24/09/2021
Hội chứng rung lắc ở trẻ em là gì?
Hội chứng rung lắc ở trẻ em xảy ra do thói quen vô ý và thiếu hiểu biết của người lớn khi cưng chiều trẻ bằng các hành động như tung hứng, bồng xốc trẻ lên cao để chơi trò máy bay; khi lắc võng/ nôi quá mạnh để dỗ cho trẻ ngủ.
Ngoài ra, đôi khi do quá căng thẳng, mệt mỏi vì trẻ không ngừng khóc, cha mẹ hoặc người trông trẻ rung lắc trẻ như một hình thức giải tỏa. Đây được đánh giá là một hình thức bạo hành ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tương lai của trẻ.
Ở độ tuổi này, khối lượng đầu trẻ chiếm tỉ trọng lớn, khoảng 1⁄4 trọng lượng cơ thể, các cơ cổ còn yếu chưa giữ được sức nặng của đầu. Não bộ trẻ chưa phát triển, xương sọ mềm, màng não mỏng, có khoảng trống giữa não và xương sọ nên khi trẻ bị rung lắc, nhất là khi bị tung hứng, quay tròn mạnh, khối não sẽ di chuyển theo quán tính và va đập vào xương sọ gây tổn thương não nặng nề. Lực va chạm này sẽ đột ngột tăng lên nếu đầu trẻ bị va chạm vào bề mặt cứng.
Hội chứng rung lắc ở trẻ em được so sánh tương tự như người lớn bị tai nạn chấn thương sọ não do tai nạn xe.
Các triệu chứng của hội chứng rung lắc ở trẻ:
Hội chứng rung lắc ở trẻ có các biểu hiện rất đa dạng, thường khó phát hiện và dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác. Những triệu chứng cơ năng sau đây của trẻ có thể xuất hiện ngay sau khi bị rung lắc và đạt mức độ đỉnh điểm sau 4 đến 6 giờ:
Trẻ lờ đờ, vật vã, bứt rứt, quấy khóc, đờ đẫn, lơ mơ, ngủ mê
Trẻ bị kích thích, chán ăn, buồn nôn
Hôn mê, co giật, đồng tử giãn và không đáp ứng với ánh sáng
Nhịp thở nông, chậm bất thường, không đều
Trẻ nằm ở tư thế đầu ngửa ra sau, lưng cong hình vòng cung
Ngừng tim, tử vong
Các triệu chứng thực thể của hội chứng rung lắc bao gồm:
Vết rách da, đụng dập, chấn thương
Thóp phồng, tổn thương ngực, bụng, bầm tím mặt, da đầu, cánh tay, bụng hoặc lưng
Huyết áp thấp bất thường, phù nề phần mềm chỉ điểm cho vỡ xương sọ
Xuất huyết võng mạc, xuất huyết não kín
Khi trẻ có các triệu chứng trên, cha mẹ phải nhanh chóng gọi xe cấp cứu để đưa trẻ đến bệnh viện, không được bế xốc trẻ, không cố lắc để làm trẻ tỉnh lại. Nếu trẻ ngừng thở, làm hô hấp nhân tạo cho trẻ. Nếu trẻ có chấn thương ở cổ, cố gắng tránh xoay và cố định cổ cho trẻ. Nếu trẻ nôn và không có chấn thương cổ thì xoay nhẹ đầu trẻ về một bên để trẻ tránh sặc khi nôn và tránh ngừng thở.
Hội chứng rung lắc ở trẻ hoàn toàn có thể phòng ngừa được. Để tránh hội chứng rung lắc, các bậc cha mẹ phải hết sức cẩn trọng, luôn ghi nhớ rằng không bao giờ được rung lắc, nhồi xốc, tung cao hay ném trẻ. Khi bế nên giữ cổ trẻ ở tư thế cố định. Khi trẻ khóc, nên tìm nguyên nhân, xem trẻ có bị đói, bị sốt, tiêu tiểu hay côn trùng cắn không,...Khóc là một hoạt động sinh lý bình thường của trẻ trong những năm tháng đầu đời, trẻ khóc để biểu đạt một mong muốn nào đó cần người lớn hỗ trợ, đôi khi trẻ khóc vì xung quanh có nhiều thứ đang xảy ra, quá ồn ào trẻ cần yên tĩnh hoặc trẻ khóc vì buồn ngủ.
Khi trẻ khóc, các bậc cha mẹ và người chăm sóc cần bình tĩnh, không nên nóng giận, không đánh trẻ, không được ru ngủ trẻ bằng cách lắc võng mạnh. Sau khi kiểm tra tất cả các nguyên nhân đều ổn mà trẻ vẫn khóc, có thể đặt trẻ ở giường/ cũi an toàn để trẻ khóc một mình hoặc gọi sự trợ giúp của người thân. Có thể cho trẻ thăm khám ở các bác sĩ chuyên khoa nhi nếu cha mẹ nghi ngờ một bệnh lý nào đó khiến trẻ khóc.