Luận Giải Tử Vi Khoa Học

Luận Giải Tử Vi Khoa Học Luận giải chi tiết lá số tử vi, xem hạn các tháng trong năm và chi tiết từng cung trên lá số tử vi...

Mn ơi, form mẫu hỗ trợ bà con vùng lũ lụt. Hiện tại ở Hà Nội, mn đang lên các tỉnh rất nhiều. Chia sẻ cho bà con để được...
09/09/2024

Mn ơi, form mẫu hỗ trợ bà con vùng lũ lụt. Hiện tại ở Hà Nội, mn đang lên các tỉnh rất nhiều. Chia sẻ cho bà con để được giúp đỡ với ạ

Gia Cát Lượng đã từng nói với Lưu Huyền Đức rằng: "tướng quân muốn thành bá nghiệp thì hãy tạm để cho Tào Tháo chiếm thi...
06/04/2023

Gia Cát Lượng đã từng nói với Lưu Huyền Đức rằng: "tướng quân muốn thành bá nghiệp thì hãy tạm để cho Tào Tháo chiếm thiên thời, để Ngô Quyền chiếm địa lợi, còn tướng quân hãy chiếm lấy nhân hòa...để tạo nên thế chân vạc". Điều này đã nói lên được sự quan trọng của thiên thời - địa lợi - nhân hòa khi ta muốn làm những việc trọng đại.
- Ngẩng lên xem trời, cúi xuống xem đất
- Gần là bản thân, xa là mọi vật
Nếu ta có một sự hiểu biết sâu sắc về thiên thời - địa lợi - nhân hòa và sử dụng chúng một cách thông minh, hợp lý ba yếu tố này thì sẽ giúp chúng ta xây dựng được những nền tảng vững chắc để tạo ra những thành công to lớn và bền vững sau này

14/01/2023

Thời nay âm đã và đang trở nên mạnh hơn dương rồi nên mọi người làm gì cũng phải suy nghĩ kĩ đừng để hoả khí bốc ngùn ngụt. Nhiều chuyện tâm linh sẽ được hiện hữu rõ ràng. Những ai thấy và hiểu được điều này thì nên tu tập đễ đỡ được phần nào..

BÍ QUYẾT GIẢI ĐOÁN VẬN HẠNKinh nghiệm Tử vi của cụ Thiên Lương* Đại vận rất quan trọng, lấn áp cả Tiểu vận * Ba bí quyết...
15/02/2022

BÍ QUYẾT GIẢI ĐOÁN VẬN HẠN
Kinh nghiệm Tử vi của cụ Thiên Lương
* Đại vận rất quan trọng, lấn áp cả Tiểu vận
* Ba bí quyết xác định sự tốt xấu của cung Đại vận, về ba phương diện: Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa .
Trong việc giải đoán lá số Tử vi, đối với sở thích của những người đã lớn tuổi, có thể kể rằng việc giải đoán đại vận là quan trọng nhất.
Về phương diện tâm lý, với người đã lớn tuổi, người ta rất mong được biết những dịp tốt hay những vận hạn sẽ đến, nếu biết dịp tốt đến,
sẽ cố gắng khai thác; nếu biết thất bại đến sẽ không dại bỏ tiền ra để rồi mất hết. Vả lại khi đã lớn tuổi, với nhiều người, gần như số mạng đã an bài,
chỉ còn trông vào những thay đổi phần nào ở vận hạn. Trong thật tế có nhiều người chỉ ăn về vận. Đương là một người như mọi người,
bỗng cơ may đưa đến, vọt ngay lên ngôi cao chức cả, thế rồi hết vận, lại tụt đi đâu mất không ai hay.
Người ta có thể kể không biết bao nhiêu người như thế, như ông Diệm, ông Nhu, Ông Cẩn, tướng Nguyễn Khánh, ông Trần Trọng Kim,
cụ Phan Khắc Sửu, và gần đây hơn, có biết bao nhiêu người đương là giáo sư công chức, kỹ sư, dược sĩ, nhẩy ngay lên chức lớn,
và có một số đã bỗng nhiên bỏ chức chức lớn mà trở về với cuộc sống bình thường; có những người đương làm ăn bình thường,
bỗng lời đổ đến tay như thác nước trong cả một thời kỳ, nhưng rồi quen ăn làm tới, tiền lại ào ào đội nón ra đi. Những cuộc thay đổi lớn lao
và bất thường đó là do Đại Vận, hơn là do Tiểu vận.
-Đại vận 10 năm, chủ vào 10 năm của cuộc đời. Đại vận mà khá thì cũng như có cái gốc khá. Tiểu vận có kém cũng được khá theo,
và nếu Tiểu vận được khá thì lại càng khá nhiều. Ngược lại, Đại vận mà kém thì tiểu vận có những sao tốt, cũng không thể tốt như ý muốn.
Càng bởi thế, tính vận hạn, ta không nên ngạc nhiên rằng năm Thân lần trước sao ta khá thế, mà năm Thân lần này, sao ta lại quá dở,
đó là vì Tiểu vận phải tùy theo Đại vận.
-Trong việc đoán số mạng đoán Đại vận là nắm được cái tốt xấu trong cả một cuộc đời, cho nên đoán đại vận là một sự rất hứng khởi.
Có một lần, một vị độc giả, hận vì đã bị đoán số lầm, nhất định xin hỏi cụ Thiên Lương giải đoán cho vận hạn mấy năm.
Vị độc giả đó không nói trước điều nào. Cụ Thiên Lương tính toán rồi nói: “Mấy năm nầy, ông làm ăn thất bại, thiệt tiền của”.
Vị nọ thở phào, tự coi như an ủi vì số mạng đúng. Ông mới tâm sự: “Đó là mấy năm tôi phải bỏ một số vốn lớn công ty vào một việc.
Tôi đã hỏi kỹ mấy ông thầy. Mấy ông bảo tốt, cứ xúc tiến công việc đi. Tôi yên trí bỏ tiền ra không ngờ mất tất cả. Nhưng tại sao lại hỏng việc được?
Rõ ràng hành của cung đại vận sinh cho hành mệnh của tôi như thế bước vào đại vận này là phải tốt chứ? Cụ Thiên Lương trả lời rằng
ông mới được địa lợi, nhưng Thiên thời lại hỏng.
Và bây giờ chúng tôi xin trình bày những kinh nghiệm của cụ Thiên Lương.
Ba yếu tố chính
Để xác định một cung Đại vận là tốt hay xấu, có ba yếu tố chính:
1.Hành của bộ Tam hợp cung Đại vận sinh cho hành của bộ Tam hợp cung tuổi, hay đồng hành, là tốt. Khắc là xấu. Đó là yếu tố Thiên thời.
Được Thiên thời là được thế thắng, được vận tốt do số mạng dành cho mình là được khá hơn đại vận khác.
2.Hành của cung Đại vận sinh hay khắc cho Mệnh của mình. Sinh là tốt, khắc là xấu. Đây là yếu tố chủ về thế thắng và vận tốt.
Chắc các bạn thích Tử vi đã nhận ra rằng đây là yếu tố chủ chốt mà các nhà giải đoán Tử vi thường dùng để xét đoán vận tốt xấu,
(nhưng các ông lại không để ý đến yếu tố là yếu tố Thiên thời).
3.Sự thích hợp hay không thích hợp của bộ sao tại Đại vận đối với bộ sao tại cung Mệnh. Có những bộ sao mà quý bạn đều biết:
Sát Phá Liêm Tham, Tử Phủ Vũ Tướng, Cự, Nhật, Cơ Nguyệt Đồng Lương: Yếu tố này cũng được các sách cổ nói đến và các thầy
Tử vi sử dụng, nhưng không có sự hệ thống hóa đầy đủ, chỉ nói sơ trong vài trường hợp (tỷ dụ: Mệnh có bộ sao này, đến cung đại vận
gặp bộ sao này, thì tốt hay xấu). Yếu tố thứ 3 này là yếu tố Nhân hòa.
Yếu tố về Tuần Triệt đã được chúng tôi trình bầy, chúng tôi sẽ nhắc lại. Còn các trung tinh, hung tinh là những yếu tố thêm vào cho các yếu tố chính
, và chỉ rõ thêm về các trường hợp cá biệt, như vận mạng về gì, hạn về phương diện nào. Thí dụ:
-Được cả ba yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa là được đại vận rực rỡ. Nếu lại được các trung tinh tốt và thoát được các hung tinh hãm, thì càng rực rỡ hơn.
-Bị cả 3 yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa, cùng xấu, là bị đại vận xấu. Nếu lại bị những sao hung xâm nhiễu, thì đó là đại vận rất nặng, gặp nhiều thất bại,
và có thể đi đến cái chết.
Trong số giai phẩm này, chúng tôi xin trình bầy hai yếu tố Thiên Thời và Địa lợi. Các yếu tố khác, sẽ xin trình bầy trong giai phẩm sau.
A-YẾU TỐ THIÊN THỜI
Trong Tử vi, đừng bao giờ quên yếu tố các bộ Tam hợp. Xin nhắc lại hành bộ Tam hợp trên lá số:
1-Thân Tý Thìn: THỦY
2-Hợi Mão Mùi: MỘC
3-Dần Ngọ Tuất: HỎA
4-Tị Dậu Sửu: KIM
Nguyên tắc: Trước hết, ghi nhận hành của tam hợp cung tuổi. Như người tuổi Tý thuộc tam hợp Thân Tý Thìn, hành Thủy.
Rồi muốn đoán cho mỗi đại vận cứ xét hành của tam hợp của cung Đại vận đó. So sánh hai hành
(Hành của tam hợp cung tuổi và hành của tam hợp cung Đại vận) thấy sự sinh khắc chế hóa thế nào thì biết
Thiên thời của Đại vận là xấu hay tốt.
-Hành tam hợp Đại vận sinh cho hành tam hợp tuổi: tốt, được Thiên thời.
-Hành tam hợp Đại vận đồng hàng với tam hợp tuổi (đây là trường hợp đại vận vào cung có Thái tuế Quan phù, Bạch hổ): tốt.
Thiên thời đến cho mình.
-Hành tam hợp Đại vận khắc tam hợp tuổi (trường hợp mình bị khắc nhập) xấu nhất, thời gian và hoàn cảnh chung đánh vào mình
và thắng mình, mình bị nhiều thất bại và thua thiệt.
-Hành tam hợp Đại vận bị hành tam hợp tuổi khắc (trường hợp khắc xuất): mình khắc thời vận, gặp nhiều khó khăn,
nhưng mình cố gắng và chịu chật vật nhiều, có thể thắng được.
-Hành tam hợp Đại vận được hành tam hợp tuổi sinh (trường hợp sinh xuất): tuy sinh, nhưng sinh xuất, cho nên lao đao,
như người mất máu huyết, mất sức lực tiền bạc.
Ghi các trường hợp
Quý bạn cứ theo các giải đoán trên mà xác định về Thiên thời: sau đây, nên ghi các trường hợp.
1)Tuổi Thân, Tý, Thìn Tam hợp Thủy
Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn: được Thiên thời, tốt nhất của mình
Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi (Mộc) Thủy sinh Mộc, vậy bị sinh xuất.
Đại vận đến cung Dần Ngọ Tuất (Hỏa) Thủy khắc Hỏa khắc xuất. Mình khắc thời, phải chật vật mới thắng
Đại vận đến Tị Dậu Sửu (Kim). Sinh nhập, Thiên thời.
2)Tuổi Hợi Mão Mùi Tam hợp Mộc
Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi, tức đến tam hợp Thái tuế, tốt nhất.
Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn (Thủy): Mình được sinh nhập. Tốt, mình có Thiên thời.
Đại vận đến cung Dần Ngọ Tuất (Hỏa) Mình bị sinh xuất, lao đao.
Đại vận đến Tị Dậu Sửu (Kim). Mình bị khắc nhập xấu.
3)Tuổi Dần Ngọ Tuất (Hỏa)
Đại vận đến cung Dần Ngọ Tuất (tam hợp Thái tuế): tốt.
Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn (Thủy): Mình bị khắc xấu
Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi (Mộc) Mình được sinh nhập. Tốt.
Đại vận đến Tị Dậu Sửu (Kim) khắc xuất, phải chật vật mới thắng
4)Tuổi Tị Dậu Sửu (Kim)
Đại vận đến cung Tị Dậu Sửu (tam hợp Thái tuế): tốt.
Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn (Thủy): Mình bị sinh xuất.
Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi (Mộc) Khắc xuất
Đại vận đến Dần Ngọ Tuất (Hỏa) Mình bị khắc nhập
Dàn bài cho đủ các trường hợp, chớ thật ra bạn nắm vững nguyên tắc các bộ tam hợp và hành sinh khắc,
là bạn giải đoán được ngay.
B-YẾU TỐ ĐỊA LỢI
Hành của cung Đại vận sinh cho mệnh của mình, là sinh nhập, tốt nhất.
Hành của cung Đại Vận đồng hành với Mệnh là tốt.
Hành của Mệnh mình sinh cho hành cung Đại Vận, là sinh xuất, lao đao.
Hành của Mệnh mình khắc hành cung Đại vận: Khắc xuất, bị chật vật nhưng có thể thắng.
Hành của cung Đại vận khắc hành của mệnh: Khắc nhập, xấu, thất bại.
C – Yếu Tố Nhân Hòa
* Yếu tố thứ ba: bộ sao gặp Đại vận có hợp với bộ sao tại Mạng không?
Trong giai phẩm trước, chúng tôi đã trình giải kinh nghiệm của cụ Thiên Lương về việc giải đoán Đại vận.
Chúng tôi đã nói đến hai yếu tố đầu, bây giờ xin nói đến yếu tố thứ ba, sau đó sẽ xin nói đến
những yếu tố phụ thuộc (nhưng cũng quan trọng).
Nhắc lại: Yếu tố Thiên Thời: được thời vận thì dù các yếu tố khác có kém, mình cũng khá.
Xét yếu tố này, phải cân nhắc tam hợp cung tuổi của mình và tam hợp cung đại vận:
nếu đến tam hợp Đại vận đồng hành với tam hợp tuổi, mình được khá nhất; tam hợp Đại vận sinh cho tam hợp tuổi,
là có Thiên Thời tốt; tam hợp Đại vận khắc tam hợp cung tuổi: khó khăn nhất và hoàn cảnh thắng mình.
Tam hợp tuổi sinh cho tam hợp Đại vận là bị sinh xuất: mình bị lao đao, có khá được cũng mệt mỏi tiêu hao nhiều.
-Yếu tố hai là yếu tố Địa lợi: phải ghi hành của Mệnh mình (tức là Mệnh của mình là người Kim, Mộc, Thủy, Hỏa hay Thổ)
rồi xét xem Đại vận đến cung nào, hành của cung này sinh khắc cho Mệnh thế nào. Tùy theo các thế sinh khắc mà ta đã biết:
Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy,
Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, ta biết được cung Đại vận sinh khắc chế hóa như thế nào với Mệnh của ta.
Cung Đại vận sinh cho Mệnh của ta là tốt nhất. Cung Đại vận hòa với Mệnh của ta là trung bình. Mệnh của ta sinh cho cung Đại vận,
là ta bị sinh xuất, có đạt được cũng lao đao, cuối cùng cung Đại vận khắc Mệnh của ta, là ta gặp khó khăn, hoàn cảnh chế ngự ta,
ta không thể thắng nổi. Nếu Mệnh bị cung khắc, còn có thể xét xem được yếu tố Âm Dương của cung giống Âm Dương của Mệnh thì cũng dở.
Yếu tố thứ ba: bộ sao ta gặp ở Đại vận
Yếu tố thứ ba là bộ sao ta gặp ở Đại vận hợp hay không hợp với bộ sao ta có tại cung Mệnh. Đây là yếu tố mà ta thường thấy
ghi ở các sách cổ kim, nhưng các trường hợp này không được giải thích và hệ thống hóa. Cụ Thiên Lương đã hệ thống hóa như sau:
Như trong sách “Tử vi nghiệm lý” cụ đã ghi, cụ phân các bộ chính tinh ra Âm và Dương, Dương là thực hành mà Âm là lý thuyết.
Các bộ Tử, Phủ, Vũ, Tướng và Sát, Phá, Liêm, Tham thuộc về Dương và có tánh chất thực hành, các bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương
và Cự Nhật thuộc về Âm và có tánh chất lý thuyết. Hai bên Âm Dương phân ra như vậy là hình ảnh của Lưỡng nghi.
Phân biệt ra Tứ tượng, ta có 4 bộ với tánh chất như sau:
Sát Phá Liêm Tham: 100% thực hành.
Tử Phủ Vũ Tướng: 60% thực hành, 40% lý thuyết
Cự Nhật: 60% lý thuyết, 40% thực hành.
Cơ Nguyệt Đồng Lương: 100% lý thuyết.
Luận ra các thế của Đại vận
Sự khác biệt hay giống nhau là do chỗ thế Âm và thế Dương mà gặp nhau thì nghịch, thường kém tốt; hoặc thế lý thuyết
mà gặp thế thực hành thì có phát thêm, nhưng gặp họa lệch lạc, kém tốt. Tuy nhiên, nếu lý thuyết 100% mà gặp thực hành 100%
thì phát mạnh hoạt động nhiều nhưng gặp họa nhiều hơn là những thế tuy khác biệt Âm Dương mà thế lý thuyết, thực hành
không khác nhau xa mấy (như có thế 60% lý thuyết, 40% thực hành mà gặp thế 40% thực hành 60% lý thuyết thì không khác nhau xa mấy).
Cũng vậy, thế 100% thực hành mà gặp thế 60% thực hành, 40% lý thuyết, cũng không khác xa nhau mấy.
Từ căn bản đó, luận ra các thế như sau:
-Mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương (yếu, Âm, 100% lý thuyết) gặp Đại vận Sát Phá Liêm Tham (mạnh, Dương, 100% thực hành):
phát mạnh thì lại bị nặng, nhiều khó khăn, có thể có những cái rủi lớn.
-Mệnh Sát Phá Liêm Tham gặp Đại vận Sát Phá Tham – giống nhau hợp, tốt.
-Mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương đến đại vận Cơ Nguyệt Đồng Lương giống nhau, hợp, tốt.
-Mệnh Sát Phá Tham gặp đại vận Cơ Nguyệt Đồng Lương: kém, nhưng không hiểm nguy,
mặc sống kém hơn so với các đại vận Sát Phá Tham (tóm lại là kém đi).
-Mệnh Sát Phá Tham gặp đại vận Tử Phủ Vũ Tướng, cùng Dương, vậy là không có gì khó khăn nặng,
nhưng cũng giảm kém xuống một chút vì sự khác biệt về thế thực hành, lý thuyết
( Sát Phá Tham đương hoạt động 100/100, gặp Tử Phủ Vũ Tướng hoạt động giảm đi, nhưng thêm lý thuyết thế vào).
-Mệnh Tử Phủ Vũ Tướng gặp Tử Phủ Vũ Tướng: tốt.
-Mệnh Tử Phủ Vũ Tướng gặp đại vận Sát Phá Tham, phải hoạt động thâm lên như cũng giảm kém chút đỉnh.
-Tử Phủ Vũ Tướng với Cơ Nguyệt Đồng Lương: cũng luận như giữa Sát Phá Tham và Cơ Nguyệt Đồng Lương,
nhưng sự khắc biệt, sự giảm kém không quá mạnh, là vì Tử Phủ Vũ Tướng còn có 40% lý thuyết so với
Cơ Nguyệt Đồng Lương 100% lý thuyết.
-Mệnh Tử Phủ Vũ Tướng gặp Cự Nhật: khác về Âm Dương, nhưng sự chênh lệch trong tỷ lệ lý thuyết và thực hành
rất ít, nên sự giảm kém cũng rất ít. Mệnh Cự Nhật gặp Tử Phủ Vũ Tướng cũng luận theo như thế.
Vài yếu tố khác
Luận ba yếu tố trên, đủ thấy được đại cương Đại vận tốt xấu, một cách rất chính xác.
Còn những yếu tố phụ khác, nhưng cũng quan trọng, là các trung tinh lớn và các hung tinh lớn.
Ngoài ra có yếu tố lớn và chúng tôi đã nêu lên trong một kinh nghiệm trước cũng của cụ Thiên Lương,
đó là kinh nghiệm về Tuần Triệt như một yếu tố để giải đoán Đại vận, Tuần hay Triệt nói chung
làm giảm kém các sao tốt, nhưng lại làm tốt những sao hãm.
Nếu ở cung Mệnh có Tuần giải chế Mệnh thì đến Đại Vận có Triệt, mệnh được cởi gỡ ra và khá lên.
Cũng vậy, nếu ở Mệnh có Triệt thì đến Đại vận có Tuần, vận mệnh được gỡ ra và khá lên.
Gốc đại hạn
Khi đoán tiểu hạn đều tiên quyết là phải xét gốc đại hạn lúc đó được coi như là cung Mệnh thứ 2 di động có ảnh hưởng mạnh mẽ và rõ rệt cho tiểu hạn nhưng vẫn không được quên lãng cung Mệnh khi giải đoán
_ Nếu Đại Hạn có LIÊM THAM hãm tại tỵ hợi mà Tiểu Hạn có Địa Không, Đại Kiếp, Thiên Không thì sự nghiệm Hoạch phát nhất là khi được Không Kiếp đắc địa
chỉ vì Liêm Tham hãm địa rất cần gặp Không. (Chính trong cuốn Tử Vi đẩu số Tân biên cũng có nêu ra điểm này khi bàn đến SPLT hãm tại cung Quan lộc mà nhiều người vô tình không biết áp dụng cho cả Đại Tiểu Hạn)
Cũng trong TH Tiểu Hạn trên, NẾU ĐẠI HẠN có THIÊN PHỦ hoặc TỦ VI
Thì thật đáng buồn, chỉ chờ ngày khuynh gia bại sản hoặc mất chức … Nhất là khi có Thêm Tuần Triệt án ngữ (là yếu tố làm lợi thêm cho Liêm Tham hãm) vì Tử Phủ sợ nhất gặp Không vong và Tuần Triệt
Ngoài ra, vẫn phải xét đến Mệnh nữa, vì khi đại tiểu hạn tương hợp với nhau rồi, nếu lại thêm Mệnh hỗ trợ nữa mới đáng gọi là hanh thông thuận lợi. Còn ngược lại, vẫn giảm đi nhiều
TỶ DỤ như Mệnh có VŨ SÁT tại Mão mà gặp được Đại Hạn Liêm Tham hãm và Tiểu Hạn Không Kiếp Thiên Không như trên thì còn gì bằng, vì tất cả nhóm sao đó tương trợ lẫn nhau chặt chẽ
Còn TH Mệnh có THIÊN PHỦ (tức Mệnh ở Dậu) với Đại Tiểu Hạn như trên thì chưa thể hanh thông được
Hoặc nếu có phát lên mạnh thì đương số cũng đau khổ bực dọc trong tâm hồn vì nằm trong môi trường trái ngược với tư thế của mình không khác gì một ông quan mà phải đứng đầu một đảng cướp hoặc một nhóm buôn lậu, như thế thành công càng thấy lương tâm cắn rứt mặc dầu bề ngoài thật là thịnh vượng và có uy tín
_ khi Đại Hạn có NHẬT NGUYỆT miếu vượng tại Mão và Hợi mà gặp Tiểu Hạn có Thiên Không, Thiên Hư và cung nhập Hnj lại VCD thì tiền tài công danh rất ngon lành vì Nhật nguyệt rất ưa cung VCD đê rọi chiếu vào cho sáng sủa nhất là có thêm Thiên Không quét sạch mây mù cho bầu trời thăm thẳm thực đẹp biết bao. Ngay cả khi có Tuần Triệt án ngữ thì vẫn hanh thông vì Nhật Nguyệt khi chiếu gián tiếp (tức là ở Đại Hạn ảnh hưởng cho tiểu hạn) không hề sợ Tuần Triệt mà có khi còn nhờ 2 sao này làm tăng sự tốt đẹp cho cung VCD nhập Tiểu Hạn nữa. Ngoài ra dừ có thêm Không Kiếp (bất luận miếu hay hãm) nhập Hạn vẫn phát đạt như thường vì Không Kiếp không hại gì cho Nhật Nguyệt
Nhưng với Tiểu Hạn như trên, với Đại Hạn gặp THIÊN PHỦ hội song LỘC thì kết quả ngược lại hẳn. Không lụn bại thì cũng không làm sao phát đạt nổi
Gặp TH này, nhiều người mới học Tử Vi hản phải thắc mắc Không hiểu tại sao Tiểu Hạn trước minh phát mạnh mẽ mà Tiể Hạn sau cũng vào cung đó lại xuống đến đất đen. Nhất là cứ yên trí Đại Hạn Thiên Phủ hội song Lộc thì phải Tiền để đâu cho hết …
Bây giờ ta lại phải xét đến Mệnh xem có gì mâu thuẫn hoặc thuận lợi cho Đại Tiểu Hạn hay không.
Nếu TH đầu, (tức là Đại Hạn Nhật Nguyệt và Tiểu Hạn Thiên Không, Thiên Hư và cung nhập Hạn VCD) mà được cung Mệnh cũng VCD hoặc có Phá Quân cư Thân thì năm đó rất thuận lợi vì Phá Quân rơi vào Hạn có những sao trên, không có gì trái ngược. cũng ví như một người liều lĩnh, thủ đoạn, dữ dằn gặp được môi trường làm ăn bất chính (như buôn lậu) thì dễ thành công rực rỡ
Nếu Mệnh có THIÊN CƠ, THIÊN LƯƠNG hoặc TỬ PHỦ thì tuy hợp với Đại Hạn Nhật Nguyệt nhưng lại kỵ Tiểu Hạn Không vong, Không Kiếp, Tuần Triệt cho nên năm đó cũng khó thành công
_ Nếu Đại Hạn có XƯƠNG KHÚC, KHÔI VIỆT, QUAN, PHÚC, HÓA KHOA mà tiểu hạn gặp: Hỏa Linh, Không, Kiếp, Tuần, Triệt, Hóa Kỵ, Kình Đà là có sự mâu thuẫn thái ngược giữa 2 nhóm sao đó vì một bên toàn sao chủ về Văn học, tư cách thông Minh, một bên chủ về dữ dằn phá hoại, ngăn trở, lao động về chân tay . Như thế làm sao có thể hanh thông được
Riêng TH này, rất cần phối hợp với Mệnh. Nếu Mệnh có LIÊM THAM hãm địa hoặc có VŨ SÁT hay CƠ LƯƠNG (nhưng 2 cặp sao sau không thuận lợi bằng Liêm Tham vì chúng rất sợ Tuần Triệt) thì năm đó cũng không đáng ngại cũng ví như người thợ máy tới lúc được bổ túc thêm phần kỹ thuật của mình (tỷ dụ như học thêm một khóa chuyên môn nào đó)
Còn TH Mệnh có THIÊN TƯỚNG, THIÊN LƯƠNG .v.v…thì tuy rất hợp với Đại Hạn đó nhưng Tiểu Hạn hoàn toàn bất lợi. Nếu có đi thi tất rớt, có mưu cầu chức phận gì cũng bị cản trở
Do đó, nếu Mệnh và Tiểu Hạn tương hợp với nhau rồi phải có Đại Hạn làm trung gian kết hợp mới tốt đẹp cũng ví như người mai mối giữa 2 họ nhà Trai và nhà Gái. Nếu thân thiết với cả 2 bên thì người đó sẽ cố tác thành cho cặp Trai Gái
Còn TH không ưa một bên nào thì thế nào cũng gây mâu thuẫn. xem như vậy mới thấy đoán Tiểu hạn quả thực rất uyển chuyển vì phải kết hợp quá nhiều yếu tố
Các sao Lưu Niên (hoặc Phi Tinh)
Nếu muốn giải đoán tinh vi về Tiểu Hạn hơn, ta cần căn cứ vào các sao Lưu Niên để biết những điểm dị biệt giữa các tiểu hạn trùng nhau. Các Phi tinh thông thường là:
LỘC TỒN, KÌNH ĐÀ, THÁI TUẾ, THIÊN MÃ, KHỐC, HƯ, TANG HỔ, KHÔI VIỆT
Nhiều nhà Tử Vi khi an lưu Thái tuế hoặc lưu Lộc Tồn thường an luôn cả các sao chùm đó nhưng thiển nghĩ thì chỉ cần xét đến các Phi tinh nêu trên cũng đủ vì những sao còn lại không giúp được nhiều cho việc giải đoán mà có khi còn làm ta phân vân không biết đi tới kết luận nào
Ngoài ra, trong các Phi tinh kể trên phải chú trọng nhiều nhất lưu Thái Tuế
Vì nó luôn luôn tọa thủ tại cung của năm nhập Hạn
Xin nêu ra nhiều thí dụ điển hình dưới đây chứ không thể nêu ra nguyên tắc giải đoán được.
_ khi Đại Hạn có CỰ MÔN hãm địa hội PHỤC BINH, THÁI TUẾ
Tiểu Hạn lại có CÔ QUẢ, TANG HỔ, KÌNH ĐÀ, HỎA LINH, THÁI TUẾ
Mà Lưu Thái Tuế lại gặp Thiên Hình Hóa Kỵ, Lưu Kình hoặc Lưu Đà
(nhất là Kình hoặc Đà hãm địa) có thể quyết đoán là đương số bị tù tội hoặc bị đánh đập khá nặng nếu không phải đau yếu hay nguy nan
Nếu lưu Thái Tuế không gặp Kình hoặc Đà (tức là Lưu Lộc Tồn chạy sang cung khác) thì bao nhiêu sự nguy nan cũng chỉ còn một phút
_ Nếu Đại Hạn có HÓA KHOA, QUANG QUÝ (Sửu Mùi)
Tiểu Hạn có XƯƠNG KHÚC, KHÔI VIỆT
và lưu Thái Tuế lại gặp Phi tinh Khôi Việt Hồng Hỷ thì thuận lợi nhất về công danh. Đi thi chắc chăn đậu
nhất là khi thấy Mệnh có Thiên Lương, Thiên Tướng đắc địa hội Tả Hữu, Quyền Lộc nữa
Nhiều khi tiểu hạn hơi xấu mà Lưu Thái Tuế hội nhiều sao tốt đẹp vẫn được hanh thông tuy vẫn có trở ngại lúc đầu tỷ dụ như thi đậu kỳ nhì hoặc buôn bán thua lỗ đầu năn nhưng giữa năm trở đi lại phát tài
_ Về phương diện lưu THIÊN MÃ. Nhiều nhà Tử Vi cho rằng những người nào Mệnh hoặc Thiên Di hay Thân cư tại Dần Thân Tị Hợi hay phải di chuyển xuất dương xuất xứ vì Thiên Mã cố định luôn ở 4 cung đó và cả Thiên Mã lưu niên cũng vậy . Còn đối với những người khác, nhất là những người có cách làm việc cố định không bao giờ nên đoán là họ sẽ thay đổi công việc mỗi khi gặp Lưu Thiên Mã vì cứ vài năm, thế nào chẳng gặp trực tiếp hoặc gián tiếp Mã và lưu Mã
Đối với những người này, phải có thật nhiều yếu tố thay đổi mới có thể đoán được TỶ DỤ như Đại Hạn có Thiên Đồng, Thiên Không, rồi Tiểu Hạn có Mã gặp Lưu Mã mà lại phải chiếu về cung thuộc về mình
tức là các cung: Mệnh, Tài, Quan, Di, Thân chứ nếu chiếu về Phụ Mẫu, Tử Tức thì vẫn chưa thể quẻ quyết được
Ngoài ra còn cần có 2 Đại Hạn liền nhau thật khác nhau để cho có sự thay đổi Mạnh mẽ mỗi khi chuyển đại hạn
Sau hết, ngoái các Phi tinh kể trên cần chú trọng đến lưu TUẦN TRIỆT mà ít sách đề cập tới mặc dầu rất quan trọng
(cách an 2 sao lưu này cũng như cách thông thường. TỶ DỤ như năm nay Giáp Dần thì TUẦN ở Tý Sửu và TRIỆT ở Thân Dậu)
Thực thế. Nhiều khi Lưu Tuần Triệt còn ảnh hưởng mạnh mẽ hơn Tuần Triệt cố định nếu luận đoán về tiểu Hạn
TỶ DỤ như cung nhập Hạn có TỬ PHỦ cư Thân hội nhiều sao tốt đẹp mà hợp với Đại Hạn cũng như Mệnh nhưng vẫn không thấy hanh thông. Đó là vì LưuTuần hoặc Lưu Triệt đã án ngữ mất gần hết cách tốt đẹp đó đi
Nhưng gặp TH hạn quá xấu, nếu may mắn được Lưu Tuần, Triệt án ngữ thời vẫn có thể chắc qua khỏi được
Như vậy, ta thấy mỗi tiểu hạn trùng nhau đã có khá nhiều yếu tố khác nhau
Thời gian
Sau hết, cần phải lưu ý đến yếu tố thời gian tuy không có tính cách lý thuyết về Tử Vi nhưng nhiều khi ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc giải đoán. Tỷ Dụ như:
Hai sao Tả Hữu thường chỉ ứng nghiệm trong thời đương số còn trẻ, vì có trẻ mới hăng say hoạt động cho phù hợp với đặc tính của Tả Hữu. Chứ khi đã lớn tuổi, dù có muốn tích cực chăng nữa, Tả Hữu cũng “ già nua’ rồi, khó lòng giúp cho đương số được phong độ như trước
Về ĐÀO HỒNG cũng tương tự như vậy. Nếu nằm trong những đại hạn còn thanh niên mới đúng môi trường, chứ 60 trở đi, 2 sao đó không những không giúp ích gì mà còn làm cho ta yếu đuối thêm và có khi đưa đến tận số
Còn TRIỆT thì từ 30 trở đi cũng bớt hản ảnh hưởng đi. Nếu cung nhập hạn từ 30 năm trở về trước, đang tốt trở thành xấu vì Triệt án ngữ thì 30 năm trở về sau phải đoán là tốt nếu gặp sao đó nữa
_ Về các Hung tinh như KÌNH, ĐÀ, LINH, HỎA, KHÔNG KIẾP. nói chung thường hay hoạt động xớm.
nếu ở Đại hạn thì hay ứng vào mấy năm đầu và ở Tiểu hạn ứng vào đầu năm
Nhất là khi gặp chính tinh có ảnh hưởng xớm (Bắc đẩu). Hoạc có khi trong đại hạn còn trẻ bị Hung tinh này quấy phá nhưng đến đại hạn cách đó mấy chục năm sau cũng gặp Hung tinh đó, sự phá hoại lại quá nhẹ
Qua thí dụ trên mới thấy việc đặt ra nguyên tắc hoặc “hệ thống” để giải đoán tiểu hạn rất khó thực hiện vì có quá nhiều yếu tố kết hợp không giống nhau
Và KẾT LUẬN: Sự tốt xấu của Tiểu hạn không phải hoàn toàn do đặc tính tốt xấu của các sao nhập hạn mà do sự Tương hợp giữa Tiểu Hạn, Đại Hạn và Mệnh Thân.
Xem tiểu vận trong lá số Tử Vi cần phải kết hợp với xem đại vận trong 10 năm hiện tại, tiểu vận thường nương theo đại vận, ví như đại vận tốt mà tiểu vận cũng tốt thì năm đấy sẽ gặp nhiều điều thuận lợi, còn như đại vận xấu mà tiểu vận năm tốt thì cái tốt đấy cũng bị giảm đi nhiều, đồng thời tiểu vận là sự hiện rõ đại vận trong một năm về các biến cố, thông qua các sao trình bày ở dưới đây để luận đoán biến cố trong năm.
1. Các sao trong Tiểu vận
Thấy sao tốt mà không bị hung tinh phá, không bị Tuần Triệt cản, mới thật được tốt.
Thấy sao xấu, nhưng có sao giải (Khoa, Lộc, Quan Phúc; Khôi Việt, Tồn) hay sao cản (Tuần, Triệt, Tài, Thọ) thì tai hoạ giảm xuống hoặc tránh được.
– Có biến cố trọng đại trong năm:
Đẩu Quân
- Vận thi đậu, thăng tiến công danh:
Xương, Khúc
Khôi, Việt
Khoa, Quyền, Lộc
Tả, Hữu, Tứ Linh
Long, Phượng, Hổ, Cái
Mã ngộ Tràng Sinh
Mã khốc khách
Đào, Hồng, Hỷ
Phụ, Cáo
- Vận phát tài làm giàu:
Tham Vũ Lộc đồng cung
Song Lộc
Lộc Mã
Kiếp, Không (miếu)
Hoả, Linh (miếu)
Vận thành hôn:
Tả, Hữu, Long, Phượng, Nhật, Nguyệt Đào, Hồng, Riêu, Hỷ, Hỷ Thần, Thanh Long
- Vận sinh con:
Thai, Sinh, Vượng; Tả, Hữu; Hồng, Đào, Long, Phượng
Thiên Hỷ, Hỷ Thần, Thanh Long
Vận đến cung Dương, có Nam Đẩu nhiều sao Dương: Sinh con trai
Vận đến cung Âm, có Bắc Đẩu, nhiều sao Âm: Sinh con gái
Cung Dương, Bắc Đẩu hay cung Âm, Nam Đẩu: Cứ theo nhiều sao Dương hay nhiều sao Âm mà đoán là sinh trai hay sinh gái. Cung Vô Chính Diệu: Xem Chính Diệu cung xung chiếu. Xem cả hai vợ chồng mới đúng.
– Vận tù tội:
Sát, Hình, Phá Liêm Hình, Liêm Phá, Liêm Tham (ở Tỵ Hợi)
Bạch Hổ + Đường Phù (Các cách trên, thêm Không Kiếp, Cô Quả, Lưu Hà, Kiếp Sát rõ hơn)
- Vận tán tài:
Đại Tiểu Hao (hãm)
Kình, Đà
Lương thêm sát tinh
Vận phát và tán:
Song Hao (miếu)
- Vận thay đổi:
Đồng

- Vận ốm đau:
Kinh, Đà
Không, Kiếp
– Vận lừa gạt tai họa nặng:
Kinh, Đà
Không, Kiếp
– Vận tang thương:
Khốc Hư, Tang, Điếu,Hổ
Cô, Quả
- Vận chết:
Đại vận xấu báo hiệu sự chết. Và đại tiểu vận trùng phùng.
Hoặc tiểu vận có những sao nặng như đại vận hoặc những sao nặng khác cộng thêm vào.
Cộng với hàng Can của năm khắc hàng Can của tuổi.
Nghiên cứu lá số Tử Vi, ta có thể biết được vận hạn cuộc đời của đương số. Trong Tử Vi, có các loại vận là: Đại vận 10 năm, tiểu vận 1 năm, vận tháng, vận ngày, vận giờ.
Có người cho rằng: Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng Phúc tốt hoặc Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng Hạn tốt...
Biết trước vận hạn giống như tự trang bị cho mình một tấm bản đồ "cuộc đời" tránh cho bản thân bị lạc đường.
-St-

08/12/2021

Cổ nhân gọi tàn tật nghĩa là trên thân thể thiếu một bộ phận nào đó, như thịt, xương, cho đến thời đại ngày nay mà nói phàm mổ ruột thừa, chân tay bị gãy chịu tổn thương, hoặc trải qua phẫu thuật đều coi là tàn tật.
Trong mệnh bàn có tổ hợp các sao dưới đây đều khó tránh họa đó(Phan Tử Ngư):
+Thiên lương xung chiếu Thái Dương.
+Thất sát và Dương nhẫn hoặc Đà la đồng cung.
+Liêm trinh, Thất sát tọa cung Mệnh hoặc cung Thân.
+Thất sát tọa chỗ hãm địa (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi).
+Cự môn thêm sát tinh.
+Thiên tướng và Hỏa tinh hoặc Linh tinh đồng cung.
+Tham lang và Văn xương hoặc Văn khúc đồng cung.
+Dương nhẫn hoặc Đà la tại Tý, Mão, Ngọ, Dậu, Dần, Tỵ, Thân, Hợi.
+Vũ khúc, Thiên tướng và Hỏa tinh, Linh tinh đồng cung.
+Thái âm tại chỗ hãm địa thêm sát tinh.
+Phá quân và Dương nhẫn hoặc Đà la đồng cung.
+Liêm trinh, Tham lang đồng cung thêm sao Đà la.
nguồn: Sưu tầm.

Tướng mạo để xác định giờ sinhPhân loại tướng mạo để xác định giờ, như sau:1. Tử, Phủ, Vũ, Tướng: Là loại người đa số nắ...
26/01/2021

Tướng mạo để xác định giờ sinh
Phân loại tướng mạo để xác định giờ, như sau:
1. Tử, Phủ, Vũ, Tướng: Là loại người đa số nắm quyền sinh sát nếu đủ Khoa Quyền Lộc, Xương Khúc, Tả Hữu, Tứ Linh..., thường thì phúc hậu, đường bệ, uy nghi nếu sao đắc địa thủ hợp Mệnh, Thân.
a. Tử Vi: Đa số phúc hậu, tính tình cẩn trọng, tướng người vừa tầm, cân đối, da thường hơi ngâm hoặc vàng không trắng, không cao, không thuộc loại đẹp trai, nếu ở Dần Thân. Ngoại trừ người có Mệnh ở Tí, Ngọ không gặp Tuần Triệt thì tướng cao, nhưng cũng không đẹp vì thường mặt mụn hoặc sần sùi. Người gặp Tuần Triệt tại Mệnh ở Tí Ngọ thì da trắng, thanh tú, không mụn hay sần sùi, nhưng không cao. Trường hợp người gặp Tử Vi có Không Kiếp thì lại đẹp trai, nhưng Tử Vi gặp Không Kiếp là đế ngộ hung đồ, thường làm đàn anh đi trộm cướp.
- Tử Sát ở Tỵ Hợi nhờ có Thất Sát nên da trắng, trai gái đều đẹp, và mặt thường không bị mụn hay sần sùi, vì Tử Vi ở Tỵ được Thất Sát Kim tiết khí Thổ và Thiên Đồng ở Tí đắc địa nên Thổ không đến nổi khô táo tạo thành mụn nhọt. Ở Hợi thì Tử Vi vừa được Thất Sát Kim và cung Hợi Thuỷ tưới nhuận, nên Thiên Đồng ở Ngọ hãm mà không bị mụn nhọt.
- Tử Phá ở Sửu Mùi nhờ có Phá Quân Thuỷ nên trai gái đều đẹp, da hơi trắng, và mặt không mụn, nhưng tính hơi nóng nảy và dữ.
- Tử Tham Mão Dậu thì hơi dư bề ngang và hơi thiếu bề cao. Nói chung không cao và hơi mập, nhưng da không trắng, và mặt mày không mụn hoặc sần sùi, do nhờ Tham Lang mộc khắc bớt chất Thổ của Tử Vi.
- Tử Tướng Thìn Tuất cũng thấy không mụn, vì nhờ Thuỷ của Thiên Tướng. Nhưng ở đây phái nam thường đẹp trai hơn phái nữ.
Chú Ý: Đừng ngạc nhiên khi người có Tử Vi đắc địa hợp Mệnh mà “da mặt lại sần sùi hay mụn” đó là vì Thổ quá vượng và cung Tật Ách của họ có Thiên Đồng không đắc địa hoặc hãm. Nếu Tử-Vi thủ Mệnh thì Thiên Đồng bao giờ cũng ở cung Tật Ách, còn Tử-Phủ thủ Mệnh thì Tật Ách là Đồng-Cự. Cả hai trường hợp thường làm cho đương số hô, mặt mụn hay sần sùi nếu không có Tuần Triệt. Duy, người bị Tuần-Triệt tại Mệnh thì mặt lại không mụn! Nói chung những người Mệnh Kim, Hỏa, và Thổ, mà gặp phải Tử Vi ở các cung như Tí, Ngọ, Dần Thân thì rất dễ bị mụn, nếu cung Tật hay Mệnh không có Tuần Triệt.
b. Thiên Phủ: thường thì tướng người đậm, hơi có thịt, đầy đặn, trắng trẻo, thường cao lớn, hay d**g dảy, mặt mày có nét hiền lành phúc hậu. Tính khí ôn lương, nhẹ nhàng hơn Tử Vi, nhưng mạnh dạn hơn CNDL. Gặp Tử Vi ở Dần Thân khó tránh bị mụn, nếu không có những cách như đã nói ở sao Tử Vi. Gặp các sao khác như Liêm Phủ, Thìn Tuất, Vũ Phủ, Tí Ngọ, vẫn đẹp đẻ, phương phi.
c. Vũ Khúc: thường tướng nhỏ con, không cao, nhưng nét cứng chắc, mặt hơi xương, nhiều nốt ruồi, tính quả quyết, hơi khó tính, hơi kiêu kỳ, mà cô độc.
d. Thiên Tướng: thường tướng cao lớn, tính nóng, có tâm Đạo, có khiếu làm thầy tu, bói toán, nhà văn, bác sĩ... nếu có Quang Quý, hay Quan Phúc. Riêng đóng ở Mão Dậu thì tướng người d**g dãy vừa tầm, không mập không ốm, da hơi ngâm một chút. Còn ở Sửu Mùi thì tướng khá cao lớn.
2. Sát, Phá, Liêm, Tham: Tướng người cứng chắc, ngang tàng khí phách, gan gốc. Nếu thêm Địa Không, Địa Kiếp nữa thì họ chẳng nễ vì ai cả.
a. Thất Sát: tướng oai, tính cương, đôi khi nông nổi vì bốc đồng.Con gái có Thất Sát thường lưỡng quyền cao (gò má cao), mặt thường hơi xương.
1. Thất Sát Tí Ngọ: đắc địa da trắng, có tướng thư sinh, cạnh hàm hơi bén (mặt hơi xương lưỡng quyền hơi lộ), tướng oai, tính cương, đôi khi nông nổi vì bốc đồng. Mới nhìn hơi giống Thiên Lương, Nhật, Nguyệt, nhưng cứng chắc hơn.
2. Thất Sát Dần Thân: Tướng khá cao lớn, da hơi ngâm, không trắng, tướng bệ vệ, tính khá nóng gấp, đàn bà cũng khá dữ.
3. Vũ Sát Mão Dậu: Người không cao, xương hơi to, da hơi ngâm hoặc vàng không trắng, thường hay bị bệnh thần kinh hoặc tinh thần hơi yếu. Tính nóng gấp, gan gốc, lỳ lợm, cho dù là phái nữ cũng hơi dữ.
4. Liêm Sát Sửu Mùi: Tướng người d**g dảy khá cao, da thường trắng, mặt hơi dài, tính thẳng thắn mạnh dạn.
b. Phá Quân: đắc địa da trắng nhuận, nếu hãm trắng bạch, tướng người vừa tầm, má hơi hóp mặt hơi xương, cạnh hàm hơi bén, có nét đàn anh, nghiêm nghị.
- Liêm Phá Mão Dậu tương đối cao, mặt mày đầy đặn. Ở đây thì đương số thường nói năng hơi phóng đại một tí, và hay dùng những danh từ binh lửa, hay đao to búa lớn... hoặc giống y như đang ra trận. Ví dụ: "Hắn định tung một chưởng Tử Vi với tôi, liền bị tôi oanh tạc cho tắt bếp". Nghe người Liêm Phá nói chuyện thì thật là thú vị.
c. Liêm Trinh: tướng người hơi ốm nhưng cứng chắc, mặt hơi dài, trán có nhiều nếp nhăn, mắt hơi lội, lông mày rậm, tính khí thích tranh đấu, nóng nảy, can đảm, dũng mãnh, trung trực, liêm khiết, thẳng thắn. Nữ phái gặp Liêm Trinh thì thanh khiết, đoan chính, mà vẫn nóng.
d. Tham Lang: Mặt hơi tròn, tướng người hơi mập thịt nhưng cứng chắc và mạnh dạn, lông tóc nhiều, hoặc râu quai nón (gặp Hóa Lộc hay Riêu Y càng chắc), lòng tham dục và tình dục rất mạnh. Tham Lang luôn nhị hợp với Thiên Đồn, nên ăn vào Thiên Đồng thì hơi mập, nhưng tướng mềm, không nóng nảy và mạnh dạn như ăn vào Tham Lang. Người Tham Lang thường dễ ra mồ hôi và hơi nặng mùi.
3. Cự, Nhật: Thuộc loại công chức như Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương, nhưng ăn nói rất đanh thép.
a. Thái Dương: Nếu sáng sủa thì tướng người d**g dãy, có cặp mắt to hoặc đen láy mơ huyền rất đẹp hoặc làm nổi bậc nhất trong khuôn mặt, mặt mày sáng sủa, khôi ngô tuấn tú, thông minh đỉnh ngộ, tính tình hiền lành, nhưng hoạt bát hành động nhanh nhẹn, hơi tự hào; hãm địa thì mặt mày vẫn vậy nhưng da hơi ngâm, tính tình trầm tỉnh hành động chậm rãi, giọng nói hơi nhỏ nhẹ, không mạnh dạn, kém thông minh. Ở Thân Dậu, Tuất Hợi, Tí Sửu, gặp Tuần Triệt là hay nhất. Nếu hãm địa ở những nơi khác gặp Tuần, Triệt là người có trí nhớ rất dai, nhưng lại khi thông minh khi tối tăm. Thái Dương hợp với nam, nên dù hãm địa ở Tuất Hợi Tý vẫn là một người rất đẹp trai; nhưng ngược lại đối với phái nữ thì không thuộc loại đẹp gái.
b. Cự Môn: thường da trắng, có mũi lân, mặt hay mũi thường có mụn hay sần sùi, miệng thường hô, trừ khi gặp Tuần Triệt, hay thân đóng ở nơi khác. Tướng người thường mềm mại, nhưng ăn nói đanh thép nếu đắc địa, hãm địa thì thích thị phi, hay lý tài, biện luận. Cự Môn hãm gặp Tuần Triệt thì mặt mày trắng trẻo, và mũi hay mặt không mụn hay sần sùi.
4. Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương: Dáng người mềm mại (dù là mập) và tướng thường thanh thanh (tức là thuộc loại bạch diện thư sinh).
a. Thiên Cơ: Nét mặt hiền lành, đạo đức, trai thì thư sinh, gái thì nhu mì nết na, là người nhân hậu, chí thiện. Tướng người mềm mại, da dẻ khá trắng, gò má hơi lộ hoặc má hơi hóp.
- Cơ-Lương: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thường mặt chữ điên (vuông) da trắng, mũi cao, mặt đẹp, tướng cao, nói chung là trang mỹ tử. Tính tình thanh cao, hiền lương, ngay thẳng, đạo đức.
b. Thiên Lương: mặt thanh tú, da trắng, và có cái cằm vuông
c. Thái Âm: Nếu sáng sủa thì da trắng, mặt mày đẹp đẽ, thanh tú, thông minh sáng suốt, cặp mắt to đẹp, hoặc đen láy hay mơ huyền hoặc làm nổi bậc nhất trong khuôn mặt, phái nữ gặp thì rất hợp. Phái nam gặp thì đẹp trai nhưng tính giống như “mụ”, nhất là miệng khi nói chyện hay điệu hoặc sửa nét, mặc dù đây là tính tự nhiên; nói chung có vài tính giống nữ. Nếu hãm địa tính tình trầm tỉnh hành động chậm rãi, kém thông minh, da hơi ngâm; nếu đắc địa cực kỳ thông minh, tính tình khoáng đạt hành động nhanh nhẹn, hơi tự hào. Thái Âm hãm địa hay đắc địa gặp Tuần Triệt cách luận cũng giống như Thái Dương. Nữ phái gặp Thái Âm hãm gặp Tuần Triệt, hoặc đắc địa thì đó là một người đàn bà tuyệt vời, vì nết na thuỳ mị, đoan trang, công dung ngôn hạnh đủ đầy. Thái Âm từ Mão đến Tỵ, nếu không có Tuần Triệt thì giọng nói yếu ớt vì thiếu khí lực, da hơi xanh, sức khỏe yếu kém, người thường mảnh khảnh ốm yếu.
d. Thiên Đồng: tướng thường thấp và hơi mập (nếu mập thì nhiều phúc, thường giàu có, khá giả), đặc biệt đùi và mông to (xương chậu rất to, thường trên thon nhỏ dưới bự từ mông và đùi, gặp trường hợp này đi giống y như con vịt), nếu hãm địa da đen. Mặt mày và tính tình phúc hậu, nhưng tính hay thay đổi bất thường (vì tính như con nít, chữ Đồng) như trẻ con, ưa động. Mặt và tính trẻ hơn so với tuổi. Nếu ở Mão Dậu gặp Tuần Triệt người lại mình dây, tướng d**g dãy, nhưng xương chậu mông và đùi vẫn to hơn những nơi khác. Tóm lại gặp người có Thiên Đồng chỉ cần chú ý mông và đùi là biết ngay.
- Cự-Đồng: ở Sửu Mùi, tướng người hơi thấp và hay phì nộn, mông to, da đen, mặt hay mũi thường mụn, miệng hô. Nếu gặp Tuần Triệt thì da trắng, người vừa tầm, nếu là gái thì lại đẹp, hô giả, quý tướng.
Theo kinh nghiệm cho thấy: không phải lúc nào tướng người cũng giống như sao thủ Mệnh, nhưng nếu giống thì mới được hưởng những cách tốt, hoặc mới bị những cách xấu của sao ấy, (tuy nhiên tính chất của Sao thủ Mệnh thì vẫn không thay đổi mấy). Trường hợp tướng người không giống Sao thủ Mệnh, thì phải xem giống Sao nào trong tam hợp, nhị hợp, hay xung chiếu, rồi mới tính cách tốt xấu của Sao đó. Hơn nữa, trong thực tế thì tướng người cao thấp, da dẻ đen trắng, còn tuỳ thuộc vào gene duy truyền của cha mẹ, và sự phát triển ăn uống lúc nhỏ. Đây chỉ là những nét đại cương, không thể nào hoàn toàn chính xác bất di bất dịch được! Đặc biệt khi gặp Tuần Triệt ảnh hưởng lên cung, tướng mạo sẽ khác đi một chút.

Address

Hanoi
10000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luận Giải Tử Vi Khoa Học posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram