Phòng khám chuyên khoa Da liễu Bác sĩ Đặng Thu Hương

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • Phòng khám chuyên khoa Da liễu Bác sĩ Đặng Thu Hương

Phòng khám chuyên khoa Da liễu Bác sĩ Đặng Thu Hương Phòng khám do bà Đặng Thu Hương, bác sĩ chuyên khoa 2, Phó trưởng Khoa khám bệnh, Bệnh viện Da liễu Trung ương, thành lập năm 2017

02/10/2019

Viêm da tiếp xúc thực vật ánh sáng (Phytophotodermatitis)
Một số người sau khi đi nghỉ mát đặc biệt ơt vùng biển miền nam hay gặp mắc mảng đen ở mu tay , không đau , không ngứa. Tôi nghĩ đây là bệnh liên quan bài viết này
1. Viêm da tiếp xúc thực vật ánh sáng là gì
- Khi cơ thể tiếp xúc hoặc uống chất nhạy cảm ánh sáng có chứa chất furocoumarin trong đó psoralen và angelicin là hay gặp nhất. Sau khi tiếp xúc với chất này làm da dễ nhạy cảm với ánh sáng hơn → khi phơi nắng sẽ dễ gây lên đỏ da hoặc bọng nước → tăng sắc tố.
- Khi đi biển, nhất là tắm biển, bạn tiếp xúc nhiều hơn với ánh sáng mặt trời, khi đó chỉ cần tiếp xúc với những chất nhạy cảm ánh sáng bạn dễ bị xuất hiện phản ứng trên.
2. Những thực vật nào hay gây ra hiện tượng trên
- Họ cam: cam, chanh, cam bergamot (gây ra tăng sắc tố berloque ở những người sử dụng nước hoa chứa tinh dầu của loại cam này).
- Họ cà rốt: cà rốt, cây cần tây, rau thơm Parsley, cải dại, cây thì là, cây dill (giống thì là nhưng ở Châu Âu).
- Họ dâu tằm: Cây vả tây.
- Họ mao lương hay họ hoàng liên: hoa mao lương.
- Họ cải: hương mù tạc (hay dùng khi ăn hải sản).
3. Biểu hiện
- Khi tiếp xúc với các chất trên, da của bệnh nhân dễ mẫn cảm với ánh sáng. Sau khi tiếp xúc đủ với ánh sáng mặt trời sau 30 phút-120 phút bệnh nhân xuất hiện đỏ da, hoặc mụn nước, bọng nước. Sau đó 1 vài tuần xuất hiện tăng sắc tố sau viêm. 1 bệnh nhân dưới đây thuộc loại trên.
- Với người da màu, trong đó có type da IV của người Việt Nam, thường không xuất hiện đỏ và mụn nước mà xuất hiện luôn tăng sắc tố. Những trường hợp này thường 1-2 tuần sau khi tiếp xúc với ánh sáng mới xuất hiện đốm đen da. 2 trường hợp dưới đây thuộc loại trên.
4. Điều trị
- Đa số tự hết sau 1 vài tháng.
- Với trường hợp dai dẳng hoặc muốn trở về da bình thường nhanh hơn có thể điều trị như tăng sắc tố sau viêm: hydroquinon, corticoid bôi, lột, laser…
5. Dự phòng
- Tránh tiếp xúc với các thực vật ở trên khi đi biển.
- Chống nắng tốt.

30/11/2018

BỆNH LẬU
ĐẠI CƯƠNG
1.1 Lịch sử bệnh:
Bệnh lậu là một bệnh nhiễm khuẩn, do song cầu Gram (-) Neisseria gonorhoeae gây nên. Bệnh thường lây trực tiếp qua quan hệ tình dục không bảo vệ đường âm đạo, hậu môn và sinh dục-miệng.
Biểu hiện bệnh ở nam thường là viêm niệu đạo cấp tính, ở nữ là viêm cổ tử cung có thể có hoặc không biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Các bộ phận khác cũng có thể bị nhiễm bệnh như hậu môn- trực tràng, họng, mắt... Nhiễm khuẩn huyết do lậu cầu cũng có thể xảy ra và thường phối hợp với viêm khớp, tổn thương da. Mặc dù đã có thuốc điều trị đặc hiệu nhưng nếu không được phát hiện kịp thời hoặc điều trị không đúng phác đồ bệnh có thể gây các biến chứng nghiêm trọng như vô sinh, chửa ngoài tử cung...
Bệnh lậu được Galen đặt tên là Gonorrhea do ông nghĩ rằng mủ trong bệnh lậu chính là dòng tinh dịch chảy ra: gonos= seed và rhoea=flow. Sau đó vào năm 1767 John Hunter tự cấy mủ lậu cho mình, nhưng không may chỉ có bệnh giang mai xuất hiện, do vậy đã có sự hiểu lầm về bệnh. Năm 1879, Neisser đã phân lập được lậu cầu khuẩn và được đặt tên là Neisseria gonorhoeae.
Việc điều trị tiến bộ dần từ việc dùng gỗ đàn hương, dung dịch thuốc tím bơm vào rửa niệu đạo, sau đó đến năm 1930 bắt đầu dùng các sulfamides. Những năm 1940 thuốc penixilin được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả. Gần đây có nhiều loại thuốc dùng liều duy nhất có hiệu quả rất cao.
1.2 Dịch tễ:
Hàng năm trên toàn cầu có khoảng 62 triệu trường hợp mới mắc bệnh lậu, khu vực Đông và Đông Nam Á có 29 triệu trường hợp. Việt nam, theo báo cáo hàng năm có hơn 3.000 trường hợp, tuy nhiên theo ước tính thì có khoảng vài chục ngàn trường hợp mỗi năm. Bệnh lậu tăng lên do nhiều yếu tố, trong đó có tự do tình dục và tăng hoạt động tình dục do có các biện pháp tránh thai. Bệnh lậu chủ yếu lây qua quan hệ tình dục. Trẻ sơ sinh có thể bị viêm kết mạc mắt do đẻ qua đường sinh dục người mẹ bị bệnh. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng phổ biến nhất ở lứa tuổi 15-35. Bệnh gặp nhiều hơn ở đô thị, một số nhóm dân cư đặc biệt đóng vai trò quan trọng trong dịch tễ học bệnh lậu (“core group”) như gái mại dâm, khách làng chơi, người nghiện ma tuý. Những người bệnh không triệu chứng đóng vai trò quan trọng trong dịch tễ học bệnh lậu. Một sự kiện quan trọng đã ảnh hưởng đến dịch tễ học bệnh lậu, đó là xuất hiện các chủng lậu cầu kháng kháng sinh Penixilin vào những năm 1970 (Penicillinase- producing strains of NG- PPNG). Hiện nay ở Việt nam đã xuất hiện các chủng kháng lại các kháng sinh mới thuộc họ Quinolone.
Tỷ lệ nam giới bị mắc bệnh lậu sau một lần quan hệ tình dục qua âm đạo với phụ nữ bị bệnh là 20-30%. Trái lại, tỷ lệ phụ nữ bị bệnh sau một lần quan hệ tình dục với nam bị bệnh là 60-80%. Nguy cơ lây truyền qua các đường tình dục khác không được rõ. Phụ nữ dùng thuốc tránh thai hormon có nguy cơ cao hơn nhiễm bệnh, dùng chất diệt tinh trùng có tác dụng diệt lậu cầu.

DGI: Disseminated Gonococcal Infection- Nhiễm lậu cầu toàn thân


2. CĂN NGUYÊN VÀ BỆNH SINH
Lậu cầu khuẩn là một song cầu Gram (-) (Neisseria gonorhoeae) có hình thái đặc biệt, cầu khuẩn dẹt hình hạt đậu có trục dài song song nhau, không di động, không tạo nha bào, phát triển thành đôi với mặt dẹt quay vào nhau. Các đặc điểm của lậu cầu:
- Hình hạt cà phê, sắp xếp thành từng cặp.
- Bắt màu Gram (-) nằm trong bạch cầu đa nhân.
- Dài khoảng 1,6m, rộng 0,8m, khoảng cách giữa hai vi khuẩn 0,1m.
- Nuôi cấy trên môi trường thạch máu hoặc nước báng phát triển nhanh. Hiện nay thường nuôi cấy trên môi trường Thayer-Martin và làm kháng sinh đồ.
- Sức đề kháng yếu: ra khỏi cơ thể chỉ tồn tại một vài giờ.
Lậu cầu không chịu được khô, do vậy khi lấy bệnh phẩm phải cấy ngay hoặc cho vào môi trường bảo quản. Lậu cầu ưa khí nhưng đòi hỏi áp suất CO2 5% khi nuôi cấy. Nhiệt độ thích hợp từ 35-37oC, pH 7,2-7,6. Môi trường nuôi cấy thích hợp là thạch Sôcôla hoặc loại tương tự, môi trường hiện nay đang sử dụng là Thayer-Martin. Kellogg và cộng sự đã phân lập được 4 chủng lậu cầu, trong đó có hai chủng gây bệnh cho người. Các chủng này có cấu tạo bề mặt dạng lông được gọi là pili. Bản chất của pili như là các yếu tố độc tính của lậu cầu nhưng chưa được biết rõ, pili có thể là cách mà lậu cầu bám vào bề mặt niêm mạc hoặc chống lại đại thực bào. Chúng cũng có thể gồm cả việc tạo ra vỏ trong in vitro, chống lại các kháng thể trong huyết thanh. Lậu cầu so với các vi khuẩn Gram âm khác thì chúng rất nhạy cảm với kháng sinh, tuy nhiên trong nhiều thập kỷ qua, lậu cầu đã trở nên kháng một số kháng sinh như sulfamides, penixillin, tetraxyclin, nhóm quinolon... Bệnh có thể phối hợp với một số tác nhân gây viêm niệu đạo khác, trong đó thường thấy nhất là Chlamydia trachomatis; các tác nhân khác như nấm, trùng roi, Ureaplasma, Mycoplasma.
3. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
Các dấu hiệu, triệu chứng, tiến triển và biến chứng của bệnh lậu ở nam và nữ rất khác nhau. Thông thường bệnh lậu ở nam có triệu chứng và nữ có triệu chứng nhưng không rõ hoặc không có triệu chứng. Biểu hiện bệnh bao gồm cả không triệu chứng, triệu chứng tại chỗ, các biến chứng tại chỗ và nhiễm trùng toàn thân.
3.1 Bệnh lậu ở nam
Viêm niệu đạo trước là biểu hiện thường gặp nhất của bệnh lậu ở nam. Sau một lần quan hệ tình dục với người bệnh qua đường âm đạo có khoảng 25% nam bị mắc bệnh. Có khoảng 85% nam bị viêm niệu đạo do lậu sẽ biểu hiện cấp tính với các triệu chứng khó chịu, đái buốt và ra mủ, thường kèm theo phù nề và đỏ miệng sáo. Ra mủ niệu đạo là một triệu chứng đặc hiệu của bệnh lậu, mủ màu vàng, vàng xanh, số lượng nhiều làm cho người bệnh rất lo lắng. Thời gian ủ bệnh từ 1-14 ngày, trung bình 2-5 ngày. Khoảng 25% bệnh nhân có triệu chứng không rõ, biểu hiện ra dịch niệu đạo nhưng không nhiều và màu trong, không phân biệt được với viêm niệu đạo không do lậu, một số trường hợp không có triệu chứng. Các bệnh nhân này sẽ không được điều trị và sẽ làm tăng lây truyền trong cộng đồng. Các bệnh nhân có triệu chứng nếu không điều trị thì sau vài ngày đến vài tuần sẽ giảm triệu chứng cấp tính và có thể xảy ra biến chứng tại chỗ như viêm niệu đạo sau gây đái són đau, viêm mào tinh hoàn, viêm túi tinh và tuyến tiền liệt cấp hoặc mạn, viêm tuyến Cowper, tuyến Tyson. Nhiều trường hợp bệnh nhân không có triệu chứng bệnh lý rõ ràng. Tuy nhiên, dù có hay không có triệu chứng mà không được điều trị thì đều có thể xảy ra biến chứng.

Bệnh lậu nam giới (ảnh sưu tầm từ Internet)
3.2 Bệnh lậu ở nữ
- Tỷ lệ nữ bị mắc bệnh lậu sau một lần quan hệ tình dục với đàn ông bị bệnh vào khoảng 60-80%.
- Viêm ống cổ tử cung là biểu hiện đầu tiên của bệnh lậu nữ. Niệu đạo cũng bị nhiễm lậu cầu (70-90%). Các tuyến Skène và Bartholin cũng thường bị nhiễm trùng. Thời gian ủ bệnh của bệnh lậu ở nữ là không rõ ràng nhưng thông thường trong khoảng 10 ngày. Các triệu chứng thường thấy là ra khí hư nhiều, tiểu khó, ra máu giữa kỳ kinh, rong kinh... Bệnh nhân có thể có đơn độc một triệu chứng hoặc có nhiều triệu chứng. Biểu hiện các triệu chứng có thể rất nhẹ hoặc rầm rộ. Khi khám có thể không thấy biểu hiện bất thường ở cổ tử cung, nhưng nhiều bệnh nhân cổ tử cung ra mủ hoặc mủ nhày, đỏ và phù nề vùng ngoài cổ tử cung và khi chạm vào rất dễ chảy máu. Khi khám có thể thấy mủ ở niệu đạo, các tuyến quanh niệu đạo, tuyến Bartholin.
- Bệnh lậu ở phụ nữ có thai không khác bệnh lậu ở phụ nữ không có thai. Tuy nhiên, có thể nhận thấy phụ nữ có thai ít bị viêm tiểu khung hơn và hay gặp lậu hầu họng hơn. Các biến chứng thường xảy ra ở phụ nữ có thai là sảy thai tự nhiên, vỡ ối sớm, đẻ non, viêm cấp màng ối rau, viêm kết mạc mắt trẻ sơ sinh, viêm hầu họng...
- Viêm âm hộ do lậu ở trẻ em gái: có thể gặp ở bé gái bị hiếp dâm, do dùng chung khăn, chậu bị nhiễm lậu khi vệ sinh bộ phận sinh dục. Biểu hiện lâm sàng: âm hộ viêm đỏ có mủ vàng xanh kèm theo đái buốt.

Bệnh lậu ở nữ giới (viêm cổ tử cung mủ nhầy), nguồn: Atlas các bệnh lây truyền qua đường tình dục, Bệnh viện Da liễu Trung ương
3.3 Nhiễm trùng hậu môn-trực tràng
Nhiễm trùng hậu môn gặp tỷ lệ 35-50% phụ nữ bị viêm cổ tử cung do lậu và thường gặp ở người tình dục đồng giới nam. Viêm trực tràng ít gặp hơn. Triệu chứng có thể biểu hiện như ngứa hậu môn, chảy dịch mủ nhày ở hậu môn nhưng không đau, đôi khi thấy chảy máu trực tràng, có thể nặng như viêm trực tràng, biểu hiện đau, mót rặn và có thể tiêu chảy, đi ra chất nhày hoặc mủ, táo bón. Khám thấy hậu môn đỏ, có mủ nhày, soi hậu môn có nhày hoặc mủ, đỏ, phù nề, niêm mạc dễ chảy máu.
3.4 Nhiễm trùng hầu họng
Tỷ lệ nhiễm trùng hầu họng trong những bệnh nhân bị lậu tình dục khác giới nam khoảng 3-7%, nữ 10-20% và 10-25% nam tình dục đồng giới. Có tới trên 90% trường hợp không triệu chứng. Biểu hiện viêm hầu họng, viêm amiđan cấp, đôi khi có sốt và sưng hạch vùng cổ.
3.5 Nhiễm trùng các cơ quan khác
- Viêm kết mạc mắt hiếm gặp ở người lớn và do tự lây nhiễm lậu cầu từ sinh dục-hậu môn, do dùng chung khăn chậu với bệnh nhân. Một số trường hợp có thể xảy ra ở nhân viên phòng xét nghiệm do tai biến nghề nghiệp.
- Nhiễm trùng da tiên phát do lậu có thể xảy ra và thường là các vết loét ở sinh dục, tầng sinh môn, đùi và ngón tay.
- Lậu mắt ở trẻ sơ sinh. Bệnh thường xuất hiện sau đẻ 1 - 3 ngày. Có thể bị một hoặc cả hai mắt. Mắt sưng nề không mở được, có rất nhiều mủ từ mắt chảy ra, kết mạc, giác mạc viêm đỏ và có thể loét.
3.6 Các biến chứng của bệnh lậu
3.6.1. Biến chứng tại chỗ ở nam
Biến chứng thường gặp nhất là viêm mào tinh hoàn. Trước khi có kháng sinh trị liệu có hiệu quả, tỷ lệ biến chứng này khoảng 20% số bệnh nhân lậu. Hiện nay, viêm mào tinh hoàn thường do Chlamydia trachomatis hơn là do lậu, hoặc phối hợp hai tác nhân này. Biểu hiện sưng một bên bìu, đau và thường có viêm niệu đạo. Viêm bạch mạch hiếm gặp. Chít hẹp niệu đạo và áp xe quanh niệu đạo ngày nay rất hiếm do viêm-áp xe tuyến Littre. Các biến chứng hiếm gặp là viêm túi tinh, viêm tuyến tiền liệt.
3.6.2 Biến chứng tại chỗ ở nữ
Biến chứng thường gặp nhất là viêm cấp vòi trứng hay viêm tiểu khung chiếm khoảng 10-20% trường hợp lậu cấp. Viêm vòi trứng là biến chứng hay gặp nhất của bệnh lậu và là vấn đề quan trọng nhất về mặt y tế cộng đồng vì đây có thể là bệnh lý cấp tính, đồng thời để lại những hậu quả lâu dài như vô sinh, chửa ngoài tử cung, đau tiểu khung mạn tính. Biểu hiện là đau bụng dưới, đau khi giao hợp, rối loạn kinh nguyệt, ra máu giữa kỳ kinh ...Khám thấy bụng dưới, tử cung, phần phụ đau, di động cổ tử cung đau, dịch nhày hoặc mủ nhày cổ tử cung, đôi khi có đám áp xe phần phụ và vòi trứng-buồng trứng. Bệnh nhân có thể sốt, tăng bạch cầu, tăng tốc độ lắng máu, tăng protêin phản ứng C (C-reactive protein)... Xét nghiệm tìm lậu cầu chỉ thấy ở khoảng 50% trường hợp. Viêm tiểu khung do lậu thường cấp tính hơn và xuất hiện sớm hơn viêm tiểu khung do các tác nhân khác.
Áp xe tuyến Bartholin gặp khoảng 28% số bệnh nhân lậu nữ. Viêm-áp xe tuyến Skène hiếm gặp.
3.6.3 Biến chứng toàn thân
- Nhiễm lậu cầu toàn thân (Disseminated Gonococcal Infection-DGI) là biến chứng hay gặp nhất của biến chứng lậu toàn thân, gặp khoảng 0,5-3% trong số bệnh nhân lậu cấp không điều trị. Một số tác giả gọi là Hội chứng viêm da-khớp vì biểu hiện lâm sàng là đau khớp và có biểu hiện ngoài da. Biểu hiện da gặp khoảng 5-7% của DGI và ở đầu chi với số lượng thương tổn thường

12/11/2018

VIÊM MIỆNG LIÊN QUAN TỚI MYCOPLASMA PNEUMONIAE
Vài nét về Mycoplasma pneumoniae
Mycoplasma pneumoniae là loài vi khuẩn rất nhỏ thuộc lớp Mollicutes, có khả năng gây viêm phổi và một số bệnh khác cho người. Năm 1898, Nocard và Roux phân lập được một loài mycoplasma trong môi trường nuôi cấy từ bò, nhưng tới năm 1944, Mycoplasma pneumoniae mới được phân lập và mô tả từ một bệnh nhân viêm phổi tiên phát không điển hình. Ban đầu, M. pneumoniae được xem là virus hơn là vi khuẩn vì kích thước nhỏ, đi qua được màng lọc. Nhưng sau đó, người ta thấy rằng, loài sinh vật này có thể sống và sinh sản độc lập, không cần ở trong tế bào khác, mượn vật chất di truyền của tế bào khác, vì thế nó được xem là vi khuẩn.
Về mặt thuật ngữ, mycoplasma (myco- nghĩa là nấm, -plasma nghĩa là dạng hình thành) xuất phát từ việc một vài loài Mycoplasma có sự tăng sinh giống nấm (gungal-like growth). Mycoplasma được phân vào lớp Mollicutes (mollis nghĩa là mềm, cutis nghĩa là da) do kích thước nhỏ và cấu trúc genome của chúng, không có vách tế bào (cell wall), chứa hàm lượng thấp nucleotid G+C và nhu cầu dinh dưỡng khác thường.
Ở người, M. pneumoniae gây viêm phổi tiên phát không điển hình (primary atypical pneumonia), viêm khí phế quản, bệnh đường hô hấp trên. Thuật ngữ “viêm phổi lang thang” (walking pneumonia) hay viêm phổi không điển hình (atypical pneumonia) được sử dụng để chỉ loại viêm phổi gây ra bởi M. pneumoniae không đáp ứng với kháng sinh như penicillin. Ngoài ra, M. pneumoniae có liên quan tới một số bệnh da liễu như viêm miệng, hồng ban nút, bệnh Raynaud, bệnh Kawasaki, hội chứng Stevens-Johnson. Vi khuẩn lây từ người sang người qua các giọt nước bọt, hơi nước chứa mầm bệnh. Đa số người mang vi khuẩn không lây bệnh. Thời gian ủ bệnh trung bình là 1-4 tuần.
2. Viêm miệng liên quan tới Mycoplasma pneumoniae
2.1. Hội chứng Stevens-Johnson
Hội chứng Stevens-Johnson là một bệnh thuộc phổ các bệnh da gây b**g tách, hoại tử thượng bì (epidermolytic dermopathies), bao gồm các bệnh khác nữa như hoại tử thượng bì nhiễm độc (hội chứng Lyell), hồng ban đa dạng thể nặng. Các bệnh này có đặc điểm chung là gây hoại tử, b**g tách thượng bì khỏi trung bì, nguyên nhân chủ yếu là do đáp ứng miễn dịch với thuốc hoặc các tác nhân sinh học khác, trong đó có M. pneumoniae.
Trong hội chứng Stevens-Johnson, các triệu chứng thường xuất hiện sau khi dùng thuốc nghi ngờ gây dị ứng1-8 tuần. Các thuốc hay gặp là kháng sinh nhóm sulfamid, thuốc an thần, thuốc chống động kinh có vòng thơm (carbamazepin), allopurinol, piroxicam, tenoxicam, thuốc kháng virus (nevirapin-điều trị virus HIV1). Khởi đầu, bệnh nhân có các triệu chứng như sốt, mệt mỏi, viêm long đường hô hấp trên, sau đó 1-3 ngày, xuất hiện khó chịu ở mắt, đỏ mắt, viêm kết mạc, viêm miệng, loét miệng. Có hai niêm mạc trở lên bị ảnh hưởng, hay gặp nhất là niêm mạc mắt và niêm mạc miệng, với mức độ khá nặng, đau, loét, hoại tử, khó nuốt. Các thương tổn da xuất hiện đồng thời hoặc sau đó, điển hình là các dát đỏ thẫm, ngứa, hoại tử, hình bia bắn không điển hình bằng phẳng với da lành, trên nền các dát đó xuất hiện bọng nước, mụn nước. Diện tích có bọng nước, bóc tách thượng bì chiếm dưới 10% diện tích cơ thể.

2.2. Viêm miệng liên quan tới Mycoplasma pneumoniae
Khi hội chứng Stevens-Johnson chỉ biểu hiện ở niêm mạc, không có thương tổn da thì được gọi là hội chứng Stevens-Johnson không điển hình. Sau đó, dựa vào các phát hiện vi sinh, bệnh được gọi là viêm miệng liên quan tới M. pneumoniae (Mycoplasma pneumoniae-associated mucositis-MPAM), một thể bệnh riêng.
Triệu chứng lâm sàng của MPAP
Nghiên cứu hệ thống của Vujicvà cộng sự cho thấy, MPAM thường gặp ở tuổi trẻ (18-38), đặc biệt là trẻ em và thanh niên. Bệnh khởi phát với các triệu chứng như sốt cao, mệt mỏi, ho khan, sau đó vài ngày xuất hiện viêm kết mạc mắt, viêm miệng. Thương tổn ở miệng khá nặng, loét, hoại tử, có giả mạc vàng bao phủ, ảnh hưởng tới môi, đầu lưỡi, niêm mạc má, thậm chí lan tới hầu họng và dây thanh. Ngoài ra, niêm mạc sinh dục có thể bị tổn thương. Không có thương tổn da của hội chứng Stevens-Johnson (bao gồm các dát thâm hoại tử, ngứa, hình bia bắn không điển hình bằng phẳng, các bọng nước hình thành trên nền dát đỏ thẫm).
Các xét nghiệm trong MPAM
- Xét nghiệm huyết thanh cho M. pneumoniae: bao gồm các kháng thể IgM, IgG, IgA. Trong đó, IgM phản ánh tình trạng mới nhiễm M. pneumoniae, được sản xuất trong vài tuần đàu sau phơi nhiễm, đỉnh là 3-6 tuần, sau đó giảm nhanh. Nồng độ IgM cao có ý nghĩa đặc biệt đối với trẻ em-đối tượng chưa phơi nhiễm trước đó. Tuy nhiên, kết quả IgM âm tính chưa loại trừ được tình trạng nhiễm cấp M. pneumoniae, hơn nữa IgM có thể tăng kéo dài, thậm chí hằng năm. Do đó, IgM không hẳn là dấu ấn đáng tin cậy cho sự mới nhiễm M. pneumoniae. IgG phản ánh sự tái nhiễm M. pneumoniae. Gần đây, người ta đề xuất dùng IgA để chẩn đoán nhiễm M. pneumoniae cấp bởi vì IgA được sản xuất sớm, đạt đỉnh sớm hơn và giảm xuống nhanh hơn so với IgM.
- Mô bệnh học: có hiện tượng hoại tử của niêm mạc, xâm nhập viêm lan tỏa (giống như trong hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử thượng bì nhiễm độc).
- Chụp X-quang ngực thẳng có thể có hình ảnh viêm phổi không điển hình.
- Các xét nghiệm để loại trừ viêm miệng do các tác nhân khác như virus herpes, HIV, Epstein-Barr virus, giang mai, Chlamydia.
- Các xét nghiệm ít làm hơn như nuôi cấy vi khuẩn, phản ứng khuếch đại chuỗi polymerase (PCR).
Chẩn đoán MPAP
Theo Vujic, một bệnh nhân được chẩn đoán MPAP khi có đủ bốn tiêu chuẩn sau:
- Có các triệu chứng liên quan với nhiễm M. pneumoniae.
- Có loét miệng.
- Xét nghiệm huyết thanh M. pneumoniae dương tính.
- Không có thương tổn trên da.

Ảnh 5. Trường hợp MPAP (nguồn: I. Vujic)
a. Viêm kết mạc hai bên không có mủ.
b. Loét miệng có giả mạc.
c. Mô bệnh học: có hoại tử niêm mạc và xâm nhập viêm lan tỏa.
Điều trị MPAP
- Vệ sinh, chăm sóc thương tổn loét miệng:
​ + Làm sạch bằng các dung dịch sát trùng như chlohexidine
​ + Dùng gạc ẩm đắp môi, miệng
​ + Loại trừ nhiễm trùng do herpes, Candida với các trường hợp thương tổn niêm mạc miệng lâu lành.
​ - Chăm sóc các niêm mạc khác bị tổn thương như mắt, sinh dục.
​ - Các thuốc toàn thân:
​ + Kháng sinh điều trị M. pneumoniae: nhóm macrolid, tetracyclin, doxycyclin. Chú ý rằng đã xuất hiện sự kháng thuốc của vi khuẩn đối với nhóm macrolid. Kháng sinh khác được sử dụng là fluoroquinolon, thận trọng cho trẻ em và phụ nữ có thai-những đối tượng dễ bị nhiễm M. Pneumoniae.
+ Một số tác giả sử dụng thuốc ức chế miễn dịch: corticosteroid, cyclosporin A.
​ - Hỗ trợ dinh dưỡng cho người bệnh, nếu loét miệng nhiều, đau nhiều, không ăn được thì cân nhắc đặt sond dạ dày.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vujic I, Shroff, Grzelka M et al (2015). Mycoplasma pneumoniae-associated mucositis-case report and systemic review of literature. JEADV, 29, 595-598.
​ 2. Waites KB, Talkington DF (2004). Mycoplasma pneumoniae and its role as a human pathogen. Clin Microbiol Rev, 17, 697-728.
​ 3. Shalock PC, Dinulos JG (2005). Mycoplasma pneumoniae-induced Stevens-Johnson syndrome without skin lesions: fact or fiction? J Am Acad Dermatol, 52, 312-315.

01/11/2018

POIKILODERMA
1. Đại cương
Poikiloderma là biểu hiện lâm sang ở da của nhiều bệnh lý khác nhau, được đặc trưng bởi sự kết hợp của tăng, giảm sắc tố kèm theo giãn mạch và teo da ở thượng bì. Hình ảnh bệnh học được đặc trưng bởi hình ảnh lớp đáy và lớp g*i mỏng, thoái hóa lớp tế bào đáy, giãn mao mạch ở nhú trung bì và tăng sắc tố lan tỏa.
Poikiloderma được chia làm 2 nhóm là Pokiloderma mắc phải và poikiloderma bẩm sinh. Bài viết này xin được chỉ trình bày về poikiloderma mắc phải
2. Poikiloderma mắc phải
Poikiloderma mắc phải gặp trong 7 nhóm bệnh lí: nhiễm trùng, viêm, bệnh lí chuyển hóa, bệnh lí mô liên kết, nguyên nhân môi trường, điều trị, u tân sản.
2.1 Nhiễm trùng
Poikiloderma xuất hiện trong bệnh Lyme. Bệnh do B.azelii và B.burgdorferi, lây truyền từ động vật sang người do côn trùng đốt. Bệnh diễn biến qua 2 giai đoạn, giai đoạn sớm đặc trưng da màu đỏ xanh kèm theo sưng nề; ở giai đoạn muộn tổn thương dạng poikiloderma tiến triển chậm, lan rộng hướng li tâm, phân bố chủ yếu ở mặt duỗi của chi.
2.2 Gặp trong các bệnh lí viêm
Các bệnh lí viêm hay có biểu hiện poikiloderma là viêm da cơ địa, hội chứng chống lại vật chủ, lichen phẳng.
Viêm da cơ địa: ở những trường hợp viêm da cơ địa nặng, poikiloderma xuất hiện tại vùng cổ , dấu hiệu “cổ bẩn” (dirty neck). Nguyên nhân được cho là do quá trình viêm mạn tính trong bệnh lí này kèm sự chậm lành vết thương do bôi corticoid kéo dài.
Hội chứng chống lại vật chủ: bệnh biểu hiện đa cơ quan do tế bào gốc tạo máu ghép vào cơ thể chống lại chính cơ thể ghép. Bệnh thường xuất hiện sau ghép mô 3 năm. Vị trí xuất hiện thường ở mặt và thân mình.
Lichen phẳng: poikiloderma hiếm gặp trên bệnh nhân lichen phẳng, biển hiện là các sẩn đỏ toàn thân kèm theo poikiloderma
2.3 Poikiloderma trong bệnh lí chuyển hóa như amyloidosis:
bệnh hay gặp ở người trên 50 tuổi. Vị trí vùng tiếp xúc với ánh sáng hoặc không. Biểu hiện kèm theo là sẩn dạng lichen, mụn nước phân bố tại các chi, dày sừng lòng bàn tay bàn chân.
2.4 Poikiloderma bệnh lý mô liên kết
Lupus ban đỏ: poikiloderma trong lupus ban đỏ hệ thống thể hiện tình trạng tiến triển của tổn thương da cấp tính, thường xuất hiện vùng ánh sáng. Lupus ban đỏ bán cấp và lupus ban đỏ dạng đĩa poikiloderma ít gặp hơn.
Viêm da cơ: poikiloderma xuất hiện trong giai đoạn muộn của bệnh. Vị trí xuất hiện thường là vùng tiếp xúc với ánh sáng dấu hiệu Shawl sign (vùng lưng), V-shaped (vùng cổ) hoặc phần trên mặt ngoài đùi.
Xơ cứng bì hệ thống: biểu hiện bởi mảng mất sắc tố bao quanh các nang lông vẫn còn sắc tố, vùng da này thường mất lông kèm theo teo da, giãn mạch.
2.5 Poikiloderma do ảnh hưởng của các yếu tố môi trường
Do ánh nắng mặt trời: poikiloderma trong Civatte và viêm da ánh nắng. Bệnh thường tiến triển chậm và không thể đảo ngược được quá trình của bệnh. vị trí hay gặp vùng tiếp xúc với ánh sáng như mặt, cổ, ngực trên, đặc biệt là những người làm việc ngoài trời. Trong bệnh Civatte còn có sự tham gia của yếu tố di truyền, nồng độ oestrogen thấp cùng với việc sử dụng nước hoa, mĩ phẩm
Do tia hồng ngoại và nhiệt: poikiloderma hình mạng lưới. Do sự phơi nhiễm liên tục và kéo dài với nhiệt và tia hồng ngoại ví dụ như: lò sưởi, máy tính xách tay.....vị trí phụ thuộc vào hướng bức xạ mà hay gặp nhất là cẳng chân người già dùng lò sưởi.
Lưu huỳnh dạng mù tạt: lưu huỳnh dạng mù tạt là vũ khí hóa học được sử dụng trong chiến tranh. Khí thu hút bởi chất mỡ nên dễ dàng thấm qua da và niêm mạc đường hô hấp, mắt
2.6 Poikiloderma do thuốc
Thuốc: cortisteroid bôi tại chỗ, hydroxyurea
Điều trị bằng liệu pháp ánh sáng
2.7 Poikiloderma trong bệnh lý
Mycosis fungoides: vị trí hay gặp hông, vú và mông. Tổn thương tạo thành các dát hoặc mảng lớn. Sinh thiết nhuộm hóa mô miễn dịch giúp chẩn đoán bệnh, dương tính với CD2, CD3, CD4, CD45, âm tính CD7, CD8
Á vảy nến thể mảng lớn: được xem là tiền lymphoma, vị trí hay gặp vùng thấp của thân mình, vùng trên của đùi, mặt gấp, vị trí xuất hiện vùng ngực và mông gọi ý tổn thương mycosis fungoides.
Kết luận
Poikiloderma là một triệu chứng gặp trong nhiều bệnh lí khác nhau. Điều quan trọng là cần nhận biết được triệu chứng đồng thời nắm rõ các bệnh lí có liên quan, từ đó đi tìm kiếm các dấu hiệu có giá trị cho đẩn đoán bệnh chính xác.

Address

45, Phố Lò Sũ, Quận Hoàn Kiếm
Hanoi

Opening Hours

Monday 17:00 - 19:00
Tuesday 17:00 - 19:00
Wednesday 17:00 - 19:00
Thursday 17:00 - 19:00
Friday 17:00 - 19:00
Saturday 09:00 - 12:00
Sunday 09:00 - 12:00

Telephone

0903499577

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phòng khám chuyên khoa Da liễu Bác sĩ Đặng Thu Hương posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram

Category