Dứt Điểm SỎl Tại Nhà

Dứt Điểm SỎl Tại Nhà Y Học Sức Khỏe Thăm Khám Cho Mọi Người

12 liệu pháp tự nhiên trị viêm họng tại nhàNếu bạn dễ mệt mỏi khi sử dụng thuốc, 12 liệu pháp tự nhiên tại nhà sau có th...
16/12/2019

12 liệu pháp tự nhiên trị viêm họng tại nhà

Nếu bạn dễ mệt mỏi khi sử dụng thuốc, 12 liệu pháp tự nhiên tại nhà sau có thể giảm nhẹ các triệu chứng viêm phế quản.

Khi tình trạng viêm xảy ra trong lớp niêm mạc của ống phế quản, có thể dẫn đến viêm phế quản. Viêm phế quản có thể là cấp tính hoặc mạn tính, và làm cho bệnh nhân ho và khạc ra đờm. Viêm phế quản cấp có thể điều trị dứt điểm được, nhưng viêm phế quản mạn tính thường dễ tái phát trở lại. Cho dù bạn có bị viêm phế quản cấp hay mãn tính, vẫn có một số biện pháp khắc phục và điều trị tại nhà bằng cách sử dụng thực phẩm tự nhiên và dự phòng hợp lý.

Các phương pháp điều trị thông thường bao gồm thuốc giảm ho giúp bạn có thể ngủ ngon vào ban đêm, thuốc chống viêm và kháng sinh nếu bác sĩ nghi ngờ bạn bị nhiễm khuẩn. Nếu bạn dễ mệt mỏi khi sử dụng thuốc, có các liệu pháp tự nhiên tại nhà có thể giúp cải thiện các triệu chứng của bệnh viêm phế quản.

1. Mật ong

Mật ong được biết đến với tính chất chống virut và kháng khuẩn. Uống nước ấm hoặc các đồ uống nóng có pha mật ong có thể giúp giảm tắc nghẽn đường thở và long đờm. Hoặc bạn có thể trộn mật ong với các thành phần khác như tiêu đen hay hành tây để long đờm và cảm thấy dễ thở hơn.

2. Dầu Oregano

Dầu Oregano có thể giúp làm giảm chứng ho có liên quan đến viêm phế quản. Hãy thử vài giọt trên lưỡi hàng ngày.

3. Nước muối

Nước muối có thể làm long đờm, nhưng bạn không được uống - chỉ cần ngậm nước muối cũng có thể đủ để long đờm.

4. Nước cam

Nước cam không chỉ chứa các vitamin mà cơ thể bạn cần để tăng cường hệ thống miễn dịch, mà còn có thể giúp làm giảm viêm họng.

5. Hành

Bằng cách uống nước ép hành tây hàng ngày hoặc kết hợp hành tươi vào chế độ ăn kiêng của bạn, bạn có thể giảm chứng viêm họng do viêm phế quản.

6. Chanh

Chanh, tương tự như nước cam, có chứa các vitamin cần thiết để tăng cường hệ thống miễn dịch. Ngoài ra, chanh có thể giúp điều trị đau cổ họng. Đơn giản chỉ cần thêm một vài lát chanh vào nước nóng rồi uống.

7. Nước

Với bất kỳ bệnh gì, uống đủ nước là chìa khóa để làm sạch nhiễm trùng. Uống nhiều nước để giữ cho cơ thể luôn đủ nước.

8. Tỏi

Tỏi có tính kháng sinh và là thuốc kháng vi rút, làm cho tỏi trở thành một phương thuốc tự nhiên tốt cho viêm phế quản.

9. Dầu bạch đàn

Thêm các giọt dầu bạch đàn vào nước sôi và hít thở hơi nước bốc lên.

10. Muối Epsom

Thêm muối Epsom vào một bồn tắm ấm và ngâm mình ít nhất 30 phút.

11. Hạt mè

Trộn hạt mè, hạt lanh và mật ong và dùng hỗn hợp này trước khi đi ngủ.

12. Húng quế

Nhai lá húng quế có thể làm giảm viêm phế quản.

Phòng ngừa viêm phế quản

"Phòng bệnh hơn chữa bệnh". Sau đây là một số cách để giảm nguy cơ mắc bệnh viêm phế quản:

- Không hút thuốc.

- Uống đủ nước.

- Sử dụng máy làm ẩm để tăng độ ẩm cho không khí.

- Tránh các chất gây ô nhiễm không khí.

- Mang khẩu trang bảo vệ để tránh các chất gây ô nhiễm trong công việc có khói bụi ô nhiễm.

- Luôn luôn thực hành vệ sinh theo khuyến cáo để giảm thiểu nhiễm cảm lạnh và virus cúm.

- Chích ngừa cúm.

Cháo thuốc dành cho người viêm phế quản mạn tínhViêm phế quản là một bệnh thường gặp trong mùa đông xuân, nhất là ở ngườ...
09/12/2019

Cháo thuốc dành cho người viêm phế quản mạn tính

Viêm phế quản là một bệnh thường gặp trong mùa đông xuân, nhất là ở người cao tuổi thuộc phạm vi chứng khái thấu, đàm ẩm của y học cổ truyền.

Viêm phế quản là một bệnh thường gặp trong mùa đông xuân, nhất là ở người cao tuổi thuộc phạm vi chứng khái thấu, đàm ẩm của y học cổ truyền. Nguyên nhân do ngoại phong hàn, phong nhiệt và khí táo. Bên cạnh việc dùng thuốc thì thực phẩm hỗ trợ cũng rất hiệu quả để phòng chống căn bệnh này. Xin giới thiệu một số món ăn - bài thuốc chữa viêm phế quản mạn để bạn đọc tham khảo và áp dụng.

Cháo xa tiền tử: xa tiền tử (hạt mã đề) 10-15g, gạo lức 50g. Dùng vải bọc xa tiền cho vào nồi đất cùng với 0,2 lít nước nấu còn 0,1 lít, bỏ túi thuốc, cho gạo lức đãi sạch vào, thêm 0,4 lít nước nấu thành cháo loãng. Ngày 2 lần, ăn nóng. Công dụng: lợi thủy tiêu thũng, dưỡng gan, sáng mắt, trừ đờm khỏi ho. Dùng cho các chứng viêm phế quản ở người già, tiểu tiện khó, thấp nhiệt ẩm, khí hư, tiểu ra máu, ho ra nhiều đờm, mắt đỏ sưng đau và người bệnh tăng huyết áp, mỡ máu, viêm niệu đạo, viêm bàng quang, kết mạc... Người thận hư, hoạt tinh không nên dùng.

Cháo tứ nhân:

bạch quả nhân 2g, cam hạnh nhân 2g, hạnh đào nhân 5g, lạc nhân 5g, trứng gà 1 quả. Bốn vị thuốc đều nghiền vụn, cho trứng gà nấu vừa một bát. Ăn vào buổi sáng hằng ngày, dùng liên tục trong nửa năm. Công dụng: khỏi ho, bình suyễn. Dùng cho chứng viêm phế quản mạn ở người già.

Cháo gừng tươi, sơn trà: lá sơn trà 15g, gừng tươi 15g, gạo lức 100g, dầu ăn, muối vừa đủ. Gừng tươi cắt lát, gạo lức đãi sạch, cho cùng lá sơn trà với nước vừa đủ đun sôi, sau nhỏ lửa nấu cháo, khi chín cho dầu ăn, muối vừa đủ là được. Ngày ăn 1 bát, chia ăn vài lần. Công dụng: kiện vị, trừ đờm, hết ho, hạ khí. Dùng cho chứng viêm phế quản mạn, ho đờm đặc, ợ ngược, không thích ăn.

Cháo phổi lợn, nhân ý dĩ: phổi lợn 500g, gạo lức 100g, nhân ý dĩ 50g. Phổi lợn rửa sạch, nước vừa đủ, rượu vang vừa đủ, nấu chín vớt ra, cắt quân cờ rồi cho vào nồi cùng gạo lức đãi sạch, nhân ý dĩ, hành, gừng tươi, muối vừa đủ, rượu vang vừa đủ. Đầu tiên đun to lửa, đun sôi sau nhỏ lửa, gạo chín nhừ là được. Ngày 1 bát, chia vài lần, ăn thường xuyên có chuyển biến rõ. Công dụng: bổ tỳ phế, khỏi ho. Dùng cho chứng viêm phế quản mạn, lao phổi...

Cháo bí đao, nhân ý dĩ: bí đao 20-30g, nhân ý dĩ 15-20g, gạo lức 100g. Bí đao rửa sạch, đổ nước nấu lấy nước bỏ bã, ý dĩ gạo lức đãi sạch, nước vừa đủ nấu với nước bí đao thành cháo loãng. Ngày ăn một bát chia vài lần. Công dụng: thanh nhiệt hết đờm, kiện tỳ thẩm thấp, thanh nhiệt trừ phong. Dùng cho viêm phế quản mạn, ho có nhiều đờm.

Cháo vỏ quýt:

Vỏ quýt tươi 30g, gạo lức 50-100g. Vỏ quýt rửa sạch, nước vừa đủ nấu lấy nước, bỏ bã. Cho gạo lức đãi sạch nấu cháo loãng. Ngày ăn 1 bát chia vài lần. Công dụng: táo thấp, lý khí, hết đờm. Dùng cho viêm phế quản mạn, ho có đờm ướt. Người bệnh âm hư, ho khan hoặc ho khan không đờm, thổ huyết không nên dùng.

Cháo tang bạch bì (vỏ trắng rễ cây dâu): tang bạch bì tươi 30g (khô 13g), gạo lức 50g. Tang bạch bì rửa sạch, cho 0,2 lít nước nấu còn 0,1 lít nước, bỏ bã lấy nước đặc, cho gạo lức đãi sạch và 0,4 lít nước vào nấu cùng nước tang bạch bì đến khi gạo nở cháo đặc là được. Ngày ăn 2 lần. Công dụng: tả phế bình suyễn, lợi tiểu hết phù. Dùng cho các chứng viêm phế quản mạn, ho phế nhiệt, thở dốc, đờm nhiều, mặt phù, khó tiểu tiện... Người ho phế hàn, ho cảm phong hàn không nên dùng.

Cháo đình lịch tử (hạt đay): hạt đình lịch ngọt 10g, gạo lức 100g. Hạt đình lịch bỏ tạp chất, sao nhỏ lửa đến khi dậy mùi thơm, để nguội, cho nước cô đặc, bỏ bã, cho gạo lức đãi sạch vào, thêm nước vừa đủ nấu chín. Ngày ăn 1 bát chia vài lần. Công dụng: hạ khí, hành thủy. Dùng cho chứng viêm phế quản mạn, ho viêm phổi mạn có đờm, thở dốc hoặc phù chi dưới. Người ho phế hư, tỳ hư, phù thũng không nên dùng.

Chuối hột rừng món ăn - bài thuốc nhiều công dụngCây chuối hột được dùng để chữa bệnh sỏi thận, đái tháo đường... Gần đâ...
02/12/2019

Chuối hột rừng món ăn - bài thuốc nhiều công dụng

Cây chuối hột được dùng để chữa bệnh sỏi thận, đái tháo đường... Gần đây người ta lại ưa dùng chuối hột rừng hơn chuối hột nhà.

Cây chuối hột được dùng để chữa bệnh sỏi thận, đái tháo đường... Gần đây người ta lại ưa dùng chuối hột rừng hơn chuối hột nhà.

Vì mọc ở rừng nên chuối rừng an toàn hơn và chắc là phải mạnh hơn chuối trồng ở vườn nhà? Chuối rừng có lẽ còn lạ với bà con thành phố nhưng không lạ gì với dân sống ở vùng núi Tây Bắc, Tây Nguyên và miền Trung.

Chuối hột rừng, tên khoa học là Musa acuminata Colla thuộc họ chuối (Musaceae).

Cây có thân giả cao tới 3 - 4m; lá có phiến dài, mặt dưới có thể tía; cuống xanh có sọc đỏ. Hoa chuối hột rừng mọc thẳng đứng ở ngọn (khác với các loài chuối trồng có hoa mọc thõng xuống), màu đỏ thẫm, xen lẫn với những quả chuối màu vàng rộm, số nải ít hơn 10, mo quấn lên. Hoa chuối hột rừng mọc thẳng đứng ở ngọn (khác với các loài chuối trồng có hoa mọc thõng xuống), có loại màu đỏ thẫm (còn gọi là chuối rừng hoa đỏ - Musa paracoccinea A.Z. Liu. & D.Z. Li), xen lẫn với những quả chuối màu vàng rộm. Quả có cạnh, thịt quả nạc chứa nhiều hạt to 4 - 5mm.

Trái chuối hột rừng

Trái chuối rừng to bằng ngón tay cái, có hạt, lúc chín vàng ươm ăn ngọt lịm. Nhưng do trái có nhiều hột nên thường người ta không ăn mà chỉ lấy hột làm thuốc. Chuối hột rừng có hai loại, trái lớn và trái nhỏ. Tất cả ngâm rượu đều thơm, ngon nhưng loại trái nhỏ có phần nhỉnh hơn vì nhựa nhiều. Chuối càng nhiều nhựa ngâm rượu càng ngon và ngọt.

Trái chuối hột còn non, thái mỏng, trộn với các loại rau sống, ăn với nộm sứa, gỏi cá để giảm vị tanh và đề phòng tiêu chảy.

Trái chuối hột rừng có tác dụng chữa đái tháo đường, viêm thận, tăng huyết áp.

Trị trẻ em táo bón: lấy 1 - 2 trái chuối chín đem vùi vào bếp lửa, khi vỏ quả ngả màu đen, ruột chín nhũn thì lấy ra để nguội, cho trẻ ăn, khoảng mươi phút sau là đi đại tiện được.

Trị sỏi bàng quang: trái chuối hột xanh thái mỏng, sấy khô, sao vàng, hạ thổ trong vài ngày, mỗi lần dùng 50-100g sắc với 400ml nước, uống làm 2 lần trong ngày vào lúc no. Có thể dùng dạng nước hãm như pha trà mà uống.

Trị bệnh thống phong (bệnh gút): quả chuối hột (rừng) 3g, củ ráy (rừng) 4g, khổ qua 1g, tỳ giải 2g. Sao vàng hạ thổ, đóng gói 10g/gói, ngày uống 2 - 3 gói pha nước đun sôi uống, không được cho đường vào.

Trị hắc lào: trái chuối xanh còn ở trên cây đem cắt đôi hứng lấy nhựa bôi hoặc đem quả phơi, sấy khô tán nhỏ, rây bột mịn, dùng uống hàng ngày chữa viêm loét dạ dày với kết quả tốt.

Xổ giun: quả chuối hột chín ăn vào lúc đói thấy ra giun.

Không được ăn quả chuối rừng còn xanh (chưa chín) vì rất dễ bị ngộ độc hoặc táo bón nặng vì quá nhiều chất tanin.

Hạt chuối hột

Chuối hột dùng để chữa bệnh là chuối có nhiều hạt, hạt vỏ đen bên trong có bột trắng. Cách lấy hạt chuối hột cũng rất kỳ công, phải để chuối chín mới lấy hạt được, hạt được sao khô thơm nhẹ. Hạt chuối hột có thể dùng để ngâm rượu hoặc tán nhỏ sắc uống hàng ngày.

Giảm đau, tiêu sưng, chữa đau lưng, chân tay nhức mỏi, thấp khớp: 200g giã nát ngâm với rượu 40 độ (1.000ml) trong 10 ngày để càng lâu càng tốt, thỉnh thoảng lắc đều. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 15ml vào trước bữa ăn hay trước khi đi ngủ, có thể thêm đường cho dễ uống.

Trị sỏi thận, sỏi bàng quang: dùng hạt chuối hột rang giòn, giã nát, rây bột mịn. Mỗi ngày dùng 2 thìa canh bột cho vào ấm chế nước sôi pha trà uống. Trong thời gian uống thuốc thấy có chất lắng đục ở đáy dụng cụ đựng nước tiểu qua đêm. Uống liên tục trong 30 ngày, sỏi ra hết thành những viên nhỏ. Kết quả rất tốt.

Vỏ quả chuối hột

Trị đau bụng kinh niên: vỏ quả chuối hột 40g, phơi khô, sao hơi vàng, tán bột; quế chi 4g; cam thảo 2g tán bột. Trộn đều hai bột, luyện với mật làm viên, uống 2 - 3 lần trong ngày với nước ấm.

Trị đau bụng, tiêu chảy: vỏ quả chuối rừng đã chín vàng, thái nhỏ, phơi khô. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 4 - 8g, hãm nước sôi uống.

Trị kiết lỵ: vỏ quả chuối hột, rễ g*i tầm xọng, vỏ quả lựu, rễ tầm xuân, mỗi thứ 20g; búp ổi 10g, phơi khô, sắc uống.

Hoa chuối hột

Hoa chuối có vị hơi chát và ngon ngọt...

Hoa chuối hột thái nhỏ, luộc hoặc làm nộm ăn để tăng tiết sữa ở phụ nữ mới sinh con.

Hoa chuối ăn hoặc sắc nước uống làm cho nước tiểu trong và giúp thận hòa tan các loại acid dễ đóng cặn trong thận và bàng quang.

Hoa chuối là nguồn bổ sung chất xơ rất tốt, vì vậy nên ăn hoa chuối để thêm chất xơ cho ruột, chống táo bón ở người cao tuổi.

Đặc biệt người ta thấy rằng hoa chuối hầu như không có sâu bao giờ, vì vậy có thể dùng thay thế các chất xơ của các loại rau khác mà do lợi ích kinh tế người ta dùng quá nhiều hóa chất để trồng.

Lá chuối hột

Trị băng huyết, nôn ra máu: lá chuối hột phơi khô 10g, mốc cây cau 20g, tinh tre 20g. Tất cả đốt tồn tính, tán nhỏ, hòa với nước uống.

Mát phổi, bổ phổi, tiêu độc: lá bắc (lá màu đỏ bao bọc buồng chuối) và hoa chuối hột sắc uống.

Thân chuối hột

Trị đau nhức răng: thân chuối hột còn non, cắt đoạn, nướng chín rồi ép lấy nước, ngậm với ít muối.

Cầm máu vết thương: dùng lõi thân cây chuối rừng đập dập, đắp vào vết thương.

Lõi thân cây già thái và giã nát, vắt nước uống sẽ làm tiêu khát.

Hỗ trợ ổn định đường huyết: chọn cây chuối hột có bắp đang nhú, cắt ngang cây (cách mặt đất 20 - 25 cm) và khoét một lỗ rỗng to ở thân chuối, để một đêm, sáng hôm sau múc nước từ lỗ rỗng (do gốc thân cây chuối tiết ra) mà uống. Dùng thường xuyên sẽ ổn định được đường huyết.

Theo tài liệu nước ngoài, nước sắc thân và lá chuối hột có tác dụng lợi tiểu chữa phù thũng.

Chuối rừng làm rau sống là những cây chưa trổ buồng, dưới một năm tuổi. Người ta tước bỏ lớp vỏ bên ngoài màu tím, lấy phần xơ lưới màu trắng và vỏ lụa bên trong. Bẹ chuối sau khi tước vỏ bó lại và thái ra sợi nhỏ như thuốc rê.

Đồng bào địa phương khi đi rừng khát nước thường chặt cây chuối rừng, lấy thân tước bỏ lớp vỏ, dùng lõi ăn sống hoặc ép lấy nước uống cho mát. Người đi rừng thành thạo luôn tìm tới đóng trại ở những thung lũng có cây chuối rừng, đó là nơi có nguồn nước tinh khiết và nhiều nhất trong mùa hè.

Củ chuối hột

Trị cảm nóng, sốt cao, háo khát, mê sảng: củ chuối hột đem cạo bỏ vỏ ngoài, rửa sạch, cắt miếng, giã nát, ép lấy nước uống.

Trị ho ra máu: củ chuối hột phối hợp với tầm gửi cây dâu, rễ cỏ tranh, thài lài tía, mỗi thứ 12g, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.

Trị kiết lỵ ra máu: củ chuối hột phối hợp với củ sả, tầm gửi cây táo hoặc vỏ cây táo, mỗi thứ 4g, sao vàng, sắc uống.

Trị tim hồi hộp, hay mơ, đêm về trằn trọc khó ngủ: củ chuối hột 20g, nấu chung với 1 quả tim heo (200 - 300g), uống nước, ăn tim.

Hỗ trợ ổn định đường huyết: đào lấy củ cây chuối hột, rửa sạch, giã nát ép lấy nước uống, dùng thường xuyên và lâu dài có tác dụng ổn định đường huyết (dành cho người bệnh đái tháo đường týp 2).

Đồng bào Thái ở Tây Bắc lại dùng củ chuối hột sắc uống với củ chuối rừng và rễ cây móc, mỗi thứ 10 - 12g để làm thuốc an thai.

Nước hãm củ chuối hột uống mát, tiêu khát, giải độc, kích thích tiêu hóa.

Thân và củ chuối đem um với cá lóc, lươn đồng là món ăn - bài thuốc có tác dụng bồi bổ khá tốt. Lươn hoặc cá lóc cung cấp protein và các chất bổ, củ chuối kích thích tiêu hóa, giúp tăng cảm giác muốn ăn, dễ hấp thu.

Rượu chuối hột rừng

Một trong những “sản phẩm” được ưa chuộng của chuối hột rừng lại chính là rượu chuối hột rừng đang được các nhà sản xuất quan tâm chế biến và quảng bá rộng rãi.

Rượu chuối hột: 1kg chuối hột rừng ngâm khoảng 2 - 2,5 lít rượu ngon 40 - 45 độ, rượu có vị ngọt thơm, màu vàng nhạt. Dùng chữa bệnh thận, sỏi thận, đái tháo đường, đau lưng, nhức mỏi xương khớp, tráng dương, tăng cường sức khỏe phái mạnh, giải nhiệt, bệnh dạ dày, kích thích tiêu hóa, bổ thận, lợi tiểu, trị kém ăn, kém ngủ, bồi bổ cơ thể…

Tuy nhiên, để cho rượu chuối ngon và hấp dẫn, cần chế biến mới đạt yêu cầu.

Cách ngâm rượu chuối hột ngon:

Chuối phải thật chín, thái mỏng, phơi nắng (nhớ là phải giữ không cho ruồi nhặng bu vào và bụi bay vào), phơi càng khô càng tốt.

Rượu ngâm phải là rượu trắng, không pha tạp (thường gọi làrượu cốt,rượu nguyên chất, nồng độ phải > 40 độ).

Đồ ngâm rượu phải là thủy tinh, rửa sạch. Bỏ chuối vào, chuối chiếm 1/3 lọ, đổ rượu đầy 2/3 lọ, để lại 1/3 chân không cho chuối nở. Đậy kỹ nắp, 100 (3 tháng 10 ngày) ngày sau là uống được , để càng lâu càng tốt.

Rượu chuối hột được xếp vào loại rượu thuốc, không nên ngâm uống để nhậu xỉn.

Rượu chuối hột để hỗ trợ điều trị bệnh sạn thận, bổ thận: liều lượng mỗi bữa ăn 1/2 tách uống trà (10 - 20ml).

Các vị thuốc gia giảm phải theo từng người: cao, hạ huyết áp, nhiệt, hàn, cần bổ khí, cần bổ huyết… không nên tùy tiện dùng sẽ phản tác dụng.

Món ăn thuốc từ cua đồngCua đồng là món ăn quen thuộc trong những ngày hè, cũng là vị thuốc quý phòng trị bệnh rất hiệu ...
30/11/2019

Món ăn thuốc từ cua đồng

Cua đồng là món ăn quen thuộc trong những ngày hè, cũng là vị thuốc quý phòng trị bệnh rất hiệu quả.

Cua đồng là món ăn quen thuộc trong những ngày hè, cũng là vị thuốc quý phòng trị bệnh rất hiệu quả. Đông y cho rằng cua vị mặn, tính mát, tác dụng bổ xương tủy, thông huyết ứ, khử nhiệt tà, bớt buồn phiền, trừ mụn nhọt, ghẻ lở...

Thành phần dinh dưỡng: trong 100g thịt cua đồng chứa 12,3% protit; 3,3% lipit; 5.040mg% Ca; 430mg% P; 4,7mg% Fe; 0,01mg% vitamin B1; 0,51mg% vitamin B2; 2,1mg% vitamin PP; 0,12mg% vitamin B6; 125mg% cholesterol; 0,25mg% melatonin... Dưới đây là một số món ăn bài thuốc từ cua đồng:

Chữa trẻ em còi, gân xương yếu: thịt cua đồng 100g, bột bắp tươi 100g, lòng trắng trứng gà 1 quả, thịt gà, nước luộc gà, gia vị hành, mắm muối vừa đủ nấu súp ngô cua ăn tuần vài lần. Cua tác dụng bổ xương tủy. Bắp bổ tỳ vị, lợi ngũ tạng. Món này rất tốt cho trẻ em còi, chậm lớn, người già xương yếu, nhức mỏi, người suy nhược mới ốm dậy ăn kém...

Chữa hoa mắt chóng mặt: thịt cua đồng 100g, đậu phụ 50g, cà chua 2 quả, hành hoa, mùi tàu, có thể thêm thịt băm, gia vị vừa đủ nấu canh riêu cua ăn tuần vài lần. Cua tác dụng bổ xương tủy, thông huyết. Đậu phụ giúp tư âm, bổ huyết, thanh hỏa. Cà chua giúp dưỡng âm, mát huyết, thanh nhiệt. Các vị hợp thành món canh ăn ngon bổ mát chữa đau đầu hoa mắt chóng mặt do âm huyết hỏa vượng, người gầy khó lên cân.

Chữa ho tức ngực nhiều mồ hôi: thịt cua đồng 100g, hoa bí 150g, gia vị vừa đủ nấu canh ăn tuần vài lần. Cua tác dụng bổ mát thông huyết ứ, khử nhiệt tà. Hoa bí giúp thanh nhiệt, mát phế, kiện tỳ, tiêu đàm, liễm mồ hôi. Món canh cua bông bí bổ mát trị chứng nội nhiệt nhiều mồ hôi, ho khan tức ngực. Món này còn giúp giảm được chứng tăng huyết áp, đái tháo đường, tim mạch.

Chữa chứng phiền nhiệt khó ngủ: thịt cua đồng 100g, hoa lý 150g, gia vị vừa đủ nấu canh ăn thường xuyên. Cua tác dụng bổ thông huyết ứ, trừ phiền nhiệt. Hoa lý giúp dưỡng tâm, an thần dễ ngủ, tiêu viêm, nhẹ người. Món canh vừa thơm ngon mát trị phiền nhiệt khó ngủ và trẻ em chậm lớn, người lớn ăn ngủ kém.

Chữa chứng nóng nhiệt mùa hè: thịt cua đồng, rau đay, mướp hương, gia vị vừa đủ nấu canh ăn thường xuyên. Rau đay bổ mát nhuận tràng, lợi tiểu, trợ tim. Mướp thanh nhiệt, tiêu viêm, sinh tân dịch. Đây là món canh bổ mát dùng rất tốt phòng trị bệnh mùa hè.

Chữa đau nhức sang thương huyết ứ: thịt cua đồng 100g, rau rút 100g, rau đắng 100g, gia vị vừa đủ nấu canh ăn thường xuyên. Cua có tác dụng bổ xương tủy, thông huyết, mau liền xương. Rau rút lợi gân cốt, mát gan, giải nhiệt, an thần. Rau đắng bổ mát tâm huyết, lợi cơ khớp...

Tôm càng - Món ăn ngon, vị thuốc quýTôm càng còn gọi là tôm đồng, tôm nước ngọt, tên khoa học là Macrobrachium nipponens...
28/11/2019

Tôm càng - Món ăn ngon, vị thuốc quý

Tôm càng còn gọi là tôm đồng, tôm nước ngọt, tên khoa học là Macrobrachium nipponense De Haan. Tôm càng được các bà nội trợ rất ưa chuộng bởi có giá trị dinh dưỡng cao, thịt tôm chắc, dai, ngọt.

Tôm càng còn gọi là tôm đồng, tôm nước ngọt, tên khoa học là Macrobrachium nipponense De Haan. Tôm càng được các bà nội trợ rất ưa chuộng bởi có giá trị dinh dưỡng cao, thịt tôm chắc, dai, ngọt. Tôm càng được chế biến thành nhiều món ăn rất phong phú và đa dạng như: tôm nướng, tôm rang me, lẩu tôm, tôm tẩm bột rán, chạo tôm… Tôm đồng còn là vị thuốc quý trong Đông y.

Tôm đồng được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là hà ngư hay hà mễ. Chủ yếu dùng tươi, có thể phơi khô, tán bột làm thuốc. Thịt tôm đồng tươi chứa protid, lipid, Ca, P, Fe, vitamin B1, B2, PP, cholesterol, melatonin và acid béo omega - 3. Vỏ tôm có các polysaccharide. Tôm đồng vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng bổ dương khí, lợi sữa, giải độc, chống nôn.

Tôm đồng tươi được dùng phổ biến dưới dạng món ăn - vị thuốc rất phong phú như sau:

Bồi dưỡng cho trẻ cứng cáp, chóng biết đi, chống suy dinh dưỡng:

Tôm đồng tươi bỏ đầu, rửa sạch, rang nhỏ lửa cho khô giòn, giã nhỏ, rây bột mịn. Dùng bột tôm quấy với bột gạo cho trẻ ăn hằng ngày, mỗi lần 1 - 2 thìa cà phê. Có thể giã hay xay nhuyễn thịt tôm tươi nấu cháo cho trẻ ăn.

Chữa chứng cận thị, trẻ em đái dầm: rang tôm với dầu vừng ăn hằng ngày.

Làm thuốc bổ: tôm đồng 12 con bóc vỏ, băm nhỏ, cùi dừa 15g nạo sợi, lòng đỏ trứng 3 quả. Tất cả trộn đều, đổ dầu lạc vào chảo rán mỏng thành bánh, ăn trong ngày.

Phụ nữ sau đẻ thiếu sữa:

- Tôm đồng tươi (nửa bát) bóc bỏ vỏ, giã nát, tẩm rượu nếp và muối, hấp chín, ăn trong ngày.

- Tôm đồng tươi (100g) xào với 20ml rượu trắng ăn hằng ngày hoặc rang tôm rồi đảo với rượu ăn trong ngày.

Chữa báng bụng: tôm tươi nấu canh ăn hằng ngày dần dần sẽ khỏi đau.

Kích thích sinh dục, chữa liệt dương, mộng tinh:

- Tôm đồng 20g, ngài tằm đực 7 con (sao giòn), giã nát rồi trộn với trứng gà 2 quả rán hoặc hấp chín ăn.

- Tôm đồng tươi 100g xào với lá hẹ 25g hoặc quả ớt ngọt 50g thêm chút rượu 40 độ.

- Trứng tôm 20g nấu canh với trứng chim sẻ (2 - 3 quả), ăn trong ngày.

Giảm đau lưng: tôm đồng tươi 100g (lột vỏ, rút chỉ lưng) ngâm vào rượu nếp trong 10 - 15 phút, vớt ra, xào chín ăn hằng ngày.

Ngoài ra, từ các polysaccharid trong vỏ tôm đồng chiết được chất chitosan để pha chế thuốc chữa bỏng, có khả năng kích thích các tế bào biểu mô làm cho vết thương mau lành. Chitosan còn có tác dụng tạo nên tác động kích thích miễn dịch và chống khối u, cải thiện tiến trình thay đổi tế bào và gia tăng các tế bào của vỏ xương.

Cá diếc - Món ngon, thuốc quýCá diếc là loại cá nước ngọt phổ biến ở Việt Nam, giàu dinh dưỡng, được mọi người ưa thích....
26/11/2019

Cá diếc - Món ngon, thuốc quý

Cá diếc là loại cá nước ngọt phổ biến ở Việt Nam, giàu dinh dưỡng, được mọi người ưa thích. Theo Đông y, cá diếc vị ngọt, tính bình, tác dụng kiện tỳ..

Cá diếc là loại cá nước ngọt phổ biến ở Việt Nam, giàu dinh dưỡng, được mọi người ưa thích. Theo Đông y, cá diếc vị ngọt, tính bình, tác dụng kiện tỳ, bổ vị điều khí, trừ thấp, giúp ăn ngon miệng, phòng chống lạnh bụng, ăn uống không tiêu, tiêu chảy, lợi tiểu, tiêu thũng, cầm máu (ho ra máu, nôn ra máu, đại tiểu tiện ra máu…). Sau đây là một số món ăn thuốc từ cá diếc.

Kiện tỳ hoá đàm, chỉ khái (tiêu đờm, khỏi ho):

Cá diếc hầm cà rốt: cà rốt 500g, cá diếc 250g (1 con), gia vị. Hầm chín, ăn lúc đói. Dùng cho cả trường hợp ho ra máu, ho lao.

Hoặc: cá diếc bé kho nhừ với củ cải (ăn được cả xương) cũng là món ăn bồi bổ canxi, chữa ho.

Kiện tỳ thẩm thấp lợi tiểu khỏi phù thũng:

Cá diếc hầm đậu: cá diếc 1 con 250 - 300g, thương lục thái nhỏ 10g, xích tiểu đậu (đậu đỏ nhỏ hạt) 30g. Cho thương lục và đậu vào bụng cá hầm chín. Ăn cái, uống nước vào lúc đói, ăn 2 ngày một lần. Ăn 3 lần. Lưu ý: phụ nữ có thai không nên dùng vì thương lục xổ nước mạnh. Muốn chữa phù nhẹ và được an toàn hơn thì bỏ vị thương lục thay vào 9g đường kính. Có thể dùng trong trường hợp phù do viêm thận mạn, phù dinh dưỡng.

Ích khí tiêu phù (viêm thận cấp và mạn): cá diếc 1 con 250 - 300g làm sạch, cùi bí đao 60g, ý dĩ 30g, nấu chung với lượng nước vừa đủ cho đến khi ý dĩ chín nhừ. Hoặc cá diếc nấu với 100 - 200g vỏ bí đao.

Đại tiện ra máu: cá diếc 1 - 2 con nấu canh lá hẹ.

Chữa sởi (thời kỳ xuất hiện nốt sởi): cá diếc 1 con làm sạch, đậu phụ 250g. Nấu thành canh cho trẻ ăn ngày 1 lần. Ăn liền 2-3 ngày. Để tránh gây hóc xương thì phải nấu cá trước, lọc lấy thịt rồi cho đậu vào nấu.

Lỵ amíp: cá diếc 500g, hành 2 củ, hầm chín cả 2 để ăn.

Quai bị: nấu canh cá diếc với rau câu kỷ (cả cành) ăn.

Trẻ biếng ăn, gầy còm, hay đi lỏng, sức yếu: cá diếc 1 con 250g, gừng tươi 30g, trần bì (vỏ quýt khô) 10g, hồ tiêu 1g. Gói 3 thứ sau cho vào bụng cá (đã làm sạch). Nấu chín, ăn cá, uống nước. Chia 2 lần ăn trong ngày. Ăn liền vài ngày.

Chữa ít ngủ, ngủ không ngon giấc: cá diếc 300g, lá vông nem bánh tẻ 50g, hoa thiên lý 50g, gia vị. Xương cá giã nhỏ lọc lấy nước khoảng 400ml, đun sôi rồi cho lá vông và hoa thiên lý cùng với phần cá nạc. Nấu sôi lại là được. Ăn nóng lúc đói vào buổi chiều. Ngày 1 lần trong một tuần lễ.

Chữa ho: cá diếc 2 con (300g), lá xương sông 100g, gừng tươi 2 lát mỏng, gia vị. Làm như cách chữa mất ngủ trên.

Dưỡng phế, giảm ho, cầm máu: cá diếc 1 con 250g, trái hồng khô 2 trái, bách hợp 30g, mỗi thứ đều được làm sạch cho vào nồi, thêm nước nấu chung ninh kỹ với gia vị. Dùng tốt cho người bị các bệnh phế quản, phổi mạn tính, thở dốc, đờm lẫn máu, miệng họng khô, hay đổ mồ hôi.

Chữa tăng huyết áp: cá diếc 1 con (250g) cho vào chậu nước muối nhả hết nhớt dãi. Không mổ, để nguyên con đem luộc gỡ lấy thịt nấu canh với lá dâu.

Chữa đái tháo đường: cá diếc 1 con để vảy không đánh, bỏ ruột lấy trà cho vào đầy bụng, bọc giấy, nướng hay lùi cho chín rồi gỡ ăn.

10 bài thuốc trị viêm đường tiết niệuViêm đường niệu thuộc phạm vi chứng lâm trong Đông y. Nguyên nhân và cơ chế bệnh si...
25/11/2019

10 bài thuốc trị viêm đường tiết niệu

Viêm đường niệu thuộc phạm vi chứng lâm trong Đông y. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh rất phức tạp, chủ yếu do thận hư và bàng quang thấp nhiệt, gặp phải các tác nhân làm suy giảm chính khí quá mức như phòng lao quá độ, tình dục không điều hòa, giận dữ, ăn uống thái quá, thiếu khoa học...

Viêm đường niệu thuộc phạm vi chứng lâm trong Đông y. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh rất phức tạp, chủ yếu do thận hư và bàng quang thấp nhiệt, gặp phải các tác nhân làm suy giảm chính khí quá mức như phòng lao quá độ, tình dục không điều hòa, giận dữ, ăn uống thái quá, thiếu khoa học... làm cho bàng quang không khí hóa được, bên trong vừa hư, vừa bị tích tụ sinh ra nội thấp kiêm hiệp nhiệt. Thấp nhiệt tích tụ lâu ngày kết lại ở hạ tiêu làm nước tiểu sẫm, đỏ, tiểu tiện khó khăn, đau buốt. Xin giới thiệu một số bài thuốc nam thông dụng.

Bài 1: Tiểu tiện khó khăn, nhỏ giọt, đái buốt, đái dắt do nhiệt gây ra dùng biển súc 16g độc vị uống hàng ngày hoặc biển súc 16g, hải kim sa (bòng b**g) 10g, bông mã đề 10g, cam thảo 6g, sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Chữa viêm bàng quang dùng long đởm thảo 10g, hoàng cầm 10g, chi tử 10g, trạch tả 10g, mộc thông 10g, xa tiền tử 10g, đương quy 10g, sài hồ bắc 10g, sinh địa 12g, cam thảo 4g. Trường hợp thủy thũng đi tiểu khó dùng mã xỉ hiện (rau sam tươi) 50g, biển súc 30g, hoàng bá 10g, sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Nếu viêm bàng quang, viêm niệu đạo, đái buốt, tiểu nóng dùng biển súc 16g, mã đề 10g, hoạt thạch 8g, mộc thông 6g. Hoặc chi tử 12g, bạch mao căn 12g, cam thảo 4 g, Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 4: Trường hợp đái ra dưỡng chấp dùng biển súc tươi 60g, thêm hai quả trứng gà, sinh khương 8g, sắc uống mỗi ngày 1 thang liên tục 20 ngày. Hoặc dùng du long thái (dừa nước) 100-200g khô, thêm chút cam thảo sắc uống thay nước hàng ngày.

Bài 5: Nếu nhiễm khuẩn đường niệu, viêm bàng quang kèm theo bí đái do thấp nhiệt dùng diếp cá tươi 60g (nếu khô 20g), hạt mã đề 15g, kim tiền thảo 30g, sắc uống hoặc dùng cây trầu nước (hàm ếch) cả cây, sắc uống.

Bài 6: Chữa các bệnh tiết niệu do nhiệt gây ra dùng cụm hoa mào gà 15g, biển súc 15g, thài lài 30g hoặc thấp nhiệt đi tiểu khó khăn, nhỏ giọt, nước tiểu đục, phải thông lâm hóa trọc dùng tỳ giải 10g, ích trí nhân 10g, thạch xương bồ 10g, cam thảo 6g, ô dược 6g, sắc uống ngày 1 thang.

Bài 7: Nếu viêm đường tiết niệu đái buốt, đái dắt dùng hải kim sa 30g, hoạt thạch 30g, ngọn cành cam thảo 10g, tán thành bột mịn, ngày uống 6g với nước sắc 10g mạch môn.

Trường hợp tiểu tiện khó dùng rễ cối xay 30g, rễ cây ngái 30g, rễ cỏ xước 20g, bông mã đề 20g, thổ phục linh 50g, sắc uống ngày 1 thang.

Bài 8: Chữa đái buốt, đái đục dùng vỏ rễ cây duối, rễ cây nhót rừng mỗi thứ 20g, sao vàng, sắc uống ngày 1 thang. Nếu kèm theo đái dắt nước tiểu vàng đỏ, có cặn, sỏi dùng bạch mao căn 30g, râu ngô 30g, bông mã đề 30g, cỏ nhọ nồi 20g, sắc uống ngày 1 thang.

Bài 9: Trường hợp viêm tiết niệu đái ra máu dùng bạch mao căn 30g, rễ cây đại kế 15g hoặc có thể dùng cỏ nhọ nồi 30g, bông mã đề 30g. Nếu kèm theo có sỏi đường tiết niệu dùng cỏ nhọ nồi 20g, sinh địa 20g, lá tre 20g, mộc thông 16g, cam thảo đất 16g, sắc uống ngày 1 thang.

Bài 10: Nếu đái ra máu, đau buốt, nhỏ giọt do thấp nhiệt dùng địa phu tử (cây chổi xuể) 10g, đông quỳ tử 10g, phục linh 10g, tri mẫu 10g, cỏ lá tre 10g, thông thảo 6g, hoàng bá 6g, cam thảo 6g, sắc uống ngày 1 thang.

Lý do để bạn nên ăn đu đủ mỗi ngàyĐang vào mùa, quả đu đủ được bán với giá rất rẻ, chỉ vài ngàn đồng hoặc hơn chục ngàn/...
23/11/2019

Lý do để bạn nên ăn đu đủ mỗi ngày

Đang vào mùa, quả đu đủ được bán với giá rất rẻ, chỉ vài ngàn đồng hoặc hơn chục ngàn/quả. Quả đu đủ ngọt mát, dễ ăn và có rất nhiều tác dụng chữa bệnh.

Theo Đông y, đu đủ có tên mộc qua, tính hàn, vị ngọt mùi hơi hắc. Tác dụng thanh nhiệt, bổ tỳ, làm mát gan, nhuận tràng, giải độc, tiêu thũng. Quả đu đủ xanh được sử dụng để nghiền nát với nước dùng bôi mặt hoặc tay, chữa các vết tàn hương ở mặt, tay, còn dùng chữa chai chân và bệnh eczema...

Thành phần trong quả đu đủ

Đu đủ chín chứa khoảng 90% nước, 13% đường, không có tinh bột, có nhiều carotenoit acid hữu cơ, vitamin: A, B, C, 0,9% chất béo, xenluloz (0,5%), canxi, photpho, magiê, sắt, thiamin, riboflavin.

Một kết quả nghiên cứu khác cho thấy, trong 100g đu đủ có 74 - 80mg vitamin C (vitamin chủ yếu trong đu đủ), caroten (tiền vitamine A) 500 - 1.250UI. Ngoài ra, còn có các vitamin B1, B2, các acid gây men, các khoáng chất như: kali (179mg), canxi, magiê, sắt và kẽm.

Còn đu đủ xanh, ngoài các chất có trên còn có chứa 4% chất nhựa latex màu trắng đục là hỗn hợp của nhiều proteaza (loại men tiêu hóa chất đạm), trong đó chất chủ yếu là papain. Một cây đu đủ trong một năm cho khoảng 100g nhựa (lấy quả khi còn non trên cây). Ngoài ra còn có chymopapain và papaya protenaza.

Lá đu đủ chứa ancaloit carpain, có tác dụng giống glucozit của dương địa hoàng - Digitalis, họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae), làm chậm nhịp tim, diệt amíp. Hạt đu đủ có glucozit caricin và myrosin.

Men papain có tác dụng như men papein của dạ dày, giống men trypsin của tuyến tuỵ trong tiêu hóa các chất thịt. Đặc biệt nó còn có thể ức chế sự phát triển của vi khuẩn. Staphjllococ và vi trùng thương hàn rất nhạy cảm đối với tác dụng của papain.

Papain còn có tác dụng làm đông sữa và tác dụng làm giảm độc đối với toxin và toxanpunin.

Một số bài thuốc, cách trị liệu dùng đu đủ

Phép dưỡng sinh theo mùa: vào dịp xuân hè, ăn đu đủ có tác dụng thanh tâm, nhuận phế, giải nhiệt, giải độc. Vào thu đông, ăn đu đủ có tác dụng nhuận táo, ôn bổ tỳ vị, dưỡng can, nhuận phế, chỉ khái, hóa đàm. Đu đủ chín có quanh năm và mùa nào dùng cũng tốt cho sức khỏe.

Phép dưỡng sinh chống lão suy: đu đủ có tác dụng tốt cho những người chóng già, da mai mái, thể trạng không sung mãn, có các bệnh mạn tính. Cách dùng: đu đủ chín 200g, chuối xiêm 300g, 2 thứ trên xay trong nước dừa non uống hàng ngày. Nếu có mật ong, sữa ong chúa cho vào càng tốt. Nên dùng nóng, tránh dùng lạnh và không cho đá vì bản thân đu đủ có tính hàn.

Ít ngủ, hay hồi hộp: đu đủ chín 100g, chuối 100g, củ cà rốt 100g. Xay trong nước dừa non nạo. Thêm mật ong cho đủ ngọt, uống cách ngày.

Trị giun kim: ăn đu đủ chín vào buổi sáng lúc đói liên tục 3 - 5 hôm.

Viêm dạ dày mãn tính: đu đủ 30g, táo tây 30g, mía 30g sắc uống.

Ho do phế hư: đu đủ xanh 100g, đường phèn 20g hầm ăn, ngày ăn 2 lần vào trưa và tối, ăn trong 3 - 5 ngày.

Tỳ vị hư nhược (ăn không tiêu, táo bón): đu đủ 30g, khoai mài (hoài sơn) 15g, sơn tra 6g, nấu cháo.

Trị đau lưng mỏi gối: đu đủ 30g, ngưu tất 15g, kỷ tử 10g, cam thảo 3g sắc uống.

Chữa bệnh ho, viêm cuống phổi, khàn tiếng hoặc mất tiếng ở trẻ em: hái 5 - 10 hoa đực, đem sao vàng, cho đường phèn hấp hoặc chưng khi nồi cơm cạn nước, cho trẻ uống trong ngày.

Nhuận da, dưỡng nhan sắc, chống lão hóa: đu đủ chín 1 quả 0,5kg, sữa tươi 4 ly, hạt sen 20g (bỏ tim) ngâm mềm cho nở, nếu loại tươi phải bóc vỏ, táo tàu đỏ 2 quả bỏ hột, đường phèn vừa đủ. Cho tất cả vào bát to chưng cách thủy độ 2 giờ cho đến khi hạt sen mềm là được. Ăn nóng.

Dùng làm mỹ phẩm (dùng ngoài): ở nước ngoài, người ta dùng đu đủ chín bỏ vỏ, hạt, nghiền mịn làm mặt nạ lột da mặt, giúp khỏi mụn trứng cá (Paul Neinast - Dallas).

Đu đủ xanh nghiền nát với nước dùng bôi mặt hoặc tay để chữa các vết tàn hương ở mặt, tay, còn dùng chữa chai chân và bệnh eczema…

Chữa đau đầu: lấy lá đu đủ tươi giã nát, gói vào miếng gạc, đắp thái dương.

Các công dụng khác của đu đủ:

- Đu đủ xanh hầm với mọi loại thịt động vật đều làm cho thịt mềm. Ở nước ta, bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ thường ăn chân giò hầm với đu đủ xanh để có nhiều sữa.

- Chữa g*i cột sống: hạt đu đủ đem xát cho sạch phần nhớt bao quanh, giã nát trong túi vải rồi đắp lên vùng đau. Mỗi lần chỉ đắp tối đa 30 phút và theo dõi để tránh bị bỏng. Ngày làm một lần, liên tục trong 20 - 30 ngày.

Đu đủ cung cấp tương đối nhiều năng lượng. 100g đu đủ chín cung cấp 44 - 55kcal (đường 12,8%). Do đó, người có đường huyết cao được khuyên không nên dùng nhiều. Nếu ăn hàng ngày 100g đu đủ chín trong nhiều tháng thì phần da lòng bàn tay, bàn chân sẽ bị vàng do một vài loại trong số 19 carotenoid trong đu đủ đào thải chậm. Nếu ngưng ăn đu đủ vài tháng thì hiện tượng vàng da sẽ tự hết.

Address

Số 8 Ngõ 62 Phường Bồ đề Quận Long Biên Hanoi
Hanoi
100000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Dứt Điểm SỎl Tại Nhà posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram