đặc điểm là mô giàu mạch máu, nhiều TB xơ, TB viêm mạn tính nhưng không có tổ chức thần kinh. Đây là môi trường chuyển hóa thuận lợi cho quá trình sửa chữa mô tổn thương.
Giai đoạn tăng sinh: các mô hoại tử dần bị loại bỏ bởi quá trình trên và được thay thế bởi mô sống tương tự với mô trước khi bị tổn thương. Các nhân tố tại chỗ, bao gồm các yếu tố tăng trưởng nguồn gốc tiểu cầu, cytokine, hocmon, chất dinh dưỡng, pH môi trường, áp lực khí oxy, môi trường điện- hóa học… thúc đẩy quá trình tăng sinh và biệt hóa các TB gốc nguồn gốc trung mô thành các nguyên bào xương, nguyên bào sụn, nguyên bào sợi và các TB khác cần cho sự tái tạo mô tương ứng.
Giai đoạn sửa chữa, tái tạo tổ chức: mô mới được tái tạo sẽ thay đổi hình dạng và cấu trúc cho giống với mô gốc. Tại đây mật độ các tế bào và mạch máu tăng lên, các TB sợi collagen, TB xương… tăng trưởng. Thời gian của giai đoạn sửa chữa, tái tạo có thể kéo dài nhiều năm.



Phần 4: Vai trò của tiểu cầu trong quá trình làm lành, sửa chữa vết thương
Khi tiểu cầu được hoạt hóa sẽ dẫn đến quá trình ly giải các hạt α của tiểu cầu, từ đó giải phóng ra nhiều loại protein có vai trò quan trọng đối với quá trình làm lành vết thương hay tổn thương [1, 2]. Một số protein quan trọng:
- Platelet-derived growth factor (PDGF- αα, ββ, αβ): yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ tiểu cầucó tác dụng hóa ứng động đối với đại thực bào- thu hút đại thực bào tới nơi tổn thương; phối hợp PDGF với TGF-β, IGF có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng mạch máu, phân chia TB, hình thành da, chất căn bản xương, tổng hợp collagen.
- Transforming growth-factor-beta (TGF-β: β1, β2): yếu tố tăng trưởng chuyển dạng beta có tác dụng thúc đẩy các TB gốc nguồn gốc trung mô (sụn, xương, cơ, sợi….) và các nguyên bào xương… phân bào; thúc đẩy quá trình khoáng hóa của xương (khi phối hợp với PDGF). Các yếu tố tăng trưởng TGF-β còn phối hợp với IGF-1 và BMPs tham gia vào quá trình tổng hợp chất căn bản của sụn khớp [4].
- Vascular endothelial growth factor (VEGF): yếu tố tăng trưởng nội mạc mạch máu,thúc đẩy hình thành mạch máu.
- Epidermal growth factor (EGF): yếu tố tăng trưởng biểu bì, thúc đẩy tăng trưởng tế bào và sự biệt hóa, hình thành mạch máu, hình thành collagen.
- PDEGF (platelet-derivedendothelial growth factor): yếu tố tăng trưởng nội mô nguồn gốc tiểu cầu.
- PDAF (platelet-derived angiogenesis factor): yếu tố tăng sinh mạch nguồn gốc tiểu cầu.
- ECGF (epithelial cell growth factor): yếu tố tăng trưởng tế bào biểu mô.
- Fibroblast growth factor-2 (FGF-2): yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi-2, thúc đẩy tăng trưởng của các TB biệt hóa và hình thành mạch máu.
- Insulin-like growth factor (IGF): yếu tố tăng trưởng giống Insulin, một điều tiết sinh lý học bình thường trong gần như mọi loại tế bào của cơ thể. IGF-1 còn phối hợp với các yếu tố tăng trưởng TGF-β và BMPs tham gia vào quá trình tổng hợp chất căn bản của sụn khớp [4].
Các yếu tố khác do tiểu cầu sinh ra như PF 4 (Platelet factor 4): yếu tố 4 tiểu cầu; Osteocalcin; Osteonectin; Fibrinogen, Vitronectin; Fibronectin; TSP-1: thrombospondin-1… và nhiều chất khác; trong đó nhóm các chất Fibrinogen, Fibronectin, Vitronectin và TSP-1 tham gia vào quá trình hình thành cục máu đông.

Y sinh tái tạo chủ yếu bao gồm hai chiến lược khác nhau dựa trên liệu pháp tế bào. Chiến lược thứ nhất, tế bào được áp d...
27/06/2020

Y sinh tái tạo chủ yếu bao gồm hai chiến lược khác nhau dựa trên liệu pháp tế bào. Chiến lược thứ nhất, tế bào được áp dụng để thay thế các tế bào bị hư hỏng của mô để tái thiết lại tính toàn vẹn và chức năng của nó. Trong chiến lược này gọi là “liệu pháp tế bào”, đơn giản, tế bào được tiêm vào các mô bị hư hỏng hoặc vào hệ tuần hoàn máu. Chiến lược thứ hai phức tạp hơn gọi là "kỹ thuật mô ". Ở đây, các tế bào được kết hợp nuôi cấy biệt hóa trên nền 3D để tạo ra một cấu trúc mô để thay thế một phần mô bị mất, hoặc thậm chí toàn bộ các cơ quan..
Một trong những ví dụ thành công nhất trong "liệu pháp tế bào" là việc cấy ghép tế bào gốc tạo máu. Quy trình này đã được thực hành trong nhiều thập kỷ để điều trị các bệnh nghiêm trọng về máu. Đối với việc ghép tủy xương, tế bào gốc tạo máu được tiêm vào hệ thống tuần hoàn máu của người nhận. Điều thú vị là, các tế bào gốc tạo máu homing đến tủy xương. Nhiều Chemokine đã được tìm thấy, đóng vai trò quan trọng trong cơ chế homing của các tế bào gốc tạo máu.
Một số thí nghiệm đã chứng minh khả năng của homing đến các mô thương cho một số loại tế bào gốc. Trong một số mô hình động vật nhiễm độc gan, cắt bỏ một phần gan, nhồi máu cơ tim, thận, thiếu máu não, tổn thương phổi, xơ phổi, và xạ trị, các tế bào gốc được làm giàu tại cả mô tổn thương và và biệt hóa thành mô cụ thể loại sau khi được truyền tĩnh mạch. Liệu pháp tế bào với có hệ thống các tế bào gốc được tiêm vào trung mô cũng đã được thực hiện ở người, cho thấy tác dụng có lợi trong ghép-versushost bệnh hoặc bệnh xương dễ gãy. Liệu pháp tế bào với tế bào gốc trung mô được cấy ghép theo đường tĩnh mạch đã cho thấy những hiệu quả trong việc điều trị ký chủ chống mảnh ghép và bệnh xương dễ gẫy.
Tuy nhiên, chỉ duy nhất liệu pháp tế bào thì không đủ để tái sinh khuyết tật ở mô lớn hoặc thậm chí thay thế toàn bộ cơ quan. Do đó, cách tiếp cận "kỹ thuật mô" là chiến lược đầy hứa hẹn. Trong quá trình này, các tế bào mô cụ thể được nuôi cấy trên một giàn giáo mô phỏng cấu trúc của nền ngoại bào mô cụ thể. Trong thập kỷ qua, khoa học cơ bản đã tạo ra những thành tựu lớn cho nghiên cứu kỹ thuật mô, kết quả tổng hợp được các cấu trúc mô khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu áp dụng kỹ thuật mô trong trị liệu lâm sàng hầu như còn rất nghèo nàn. Kỹ thuật mô tiếp cận bệnh viện một cách khiêm tốn là do vấn đề phân bố mạch chưa được giải quyết. Vì vậy, một mạng lưới mạch máu còn nguyên vẹn là một điều kiện tiên quyết để tạo ra các cấu trúc mô có đường kính hơn 400 µm.
Trong những năm cuối thập kỷ, nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực kỹ thuật mô chủ yếu tập trung vào việc giải quyết các vấn đề về phân bố mạch. Tuy vậy, cho đến nay, tất cả các nỗ lực chứng minh khả năng áp dụng kỹ thuật mô cho các mô rắn có kích thước lớn hoặc thậm chí toàn bộ các cơ quan trong cơ thể người đã thất bại. Tuy nhiên, kỹ thuật mô đã được sử dụng thành công ở các bệnh nhân để thay thế một trong hai cơ quan rỗng với đường kính nhỏ như khí quản, bàng quang hoặc các mô không có mạch như sụn. Trong những trường hợp này, các quỹ đạo khuếch tán đủ để duy trì sự sống tế bào.

Address

Hanoi
10000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when PRP Phương pháp trị liệu tự thân posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share