04/01/2026
Quốc Y Đại Sư Trị Đàm Ẩm Như Thế Nào
Các y gia cổ đại đã đề xuất những kiến giải học thuật như "Bách bệnh đa do đàm tác túy" (trăm bệnh phần nhiều do đàm gây họa), "Bách bệnh kiêm đàm" (trăm bệnh đều kèm đàm) và "Đàm chi vi bệnh, biến huyễn bách đoan" (đàm gây bệnh, biến hóa trăm đường).
Lý Thời Trân trong《Tần Hồ Mạch Học》chỉ ra: "Đàm sinh bách bệnh, thực sinh tai" (Đàm sinh trăm bệnh, thực tích sinh tai họa). Một câu nói trúng đích, khái quát cao độ tính phổ biến của đàm bệnh. Nhưng đàm ẩm nên trị như thế nào? Lại là một nan đề không nhỏ. Nay hãy cùng Quốc y đại sư Phương Hòa Khiêm học kinh nghiệm, xem Phương lão có cao chiêu gì!
1. Nhận thức lâm sàng về đàm ẩm
Đàm ẩm trên lâm sàng chia làm bốn loại: Đàm ẩm, Huyền ẩm, Dật ẩm, Chi ẩm.
① Đàm ẩm (痰饮): "Kỳ nhân tố thịnh kim sấu, thủy tẩu trường gian, lịch lịch hữu thanh, vị chi đàm ẩm" (Người ấy xưa béo nay gầy, nước chảy trong ruột, lịch lịch có tiếng, gọi là đàm ẩm). Từ góc độ nội khoa mà nói, đây giống bệnh đường tiêu hóa. Kết hợp phương tiện kiểm tra hiện đại, "tố thịnh kim sấu" (xưa béo nay gầy) là do bệnh đường ruột hấp thu kém gây ra, đặc biệt cần chú ý lao ruột.
② Huyền ẩm (悬饮): "Ẩm hậu thủy lưu tại hiếp hạ, khái thóa dẫn thống, vị chi huyền ẩm" (Sau khi uống, nước chảy dưới sườn, ho khạc kéo theo đau, gọi là huyền ẩm). Như các bệnh xơ gan, cổ trướng, tăng áp tĩnh mạch cửa, thường có biểu hiện "thủy lưu tại hiếp hạ" (nước đọng dưới sườn). Thập táo thang, Cam toại bán hạ thang của Trọng Cảnh là những tễ trục thủy tuấn mãnh kịch liệt, có thể gây mất nước, khi sử dụng cần chú ý. Cận đại có người dùng "Chu xa hoàn" trị xơ gan cổ trướng, nhưng dễ gây hôn mê gan, suy chức năng gan, nên không được ứng dụng rộng rãi.
Trị chứng xơ gan cổ trướng còn thường dùng "Ngũ bì ẩm" gia giảm (Trần bì, Đông qua bì, Đại phúc bì, Xích tiểu đậu bì và Sinh khương bì). Ngoài ra có thể gia Thủy hồng hoa tử 15-20g, tẩu thủy nhập huyết (đi vào thủy và huyết), không có tác dụng phụ độc hại.
③ Dật ẩm (溢饮): "Ẩm thủy lưu hành, quy ư tứ chi, đương hãn nhi bất hãn xuất, thân thể đông trọng, vị chi dật ẩm" (Nước uống vào lưu hành, dồn về tứ chi, đáng ra mồ hôi mà không ra mồ hôi, thân thể đau nặng, gọi là dật ẩm). "Bệnh dật ẩm giả, đương phát kỳ hãn, Đại thanh long thang chủ chi, Tiểu thanh long thang diệc chủ chi" (Người bệnh dật ẩm, nên phát hãn, Đại thanh long thang chủ trị, Tiểu thanh long thang cũng chủ trị). Tiểu thanh long thang ngày nay nhìn lại thường dùng trị bệnh đường hô hấp, nhưng bệnh hô hấp cũng có thể gây đau nhức thân thể. Đại thanh long thang nên được ứng dụng khi phong thấp, loại phong thấp cấp tính phát tác, "đương hãn xuất nhi bất hãn xuất, thân thể đông trọng" (đáng ra mồ hôi mà không ra, thân thể đau nặng).
④ Chi ẩm (支饮): "Khái nghịch ỷ tức, khí đoản bất đắc ngọa, kỳ hình như thũng, vị chi chi ẩm" (Ho nghịch phải dựa mà thở, khí đoản không nằm được, hình thể như phù thũng, gọi là chi ẩm). Phần nhiều chỉ bệnh đường hô hấp.
2. Kinh nghiệm biện trị đàm ẩm
Trọng Cảnh nói "Bệnh đàm ẩm giả, đương dĩ ôn dược hòa chi" (Người bệnh đàm ẩm, nên dùng thuốc ôn để hòa), là bởi vì vô thấp bất sinh đàm (không có thấp thì không sinh đàm), Tỳ vi sinh đàm chi nguyên (Tỳ là nguồn sinh đàm), Tỳ chủ trung tiêu, thấp là âm tà. Cho nên "bệnh đàm ẩm giả, đương dĩ ôn dược hòa chi". Đây là quy luật chung.
Các phương trị đàm ẩm của Trọng Cảnh tiên sư có: Linh quế truật cam thang, Kỷ tiêu lịch hoàng hoàn, Đại Tiểu thanh long thang, Ngũ linh tán. Đối với những bệnh thận mạn tính có đình đàm lưu ẩm, cuối cùng đều dùng thuốc ôn dương bổ khí hành thủy để điều trị. Khi điều trị thủy khí đình lưu cấp tính phát tác, ẩm tà đình trệ, cũng không nên bỏ qua việc ứng dụng ôn nhiệt học thuyết.
Ví dụ: Bệnh nhân họ Cao ở Ủy ban thể dục Triều Dương, vì suy thận cấp tính, chứng vô niệu mà nhập viện. Khoa nội mời tôi hội chẩn, tôi cho rằng bệnh này phát sinh vào mùa hè, thử nhiệt thương khí, khí bất hóa thủy, nên đã dùng các phương như Trư linh thang, Ích nguyên tán, thu được hiệu quả rất tốt. Dật ẩm (thận suy) của bệnh nhân này không thể dùng "ôn dược hòa chi", mà cần dùng thuốc thanh nhiệt khử thủy mới có thể thu được hiệu quả.《Ôn Bệnh Điều Biện》cũng bàn về trị đàm ẩm, có ghi chép các phương như Lục nhất tán, Ích nguyên tán.
Diệp Thiên Sĩ, Ngô Cúc Thông cho rằng: Tam tiêu tấu lý, là đạo lộ của thủy cốc, là thông lộ của thủy hỏa. Sau khi thử nhiệt thương nguyên, thương âm, cũng có thể dẫn đến đàm ẩm. Ngoài ra, Trọng Cảnh trong thiên Dương Minh của《Thương Hàn Luận》nói: "Nhược mạch phù phát nhiệt, khát dục ẩm thủy, tiểu tiện bất lợi giả, Trư linh thang chủ chi" (Nếu mạch phù phát sốt, khát muốn uống nước, tiểu tiện không thông, Trư linh thang chủ trị).
Trong Trư linh thang có A giao dưỡng âm, chứng này chính là do nhiệt thương khí cơ mà gây ra ẩm chứng. Do đó có thể thấy đối với đàm ẩm chứng, trị tắc "ôn dược hòa chi" cần phải thẩm chứng cầu nhân (xét kỹ chứng trạng tìm nguyên nhân), không nên thiên thiên nhất luật (máy móc rập khuôn).
Trong《Kim Quỹ Yếu Lược》có bệnh án so sánh Linh quế truật cam thang với Tiểu thanh long thang, là điều văn duy nhất Trọng Cảnh lấy ví dụ để thuyết minh, bàn về việc ứng dụng Ma hoàng. Điều văn này rất có gợi ý cho tôi trong việc dùng hay không dùng Ma hoàng khi trị khí quản viêm. Phục linh, Quế chi, Bán hạ, Ngũ vị tử tùy theo dương khí của bệnh nhân hư hay không mà chọn dùng. Hàn đàm lưu ẩm, bệnh nhân huyết hư, Ma hoàng cần thận dụng. "Thanh long thang hạ dĩ, đa thóa khẩu táo, thốn mạch trầm, xích mạch hoãn, thủ túc quyết nghịch, khí tùng thiếu phúc thượng xung hung yết, thủ túc tý, kỳ diện hấp nhiệt như túy trạng, nhân phục hạ lưu âm cổ, tiểu tiện nan, thời phục mạo giả, dữ Phục linh Quế chi Ngũ vị Cam thảo thang, trị kỳ khí thượng xung" (Sau khi uống Thanh long thang, nhiều đờm miệng khô, thốn mạch trầm, xích mạch hoãn, tay chân quyết nghịch, khí từ thiếu phúc xông lên ngực họng, tay chân tê bì, mặt bừng nóng như say, rồi lại chảy xuống đùi trong, tiểu tiện khó, thỉnh thoảng choáng váng, cho uống Phục linh Quế chi Ngũ vị Cam thảo thang, trị chứng khí thượng xung).
Điều văn này nói rõ Ma hoàng có mồ hôi hay không mồ hôi đều có thể dùng, nhưng ra mồ hôi mà suyễn là thực chứng thì có thể dùng Ma hoàng, nếu huyết hư mà suyễn thì không thể dùng Ma hoàng, nên không thể dùng Tiểu thanh long thang. Cấm kỵ của Ma hoàng: yết lâm sang nục huyết hãn hàn (họng đau, lâm chứng, sang thương, chảy máu cam, huyết chứng, mồ hôi nhiều, hư hàn). Đối với bệnh nhân suyễn tức, Ma hoàng dùng sống hay chích, liều lượng lớn hay nhỏ, đều cần cân nhắc kỹ lưỡng.
Về đàm chứng, thường dùng nhất là Nhị trần thang, ứng dụng lâm sàng rất rộng rãi. Thêm Chỉ thực, Trúc nhự gọi là Ôn đởm thang. Nhị trần thang hợp với Tiểu sài hồ thang gọi là Sài trần thang. Nhị trần thang thêm Đương quy, Thục địa gọi là Kim thủy lục quân tiễn. Nhị trần thang thêm Hoắc hương, Bội lan gọi là Gia giảm chính khí tán.
Cá nhân tôi cho rằng trong việc điều trị đàm hạch tẩu chú (u đàm di chuyển), các phương Dương hòa thang, Tiểu kim đan, Tây hoàng hoàn trong《Ngoại Khoa Chứng Trị Toàn Sinh Tập》đều có ý nghĩa sâu xa đối với việc điều trị loa lịch (tràng nhạc), kết hạch (lao), tăng sinh tuyến vú, cốt tủy viêm v.v., nhưng trong điều trị kháng ung (chống ung thư) thì chưa có hiệu quả rõ rệt.
Ngoài ra, hung thủy (tràn dịch màng phổi) không thể tính vào huyền ẩm. Từ góc độ phương tễ học mà nói có Cổ chứng hoàn, trong phương có Cam toại, Bán hạ có tác dụng tả hạ. Việc ứng dụng trọng dược tuấn mãnh (thuốc mạnh liều nặng) ở trường hợp nào rất quan trọng. Bản thân tôi ở phòng khám đã từng dùng Tiểu thừa khí thang, Đại sài hồ thang điều trị tụy viêm. Trọng dược thích hợp ứng dụng trong bệnh phòng (khoa nội trú), vì có thể theo dõi sát hiệu quả.
《Thông Tục Thương Hàn Luận》về tư lộ dùng thuốc trị đàm chứng khá phong phú, thuộc phái thời phương.《Thương Hàn Chỉ Chưởng》cũng có thể tham khảo.