Sức Khỏe 24H - Sống Khỏe Mỗi Ngày

Sức Khỏe 24H - Sống Khỏe Mỗi Ngày Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Sức Khỏe 24H - Sống Khỏe Mỗi Ngày, Medical and health, Hanoi.

4 vị thuốc từ gừng và ứng dụng trong y học cổ truyền 09/09/2019Gừng có tên khoa học là Zingiber officinale Rose, thuộc h...
10/10/2019

4 vị thuốc từ gừng và ứng dụng trong y học cổ truyền
09/09/2019
Gừng có tên khoa học là Zingiber officinale Rose, thuộc họ Gừng (Zingiberaceae). Được trồng phổ biến ở mọi miền nước ta để làm gia vị và làm thuốc. Bộ phận dùng là thân rễ, thu hái vào mùa đông. Gừng có tên khoa học là Zingiber officinale Rose, thuộc họ Gừng (Zingiberaceae). Vị thuốc từ gừng có: sinh khương – vị thuốc từ gừng tươi, can khương – vị thuốc từ gừng khô, bào khương và thán khương.

Những Nội Dung Cần Lưu Ý [Ẩn đi]

1. Sinh khương – Vị thuốc từ gừng tươi
Công dụng:
Cách dùng
Ứng dụng lâm sàng của sinh khương
2. Can khương – Vị thuốc từ gừng khô
Công dụng, liều dùng:
Ứng dụng lâm sàng
3. Bào khương- Vị thuốc từ gừng khô đã chế biến
Công dụng, liều dùng:
Ứng dụng lâm sàng
4. Vị thuốc thán khương
Công dụng, liều dùng:
Ứng dụng lâm sàng
1. Sinh khương – Vị thuốc từ gừng tươi
Trong y học cổ truyền, gừng tươi được gọi là sinh khương, là một trong những vị thuốc tân ôn giải biểu, có vị cay, nóng, mùi thơm, tính ấm.

Sinh khương là vị thuốc từ gừng tươi sử dụng phổ biến trong dân gian
Sinh khương là vị thuốc từ gừng tươi sử dụng phổ biến trong dân gian

Công dụng:
Sinh khương quy vào kinh phế, vị, tỳ, có tác dụng phát tán phong hàn, chữa cảm mạo phong hàn, ngạt mũi, ho có đờm, nôn mửa, làm ấm dạ dày trong các trường hợp bụng đầy chướng, ăn không tiêu, khí huyết ngưng trệ, chân tay lạnh. Ngoài ra dùng làm thuốc kích thích tiêu hóa, tăng bài tiết, sát trùng, hành thủy, giải độc ngứa do bán hạ, cua cá, chim thú độc.

Cách dùng
Ngày dùng 4-8 g dưới dạng thuốc sắc uống. Ngoài ra còn dùng làm thuốc xoa bóp và đắp ngoài chữa sưng phù và vết thương.

Ứng dụng lâm sàng của sinh khương
Trị cảm mạo phong hàn:

Tía tô 10g, kinh giới 10g, bạc hà 10g, bạch chỉ 6g, địa liền 6g, vỏ quýt 6g, sinh khương 3 lát. Sắc uống ngày 1 thang trong 3 ngày.

Chữa trúng phong cấm khẩu (tai biến mạch máu não):

Uống nước sắc kinh giới hoà với nước cốt gừng. nước măng vòi (lấy vòi tre hơ lửa vắt lấy nước cốt) và rượu, các thành phần với liều lượng bằng nhau.

Chữa vàng da, tiểu tiện không lợi, suyễn hoặc bệnh đến giai đoạn nguy cấp:

Gừng sống, củ chóc, mỗi vị 320g. Sắc uống làm 2 lần

Chữa ho lâu ngày:

Gừng sống giã lấy nước cốt (1 thìa) tròn mật ong (1 thìa). Đun nóng, uống dần ít một.

Chữa hen:

Nước gừng sống. nước chanh, sữa người. đồng tiện, đều I chén. Hảm ấm và uống. cho đến khì khỏi

Chữa lạnh, cước chân tay vào mùa đông

Rễ lá lốt, gừng tươi đun nước ngâm chân, có thể cho thêm ít muối khi ngâm.

Dùng trà gừng cho trường hợp bị tụt huyết áp

Gừng tươi rửa sạch, loại bỏ vỏ, đem xay nhuyễn và đem nấu với đường kính. Bảo quản trong lọ thủy tinh dùng dần. Khi bị tụt huyết áp, cảm lạnh có thể pha với nước gừng ấm để uống.

2. Can khương – Vị thuốc từ gừng khô
Gừng khô hay còn được gọi là can khương, có vị cay, mùi thơm hắc, tính nóng, quy vào kinh tâm, phế, tỳ, vị, trong đông y là một vị thuốc ôn trung (chữa bệnh về dạ dày) và hồi dương.

Can khương chữa đau bụng lạnh, đầy chướng không tiêu
Can khương chữa đau bụng lạnh, đầy chướng không tiêu

Công dụng, liều dùng:
Ôn trung khử hàn, hồi dương thông mạch. Đồng thời có tác dụng cầm máu, chỉ ho. Can khương chữa đau bụng lạnh, đầy trướng không tiêu, tả, chân tay giá lạnh, mạch nhỏ, đàm ẩm, ho suyễn và thấp khớp.

Ngày dùng 4 – 20g dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Ứng dụng lâm sàng
Chữa tỳ vị hư yếu, ăn uống kém

Can khương tán bột ra 4 lượng kẹo mạch nha, xắt lát rửa qua nấu cho tan ra, viên bằng hạt ngô đồng, uống lúc đói với cơm, ngày 30 viên.

Đau bụng do hàn lạnh

Can khương Truật, Phục linh, Nhân sâm, Cam thảo.

Hạ huyết do trường tích

Can khương, Hoàng kỳ, Cam thảo, Bạch thương, Mạch môn, Sinh địa, Nhân sâm, Thăng ma.

Trúng ác khí

Can khương, Quất bì, Sa nhân, Hoắc hương, Tô mộc, Mộc hương, Bỏ Mộc hương gia, Mộc qua trị được sình bụng do trúng ác khí.

Nôn mửa do vị hư

Can khương, Quất bì, Nhân sâm.

Sốt rét có đàm (Đàm ngược) lâu ngày không khỏi

Can khương, Quất bì, Truật, Bối mấu, Phục linh.

Sốt rét do hàn (hàn ngược)

Can khương, Nhân sâm, Truật, Quế chi, Quất bì.

Ỉa chảy do hư hàn, trúng hàn

Can khương, Nhân sâm, Truật, Cam thảo.

Trị nôn mửa thuộc hư hàn:

Can khương, Nhân sâm, Bán hạ, các vị bằng nhau, tán bột, trộn nước gừng làm viên, mỗi lần uống 6-9g, ngày 3 lần (Can Khương Nhân Sâm Bán Hạ Hoàn – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị phụ nữ băng huyết:

Can khương 6g, Tông bì và Ô mai đều 9g. Tất cả đốt cháy đen tán bột uống (Như Thánh Tán- Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Kiêng kỵ:

Can khương vị đại cay nên người âm hư có nhiệt, có thai không nên dùng. Vì cay nên tán khi tẩu huyết, uống lâu tổn hại tới phần âm, thương tổn mắt. Ngoài ra những chứng âm hư nội nhiệt, ho do âm hư, mửa ra máu kèm biểu hư có nhiệt, tự ra mồ hôi, mồ hôi trộm, ỉa ra máu, mửa do nhiệt, đau bụng do hỏa nhiệt đều không nên dùng. Vị này ghét Hoàng cầm, Hoàng liên, Dạ minh sa, Tần tiêu làm sứ cho nó (Bản Thảo Kinh Sơ).

3. Bào khương- Vị thuốc từ gừng khô đã chế biến
Củ gừng đồ cho chín rồi để trong mát cho đến khô, sao lửa to cho xém đen gọi là can bào khương. Bào khương có vị cay, đắng, tính đại nhiệt, quy vào 6 kinh tâm, phế, vị, đại tràng, thận.

Công dụng, liều dùng:
Làm ấm Tỳ và Vị, trừ hàn. Phòng dương suy, làm ấm phế và trừ đàm thấp.

Ngày dùng 3-10 g.

Ứng dụng lâm sàng
Nôn mửa do vị hàn Sinh đàm

Bào khương 2 chỉ rưỡi. Chích thảo 1 chỉ 2 phân. Dùng 1 chén rưỡi nước sắc còn phân nửa uống.

Sốt rét có tỳ hàn

Bào khương tán bột khi cần dùng uống 3 chỉ với rượu nóng. Dùng Can khương, Quế chi và Tử tô có thể ấm bên trong mà làm cho ra mồ hôi.

Trị mửa ra máu, ỉa ra máu, băng huyết do hư hàn:

Bào khương tán bột, mỗi lần uống 2-4g với nước nóng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị ỉa chảy do hàn:

Bào khương 1 lượng đâm sao cho nóng đắp trên bụng đến Đơn điền (Dưới rốn đắp 1 vùng đường kính chừng 2-5cm). Dùng vải rịt lên chừng 1-2 giờ (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

4. Vị thuốc thán khương
Chế biến vị thuốc từ gừng này chế biến bằng cách thái lát dày gừng khô, sao cháy đen tồn tính.Thán khương có vị cay, mùi thơm hắc, tính ấm.

Thán khương tính đắng ấm có tác dụng chỉ huyết (cầm máu) đường ruột.
Thán khương tính đắng ấm có tác dụng chỉ huyết (cầm máu) đường ruột.

Công dụng, liều dùng:
Ôn trung, trục hàn, hồi dương, thông mạch.

Thán khương chữa đau bụng lạnh, máu hàn, tay chân lạnh, nhức mỏi, tê bại, băng huyết.

Liều dùng: ngày dùng 4-8 g dưới dạng thuốc sắc.

Ứng dụng lâm sàng
Trị mửa ra máu, ỉa ra máu, băng huyết do hư hàn:

Dùng Can khương (đốt cháy đen tồn tính) đem tán bột, uống mỗi lần 2-4g với nước nóng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị nôn ra máu không cầm thuộc hư hàn:

Khương thán (gừng đốt cháy) và Cam thảo đều 6g. Sắc uống với đồng tiện (Can Khương Cam Thảo Thang-Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Ngoài các vị thuốc trên, nhân dân cũng sử dụng vỏ gừng, lá gừng làm thuốc trong dân gian. Vỏ gừng có vị cay, tính mát chữa phù thũng. Là vỏ củ gừng phơi khô, cùng bốn loại vỏ khác như trần bì (vỏ quýt), phục linh bì (vỏ nấm phục linh), đại phúc bì (vỏ cau), ngũ gia bì (vỏ cây chân chim). Phối thành thang ngũ bì ẩm nổi tiếng chuyên chữa phù thũng có thể dùng được cho cả phụ nữ có thai bị sưng hai chân. Ngoài ra, lá gừng bọc thức ăn còn giúp ngừa ôi thiu.

09/10/2019

Chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ với lục lạc ba lá
Theo Đông y, lục lạc ba lá có vị ngọt, hơi chát, tính mát, có tác dụng bổ can thận, sáng mắt ích tinh. Thân và lá có vị đắng, tính bình có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu.
Cây lục lạc ba lá còn có tên gọi là cây sục sạc, rủng rảng, muồng phân, muồng lá tròn, dã hoàng đậu, chư thi đậu…, thuộc họ Cánh bướm Papilionaceae. Là loại cây mọc hoang ở nhiều nơi trên cả nước, thường mọc ven đường đi, bờ sông, đất hoang.

Cây cao khoảng 60cm - 1m, lá có 3 chét hình trái xoan ngược, dài 5-7cm, rộng 2cm, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông. Hoa màu vàng, xếp thành chùm gồm những vòng giả, có lông ngắn. Quả đậu hình dải, lúc non có lông, về sau nhẵn.

Hạt nhiều, màu hạt dẻ nhạt hoặc vàng da cam, hình thận. Cây ra hoa từ tháng 6 đến tháng 10. Quả thường được thu hái vào mùa thu, phơi khô và tách lấy hạt. Bộ phận dùng làm thuốc bao gồm cả cây, rễ, hạt, phơi khô để dùng dần.

Cây lục lạc ba lá.
Theo Đông y, lục lạc ba lá có vị ngọt, hơi chát, tính mát, có tác dụng bổ can thận, sáng mắt ích tinh. Thân và lá có vị đắng, tính bình có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu. Còn rễ lục lạc có vị hơi đắng, tính bình, có tác dụng tiêu viêm giúp trợ tiêu hóa. Thường dùng hạt để trị chóng mặt do sốt, suy nhược thần kinh, bạch đới, chứng đa niệu.

Trong dân gian, người ta cho rằng hạt lục lạc ba lá tròn có tác dụng chữa tiểu tiện nhiều lần, tiểu són, can thận kém, mắt mờ, di tinh, viêm tuyến vú, trẻ con cam tích.

Sau đây là một số bài thuốc thường dùng từ cây lục lạc ba lá:

Chữa nước tiểu đục do nhiệt: Hạt lục lạc ba lá 20g sao vàng, hạt bo bo 30g, cây mã đề tươi 20g, râu ngô 12g, cam thảo dây 10g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 - 3 lần. 5 - 10 ngày là một liệu trình.

Đau nhức xương khớp, đau dây thần kinh tọa: Thân, rễ lục lạc ba lá (khô) 10 - 15g, bạch chỉ 20g, ké đầu ngựa 10g, khiếm thực 20g. Tất cả đem sắc uống, ngày 1 thang, chia làm 2 lần uống. 5 ngày là một liệu trình.

Chữa di tinh, hoạt tinh: Hạt lục lạc ba lá 20g (sao vàng), củ súng 20g, hạt sen 20g. Sắc uống ngày một thang. 10 - 20 ngày là một liệu trình.

Chữa bạch đới, tiểu són ở phụ nữ: Dùng hạt lục lạc, rau dừa nước, mỗi vị 20g, sắc với nước uống. Dùng 3 - 5 ngày.

Chữa đái dầm: Hạt lục lạc ba lá 20g sao vàng. Sắc uống ngày một thang. Dùng 5 - 10 ngày.

Hỗ trợ điều trị tăng huyết áp: Hạt lục lạc ba lá 20g sao vàng, hạt muồng muồng (quyết minh tử) 12g sao vàng, lá dâu 12g sao vàng. Sắc uống ngày một thang, chia 2 - 3 lần. 10 ngày là một liệu trình.

Chữa suy nhược thần kinh, mất ngủ: Hạt lục lạc ba lá 20g sao vàng, hạt muồng muồng (quyết minh tử) 12g sao vàng, long nhãn 12g, lá lạc tiên 20g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần. Hoặc dùng thân, rễ: 10 - 15g, lá vông nem 30g, tâm sen 5g. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 2 lần uống. Dùng 5 - 10 ngày.

Lưu ý: Do hạt lục lạc có tính độc nên không tự ý dùng theo mách bảo, kinh nghiệm dân gian mà cần có sự tư vấn của thầy thuốc chuyên khoa y học cổ truyền, lương y có uy tín. Đặc biệt, phụ nữ mang thai không nên dùng.

Nghệ đen còn có tên khác là bồng nga truật, nghệ đen, nghệ tím, nghệ xanh…, là thân rễ khô của cây nga truật (Curcuma ze...
09/10/2019

Nghệ đen còn có tên khác là bồng nga truật, nghệ đen, nghệ tím, nghệ xanh…, là thân rễ khô của cây nga truật (Curcuma zedoaria (Berg.) Roscoe.) hay cây nghệ đen (Curcuma aeruginosa Rosc.),
họ gừng (Zingiberaceae). Nghệ đen có tinh dầu, chất nhựa và chất nhầy. Nghệ đen vị đắng cay, tính ôn; vào kinh can và tỳ. Có tác dụng hoạt huyết phá ứ, hành khí giảm đau. Trị các chứng kinh bế, bụng đau, trưng hà tích tụ, tiêu thực hóa tích, chấn thương bầm giập. Liều dùng: 6 - 12g.

Nghệ đen được dùng làm thuốc trong các trường hợp:

Phá ứ, thông kinh: Dùng cho phụ nữ khí huyết kết trệ, tắc kinh trướng đau, bụng thành cục.

Bài 1: bột nga truật: nga truật 8g, xuyên khung 6g, thục địa 12g, bạch thược 12g, bạch chỉ 12g. Các vị sấy khô, nghiền thành bột. Mỗi lần 12g, ngày uống 3 lần, chiêu bằng nước muối loãng. Trị các chứng tắc kinh, đau bụng khí hư.
Bài 2: nghệ đen 15g, ích mẫu 15g. Sắc uống. Uống trước kỳ kinh 5-7 ngày. Trị chứng huyết ứ, kinh nguyệt không thông, bế kinh, đau bụng trước kỳ kinh.

Hành khí giảm đau: Dùng khi ngực bụng đau do khí huyết ứ trệ, mạng sườn trướng đau.

Bài 1: bột nga truật 5g, bột điền thất 5g, ô dược 8g, đào nhân 8g; thổ miết, xích thược, cốt toái bổ, tục đoạn, hồng hoa, trạch lan, tam lăng, uy linh tiên mỗi loại 4g; sinh địa 12g, quy vĩ 16g. Bột nga truật và bột điền thất để riêng; sắc dược liệu mỗi ngày 1 thang, uống với bột nga truật hoặc điền thất, với rượu loãng, uống thay phiên nhau. Trị chấn thương gãy xương.

Bài 2: nga truật, nhũ hương, một dược, tam lăng mỗi loại 5g; kim linh tử 15g. Sắc uống. Trị đau vùng hạ sườn.nghe-den-vi-thuoc-dieu-ky-1

Nghệ đen có tác dụng hoạt huyết hóa ứ, hành khí giảm đau, rất tốt cho chị em phụ nữ.

Tiêu thực hoá tích. Trị ăn uống tích trệ, ngực bụng tức trướng, nôn nước chua.
Bài 1: Hoàn nga truật: nga truật, hồ tiêu, hạt củ cải, tam lăng mỗi loại 6g; trần bì 12g; hương phụ, thanh bì, chỉ xác mỗi loại 8g; hồ hoàng liên, sa nhân, lô hội mỗi loại 4g. Tất cả nghiền bột mịn, làm hoàn hồ. Mỗi lần uống 4 - 12g, ngày uống 2 lần, chiêu với rượu đun ấm. Trị trẻ em uống sữa không tiêu, bụng đầy trướng. Lưu ý khi uống thuốc không ăn thức ăn lạnh sống.

Bài 2: nga truật nghiền thành bột, trộn với mật ong để chữa đau dạ dày.

Món ăn thuốc có nga truật:

Rượu xào nga truật: nga truật 15g, dùng rượu nấu gạn lấy nước uống. Dùng tốt cho người hen suyễn khó thở gấp.

Tim lợn hầm nga truật: nga truật 25g, tim lợn nửa quả. Cả hai làm sạch thái lát, hầm chín, thêm gia vị, ăn. Liên tục 1 đợt 5 - 7 ngày. Món này rất tốt cho người bụng trướng đầy, ăn không tiêu.

Nga truật tán: nga truật tán mịn, mỗi lần uống 4g với chút rượu và ăn mấy nhánh hành. Thích hợp cho người trướng bụng đầy hơi đau quặn.

Nước sữa nga truật: nga truật tán mịn 4g, sữa tươi 50ml, thêm chút muối đun sôi uống. Dùng tốt cho trẻ sơ sinh bị nôn trớ khi bú sữa mẹ hoặc uống sữa lạnh.

Kiêng kỵ: Người thể hư không tích trệ và phụ nữ có thai không được dùng.

Suy dinh dưỡng là tình trạng trẻ có cân nặng không tương ứng với độ tuổi, thấp hơn cân nặng và chiều cao chuẩn, thường x...
09/10/2019

Suy dinh dưỡng là tình trạng trẻ có cân nặng không tương ứng với độ tuổi, thấp hơn cân nặng và chiều cao chuẩn, thường xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi, do quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ không đúng cách, do mắc các bệnh nhiễm khuẩn, suy dinh dưỡng bào thai hoặc dị tật bẩm sinh...
Nếu không được can thiệp kịp thời, lâu dần trẻ bị suy dinh dưỡng nặng và thấp còi, chậm phát triển trí tuệ, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, viêm đường hô hấp,...

Trẻ thường có biểu hiện tăng cân chậm hoặc không tăng cân trong nhiều tháng liền; hay ốm vặt, hay mắc các bệnh về đường hô hấp; ngủ không ngon giấc, hay giật mình, quấy khóc; trẻ thấp hơn nhiều so với các bạn đồng trang lứa; hay bị rối loạn tiêu hóa, thường xuyên đi ngoài; chậm biết đi; da xanh xao, môi nhợt nhạt. Chế độ ăn uống đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển thể chất và tinh thần của trẻ. Cha mẹ cần đảm bảo cung cấp cho bé đầy đủ các nhóm dưỡng chất cần thiết bằng những thực phẩm an toàn, được chế biến thơm ngon. Sau đây là một số món ăn thuốc tốt cho trẻ.

1. Cháo ếch đậu xanh: gạo 50g, thịt ếch 100g, một ít đậu xanh cả vỏ, hành khô, dầu ăn, nước mắm, bột nêm vừa đủ. Ếch làm sạch, chỉ lọc lấy phần thịt đùi rồi băm nhuyễn, ướp với chút nước mắm, hạt nêm. Xào thịt ếch với chút dầu ăn và hành khô băm nhỏ cho chín. Gạo và đậu xanh vo sạch nấu thành, khi cháo chín nhừ cho thịt ếch đã xào vào nấu cùng. Đun thêm khoảng 1-2 phút là được. Tác dụng thanh nhiệt mát huyết bổ khí. Chữa trẻ em suy dinh dưỡng, da, tóc khô, gầy yếu, cơ thể chậm phát triển.

2. Cháo biển đậu hoài sơn: bạch biển đậu 50g sao vàng, hoài sơn 50g, gạo ngon 50g, bột gia vị vừa đủ. Tất cả nấu thành cháo thuốc, thêm gia vị, cho trẻ ăn nhiều lần trong ngày. Tác dụng: mạnh tỳ vị, trợ tiêu hóa, chữa trẻ em còi xương, phát dục chậm, bụng ỏng da vàng.
mon-an-thuoc-cho-tre-bi-suy-dinh-duong-1

Chim cút hầm long nhãn bổ can thận bổ tỳ, giúp trẻ tăng cường thể chất.

3. Cháo gạo nếp xương dê táo tàu: táo tàu 15 quả, xương dê 200g, gạo nếp 100g. Tất cả vo, rửa sạch cho vào nồi nước vừa đủ ninh thành cháo thêm gia vị vừa ăn. Ngày ăn 2 lần vào sáng và tối. Tác dụng: bổ huyết, mạnh gân xương, chữa trẻ còi xương chậm lớn.

4. Nhộng trộn với mật ong: nhộng lượng tùy ý sao chín, trộn với mật ong. Mỗi ngày ăn 3 lần, mỗi lần 4-5 con. Tác dụng: bổ tỳ ích khí điều hòa can thận, rất tốt cho trẻ chậm lớn, mệt mỏi.

5. Bột sò nấu gan gà: mỗi lần dùng 6g bột sò với một bộ gan gà cho vào bát hầm cách thủy. Ăn trong ngày. Tác dụng: hết đầy bụng, bổ can thận bổ huyết, trị trẻ em bụng ỏng da vàng, chậm lớn.

6. Bột vỏ sò cam thảo: vỏ sò và cam thảo, hai thứ lượng bằng nhau, tán thành bột, trộn đều. Ngày uống 2 lần mỗi lần 4-5g với nước sôi để nguội.

7. Long nhãn hầm chim cút: long nhãn 15g, hoài sơn 12g, kỷ tử 12g, chim cút 1 con làm sạch lông bỏ nội tạng, bột gia vị vừa đủ. Tất cả cho vào nồi hầm cách thủy, thêm gia vị vừa ăn. Hằng ngày hoặc cách ngày ăn 1 lần. Tác dụng: bổ gan thận, lợi tim, bổ tỳ, thúc đẩy phát triển thể chất.

8. Chim cút hầm đẳng sâm hoàng kỳ: chim cút 1 con làm sạch lông bỏ nội tạng, hoàng kỳ 10g, đảng sâm 10g, dầu ăn, bột gia vị vừa đủ. Các vị thuốc nhồi vào bụng chim, thêm nước vừa đủ, ít dầu ăn, bột gia vị đem hầm cách thủy khoảng 1 giờ. Mỗi ngày ăn 1 lần. Tác dụng: bổ khí huyết, tăng cường gân cốt. Trị trẻ em suy dinh dưỡng, da vàng bủng, chậm lớn.

thiên nhiên tươi đẹp
09/10/2019

thiên nhiên tươi đẹp

niềm vui của những người cha....
05/10/2019

niềm vui của những người cha....

Còn đâu đây những buổi chiều hoàng hôn ấy
04/10/2019

Còn đâu đây những buổi chiều hoàng hôn ấy

Address

Hanoi
100000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Sức Khỏe 24H - Sống Khỏe Mỗi Ngày posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share