Máy Thở Và Phụ Kiện

Máy Thở Và Phụ Kiện Cung cấp Máy thở và phụ kiện thở,Máy tạo Oxy,Máy hút đờm,Màn hình theo dõi...........

Cung cấp các dòng máy thở xâm nhập và không xâm nhập,máy tạo oxy,máy hút dịch..... và các phụ kiện máy thở

𝙉𝙜𝒖̛𝙣𝙜 𝙩𝙝𝒐̛̉ 𝙠𝙝𝙞 𝙣𝙜𝒖̉ 𝙙𝙤 𝙩𝒂̆́𝙘 𝙣𝙜𝙝𝒆̃𝙣 (𝙊𝙎𝘼) - 𝘽𝒆̣̂𝙣𝙝 𝙡𝒚́ 𝙥𝙝𝒐̂̉ 𝙗𝙞𝒆̂́𝙣 𝙣𝙝𝒂̂́𝙩Chẩn đoán ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OS...
06/03/2026

𝙉𝙜𝒖̛𝙣𝙜 𝙩𝙝𝒐̛̉ 𝙠𝙝𝙞 𝙣𝙜𝒖̉ 𝙙𝙤 𝙩𝒂̆́𝙘 𝙣𝙜𝙝𝒆̃𝙣 (𝙊𝙎𝘼) - 𝘽𝒆̣̂𝙣𝙝 𝙡𝒚́ 𝙥𝙝𝒐̂̉ 𝙗𝙞𝒆̂́𝙣 𝙣𝙝𝒂̂́𝙩

Chẩn đoán ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA)
Nghi ngờ qua tiền sử và khám thực thể

Xác nhận bằng các nghiên cứu về giấc ngủ

Chẩn đoán nghi ngờ ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ, triệu chứng hoặc cả hai.

Ngoài bệnh nhân, bạn cùng giường, bạn cùng phòng và/hoặc bạn cùng nhà đều là những nguồn cung cấp thông tin đánh giá nguy cơ.

Những bệnh nhân có nguy cơ có thể cần đánh giá chi tiết hơn bao gồm những người

-Từ khoảng 65 tuổi trở lên

-Báo cáo mệt mỏi ban ngày, buồn ngủ, hoặc khó đi vào giấc ngủ

-Bị thừa cân hoặc béo phì

Có tình trạng tăng huyết áp không được kiểm soát tốt (có thể do OSA gây ra hoặc làm trầm trọng thêm [1]), rung nhĩ hoặc các loạn nhịp khác, suy tim (có thể do OSA gây ra hoặc cùng tồn tại với OSA [2]), đột quỵ hoặc tiểu đường

Công cụ tính toán lâm sàng
Thang điểm giấc ngủ Epworth (ESS)

Công cụ tính toán lâm sàng
Những bệnh nhân có triệu chứng, bảng câu hỏi sàng lọc và/hoặc các yếu tố nguy cơ cho thấy khả năng bị ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn cao hơn thường cần phải được theo dõi giấc ngủ để xác định chỉ số ngưng thở-giảm thở (AHI) hoặc một số chỉ số thay thế như Chỉ số rối loạn hô hấp (RDI), cần để xác nhận hội chứng và mức độ nặng. Những bệnh nhân chỉ ngáy mà không có triệu chứng nào khác hoặc nguy cơ tim mạch không cần đánh giá sâu rộng về OSA.

Chỉ số ngưng thở-giảm thở (AHI) biểu thị tổng số cơn ngưng thở và giảm thở xảy ra trong khi ngủ chia cho số giờ ngủ; chỉ số này được thể hiện bằng số cơn xảy ra mỗi giờ. Càng nhiều sự kiện xảy ra, ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn càng nghiêm trọng và khả năng xảy ra tác dụng bất lợi càng cao. Các giá trị AHI có thể được tính cho các giai đoạn ngủ và tư thế cơ thể khác nhau (nằm nghiêng hoặc nằm ngửa).

Tiêu chuẩn chẩn đoán OSA bao gồm các triệu chứng ban ngày, triệu chứng ban đêm và kết quả theo dõi giấc ngủ cho thấy AHI ≥ 5/giờ ở những bệnh nhân có triệu chứng hoặc ≥ 15/giờ khi không có triệu chứng (7). Các triệu chứng phải bao gồm ≥ 1 trong những điều sau:

*Không khoan khoái khi ngủ

*Buồn ngủ ban ngày*, mệt mỏi

*Các đợt ngủ ngoài ý muốn

*Khó đi vào giấc ngủ

*Thức giấc với cảm giác nín thở, thở hổn hển, hoặc nghẹt thở

*Báo cáo của bạn cùng giường về tiếng ngáy to, gián đoạn hơi thở hoặc cả hai

*Đang có tình trạng buồn ngủ (nghĩa là xâm nhập vào các hoạt động hàng ngày hoặc tạo ra sự cố hoặc lỗi) đáng kể đặc biệt.

Chẩn đoán phân biệt bao gồm nhiều tình trạng và yếu tố khác làm giảm số lượng hoặc chất lượng giấc ngủ hoặc gây buồn ngủ ban ngày hoặc buồn ngủ. Bao gồm

Các rối loạn giấc ngủ khác: Vệ sinh giấc ngủ kém, tổng thời gian ngủ không đủ, chứng ngủ rũ và các rối loạn buồn ngủ quá mức khác, hội chứng chân không ngưng nghỉ, rối loạn vận động chân tay theo chu kỳ

Thuốc và các chất kích thích khác: Rượu, thuốc an thần và các loại thuốc khác (ví dụ: thuốc phiện)

Các bệnh lý: Bệnh tim mạch, hô hấp và chuyển hóa (ví dụ, suy giáp)

Rối loạn tâm trạng như trầm cảm (thường đi kèm và góp phần gây ra tình trạng rối loạn giấc ngủ)

Bệnh sử và khám thực thể (bao gồm cả tiền sử giấc ngủ) nên tìm kiếm bằng chứng về những tình trạng này, bao gồm xác định các đặc điểm lâm sàng của suy giáp và bệnh to đầu chi.

Việc đo hóc môn kích thích tuyến giáp có thể hữu ích ở những bệnh nhân buồn ngủ được nghi ngờ bị suy giáp trên lâm sàng nhưng không nên thực hiện thường quy vì xét nghiệm này chưa được chứng minh là có ích trong chẩn đoán OSA.

Không có xét nghiệm bổ sung nào khác (ví dụ: chẩn đoán hình ảnh đường hô hấp trên, các phim chụp X-quang mặt) có đủ độ đặc hiệu để được khuyến nghị theo thường quy.

Nghiên cứu về giấc ngủ
Các nghiên cứu về giấc ngủ bao gồm

Đa ký giấc ngủ truyền thống được tiến hành trong phòng thí nghiệm về giấc ngủ

Các công cụ chẩn đoán di động mà bệnh nhân có thể sử dụng tại nhà trên giường của họ

Đa ký giấc ngủ ghi và giúp phân loại các giai đoạn của giấc ngủ và sự xuất hiện và thời gian của giai đoạn ngừng thở và giảm thở. Đa ký giấc ngủ lý tưởng để xác nhận chẩn đoán OSA và định lượng mức độ nghiêm trọng của OSA (8). Tuy nhiên, nó đòi hỏi phải ở lại qua đêm trong phòng thí nghiệm về giấc ngủ và do đó rất phức tạp và tốn kém. Đa ký giấc ngủ thường bao gồm

Đo liên tục cấu trúc giấc ngủ bằng điện não đồ (điện não đồ)

Điện cơ cằm để phát hiện giảm trương lực

Đo điện nhãn đồ để đánh giá sự xuất hiện của chuyển động mắt nhanh

Cảm biến luồng không khí ở mũi và ở miệng để phát hiện ngưng thở và giảm thở

Cảm biến ngực và/hoặc cảm biến bụng để phát hiện gắng sức hô hấp

Độ bão hòa oxy bằng phép đo độ bão hòa oxy trong máu

Theo dõi điện tâm đồ để phát hiện loạn nhịp tim liên quan đến các cơn ngưng thở

Bệnh nhân cũng được quan sát bằng video.

Các biến số khác được đánh giá bao gồm hoạt động của cơ chân tay (để đánh giá các nguyên nhân không liên quan đến hô hấp gây ra tình trạng thức giấc khi ngủ, chẳng hạn như hội chứng chân không ngưng nghỉ và rối loạn vận động chân tay theo chu kỳ) và tư thế cơ thể, vì ngưng thở có thể xảy ra chủ yếu ở tư thế nằm ngửa.

Ngoài ra, bệnh nhân có thể có nghiên cứu giấc ngủ "chia đôi" trong đó sau khi chẩn đoán OSA bằng phương pháp đo đa ký giấc ngủ, bệnh nhân sẽ được dùng CPAP và điều chỉnh mức áp suất cho đến khi có hiệu quả, cho phép xác định liệu pháp thích hợp trong cùng thời gian theo dõi qua đêm. Nếu cần, cũng có thể thực hiện hiệu chỉnh CPAP cả đêm để đánh giá hiệu quả điều trị CPAP sau khi chẩn đoán.

Kiểm tra giấc ngủ tại nhà bằng các công cụ chẩn đoán di động sử dụng một tập hợp con hạn chế các biện pháp đo đạc đa ký giấc ngủ, thường chỉ là nhịp tim, đo độ bão hòa oxy trong máu, gắng sức hô hấp, tư thế và luồng không khí qua mũi để phát hiện chứng ngưng thở và ước tính mức độ nặng của nó. Vai trò của việc kiểm tra giấc ngủ tại nhà đang được mở rộng (9) vì sự tiện lợi, chi phí thấp và khả năng cung cấp ước tính khá chính xác về các rối loạn hô hấp trong khi ngủ.

Tuy nhiên, các công cụ di động có một số hạn chế. Các công cụ này không thực sự phát hiện sự hiện diện của giấc ngủ và thay vào đó phụ thuộc vào bệnh nhân tự báo cáo trong khi đang ngủ, điều này có thể không chính xác; nếu bệnh nhân không ngủ trong một phần của nghiên cứu và họ không báo cáo điều này, thì tình trạng rối loạn nhịp thở khi ngủ sẽ bị đánh giá thấp. Do đó, kết quả kiểm tra giấc ngủ tại nhà âm tính ở bệnh nhân có triệu chứng nên được theo dõi bằng phương pháp đo đa ký giấc ngủ. Ngoài ra, các rối loạn giấc ngủ cùng tồn tại (ví dụ, hội chứng chân không ngưng nghỉ, co giật, rối loạn hành vi REM, nhầm lẫn thức tỉnh) không được phát hiện. Theo dõi đa ký giấc ngủ vẫn có thể cần thiết để mô tả các rối loạn này cũng như cung cấp chính xác các giá trị AHI và RDI trong các giai đoạn khác nhau của giấc ngủ và với những lần thay đổi về tư thế, đặc biệt là khi phẫu thuật hoặc dùng liệu pháp khác ngoài áp lực đường thở dương đang được cân nhắc.

Các công cụ di động thường được sử dụng kết hợp với bảng câu hỏi (ví dụ: STOP-BANG, Bảng câu hỏi Berlin). Nếu kết quả bảng câu hỏi cho thấy xác suất mắc bệnh trước kiểm tra cao hơn, thì độ nhạy và độ đặc hiệu của các công cụ cầm tay sẽ cao hơn.

Phân loại mức độ nặng
AHI là tổng số cơn ngưng thở và giảm thở xảy ra trong khi ngủ chia cho số giờ ngủ. Đây là biện pháp thường được sử dụng để đánh giá rối loạn hô hấp khi ngủ và được dùng để phân loại mức độ nặng của OSA. Ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn được phân loại mức độ là:

Nhẹ: AHI ≥ 5 và < 15/giờ

Vừa: AHI ≥ 15 và ≤ 30/giờ

Nặng: AHI > 30/giờ

Chỉ số rối loạn hô hấp (RDI) là một phép đo liên quan bao gồm số lần thức tỉnh liên quan đến gắng sức hô hấp (được gọi là các lần thức tỉnh liên quan đến gắng sức hô hấp hoặc RERA) cộng với số cơn ngưng thở và cơn giảm thở mỗi giờ ngủ.

Chỉ số thức tỉnh, là số lượng các lần thức tỉnh mỗi giờ ngủ, có thể được tính toán nếu sử dụng điện não đồ để theo dõi. Chỉ số tỉnh thức có mối tương quan lỏng lẻo với AHI và RDI; khoảng 20% số cơn ngưng thở và giảm độ bão hòa oxy không kèm theo kích thích hoặc có các nguyên nhân kích thích khác.

Tuy nhiên, AHI, chỉ số tỉnh thức và RDI chỉ liên quan ở mức độ vừa phải đến các triệu chứng của bệnh nhân. Một số bệnh nhân có AHI cao hoặc cực cao (ví dụ: > 60/giờ) có ít hoặc không có triệu chứng. Các số liệu bổ sung và sự kết hợp của các số liệu có thể hữu ích trong chẩn đoán (10). Đây là sự kết hợp giữa dữ liệu lâm sàng và điện não đồ (không chỉ AHI) có liên quan đến kết quả cũng như nguy cơ tim mạch và tử vong. Ví dụ: buồn ngủ bất kể AHI có liên quan đến bệnh tim mạch nghiêm trọng hay không.

Tài liệu tham khảo chẩn đoán
1. Walia HK, Li H, Rueschman M, et al: Association of severe obstructive sleep apnea and elevated blood pressure despite antihypertensive medication use. J Clin Sleep Med 10(8):835–843, 2014. doi:10.5664/jcsm.39461.

2. Gupta A, Quan SF, Oldenburg O, et al: Sleep-disordered breathing in hospitalized patients with congestive heart failure: a concise review and proposed algorithm. Heart Fail Rev 23(5):701-709, 2018. doi:10.1007/s10741-018-9715-y

3. Chung F, Abdullah HR, Liao P: STOP-Bang Questionnaire: A Practical Approach to Screen for Obstructive Sleep Apnea. Chest 149(3):631–638, 2016. doi:10.1378/chest.15-0903

4. Netzer NC, Stoohs RA, Netzer CM, Clark K, Strohl KP: Using the Berlin Questionnaire to identify patients at risk for the sleep apnea syndrome. Ann Intern Med 131(7):485–491, 1999. doi:10.7326/0003-4819-131-7-199910050-00002

5. Johns MW. A new method for measuring daytime sleepiness: the Epworth sleepiness scale. Sleep 14(6):540–545, 1991. doi:10.1093/sleep/14.6.540

6. Gamaldo C, Buenaver L, Chernyshev O, et al: Evaluation of clinical tools to screen and assess for obstructive sleep apnea. J Clin Sleep Med 14(7):1239-1244, 2018. doi:10.5664/jcsm.7232

7. The American Association of Sleep Medicine: The AASM International Classification of Sleep Disorders – Third Edition, Text Revision (ICSD-3-TR). AASM Darien, IL. 2023.

8. Kapur VK, Auckley DH, Chowdhuri S, et al: Clinical Practice Guideline for Diagnostic Testing for Adult Obstructive Sleep Apnea: An American Academy of Sleep Medicine Clinical Practice Guideline. J Clin Sleep Med 13(3):479–504, 2017. doi:10.5664/jcsm.6506

9. Malhotra A, Ayappa I, Ayas N, et al: Metrics of sleep apnea severity: beyond the apnea-hypopnea index. Sleep 44(7):zsab030, 2021. doi: 10.1093/sleep/zsab030

10. Collop NA, Anderson WM, Boehlecke B, et al: Clinical guidelines for the use of unattended portable monitors in the diagnosis of obstructive sleep apnea in adult patients. J Clin Sleep Med 3(7):737-47, 2007

Máy Trợ Thở Yuwell YH 830 – Giải Pháp Hiện Đại Cho Liệu Pháp Hô HấpYuwell YH 830 là dòng máy trợ thở BiPAP tiên tiến nhấ...
04/02/2026

Máy Trợ Thở Yuwell YH 830 – Giải Pháp Hiện Đại Cho Liệu Pháp Hô Hấp
Yuwell YH 830 là dòng máy trợ thở BiPAP tiên tiến nhất của Yuwell, ra mắt vào đầu năm 2023 và nhanh chóng được phân phối rộng rãi trên toàn cầu. Đây là thiết bị chuyên dụng dành cho bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), viêm phổi nặng, xơ phổi, đặc biệt là những trường hợp có tồn dư CO₂ cao trong phổi.

Tính Năng Nổi Bật
1. Hệ thống 5 chế độ thở linh hoạt
Máy trợ thở Yuwell YH 830 được trang bị 5 mode thở phù hợp với từng tình trạng bệnh nhân:
✅ CPAP (Continuous Positive Airway Pressure) – Duy trì áp lực dương liên tục.
✅ S (Spontaneous Mode) – Hỗ trợ nhịp thở tự nhiên.
✅ T (Timed Mode) – Kiểm soát tần số thở theo cài đặt.
✅ ST (Spontaneous Timed Mode) – Kết hợp hỗ trợ nhịp tự nhiên và thiết lập nhịp tối thiểu.
✅ VGPS (Volume-Guaranteed Pressure Support) – Điều chỉnh áp lực theo thể tích khí lưu thông.

2. Công nghệ tiên tiến hỗ trợ hô hấp
🔹 Hệ thống làm ẩm thông minh: Tự động điều chỉnh độ ẩm phù hợp với môi trường, giảm khô họng và khó chịu khi sử dụng.
🔹 Cảnh báo rò rỉ khí: Cung cấp tín hiệu âm thanh khi phát hiện sự rò rỉ khí, đảm bảo liệu pháp thở ổn định.
🔹 FPS (Flexible Pressure Support) – Hỗ trợ áp lực linh hoạt: Giúp bệnh nhân thở dễ dàng hơn với 4 cấp độ điều chỉnh, giảm lực cản khi thở ra và tăng sự thoải mái khi hít vào.
🔹 Màn hình LED trực quan: Hiển thị ngày, giờ và thông tin quan trọng một cách rõ ràng, dễ theo dõi.
🔹 Tích hợp đồng hồ báo thức & nhắc nhở thay bộ lọc: Đảm bảo thiết bị luôn được vận hành trong điều kiện tối ưu.
🔹 Khôi phục cài đặt gốc: Cho phép đặt lại máy về chế độ mặc định ban đầu.

Tối Ưu Hóa Hiệu Quả Trị Liệu
Máy trợ thở Yuwell YH 830 không chỉ hỗ trợ điều trị các bệnh lý hô hấp nghiêm trọng mà còn mang đến trải nghiệm êm ái, thoải mái, giúp bệnh nhân duy trì liệu pháp thở một cách hiệu quả và dễ dàng. Đây là lựa chọn lý tưởng cho những ai cần một thiết bị hiện đại, thông minh và đáng tin cậy trong việc chăm sóc sức khỏe hô hấp.

Thông số kỹ thuật

Hoạt động CPAP, S, ST, T, VGPS
Áp lực đường thở dương hít vào tối đa (IPAP) (S, T, ST, VGPS)
4-30 cm H2O
Áp lực đường thở dương hết hạn (EPAP) (S, T, ST, VGPS)
4-30 cm H2O
Cài đặt PAP (CPAP) 4-20 cm H2O
Nhịp thở mỗi phút (BPM)
5-50 BPM Có thể điều chỉnh với mức tăng 1 BPM
Tỷ lệ I/E / Hô hấp Có thể điều chỉnh 10-70%
Khối lượng không khí 50-1500 ml (chỉ dành cho chế độ VGPS)
Máy giữ ẩm 6 cài đặt
Mức độ ồn 43dB
Kích thước (LxWxH) 285x155x125mm
Trọng lượng Kg 1,5Kg
Bảo hành 2 năm

ℕ𝕘ư𝕟𝕘 𝕥𝕙𝕠̛̉ 𝕜𝕙𝕚 𝕟𝕘𝕦̉ 𝕕𝕠 𝕋𝕣𝕦𝕟𝕘 ư𝕠̛𝕟𝕘TheoRobert L. Owens, MD, University of California San DiegoXem xét bởiRichard K. Albe...
26/01/2026

ℕ𝕘ư𝕟𝕘 𝕥𝕙𝕠̛̉ 𝕜𝕙𝕚 𝕟𝕘𝕦̉ 𝕕𝕠 𝕋𝕣𝕦𝕟𝕘 ư𝕠̛𝕟𝕘

TheoRobert L. Owens, MD, University of California San Diego
Xem xét bởiRichard K. Albert, MD, Department of Medicine, University of Colorado Denver - Anschutz Medical
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa Thg 8 2024 | đã sửa đổi Thg 12 2024

- Ngưng thở khi ngủ do trung ương (CSA) là một nhóm tình trạng không đồng nhất, có đặc trưng là những thay đổi trong hoạt động hô hấp mà không có tắc nghẽn đường thở (ngược lại với ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn). Chẩn đoán dựa trên các triệu chứng (như buồn ngủ và khó thở khi thức dậy) và kết quả đo đa ký giấc ngủ. Điều trị khác nhau tùy theo nguyên nhân.

Sinh lý bệnh
|
Căn nguyên
|
Triệu chứng và Dấu hiệu
|
Chẩn đoán
|
Điều trị
|
Thông tin thêm
Ngưng thở khi ngủ do trung ương (CSA) ít phổ biến hơn nhiều so với ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn nhưng không hiếm gặp. Ngưng thở khi ngủ do trung ương hiện diện ở khoảng 0,9% số người trong cộng đồng (1). CSA phổ biến hơn ở người cao tuổi, nam giới và bệnh nhân mắc bệnh tim mạch như suy tim. Ngưng thở khi ngủ do trung ương cũng có thể xảy ra ở trẻ em (2).

Tài liệu tham khảo chung
1. Donovan LM, Kapur VK: Prevalence and characteristics of central compared to obstructive sleep apnea: analyses from the sleep heart health study cohort. Sleep 39(7):1353–1359, 2016. doi: 10.5665/sleep.5962

2. McLaren AT, Bin-Hasan S, Narang I: Diagnosis, management and pathophysiology of central sleep apnea in children. Paediatr Respir Rev 30:49–57, 2019. doi:10.1016/j.prrv.2018.07.005

𝕊𝕚𝕟𝕙 𝕓ệ𝕟𝕙 𝕙𝕠̣𝕔 𝕔𝕦̉𝕒 𝕟𝕘ư𝕟𝕘 𝕥𝕙𝕠̛̉ 𝕜𝕙𝕚 𝕟𝕘𝕦̉ 𝕕𝕠 𝕥𝕣𝕦𝕟𝕘 ư𝕠̛𝕟𝕘

Không giống như ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn, trong đó tắc nghẽn đường thở hạn chế luồng không khí, ngưng thở khi ngủ do trung ương (CSA) là do những thay đổi của trung khu hô hấp, trong khi ngủ phụ thuộc nhiều vào nồng độ carbon dioxit. Phân biệt hai cơ chế:

Ngưng thở khi ngủ do trung ương liên quan đến giảm thông khí: Giảm khả năng thông khí dẫn đến giảm tạm thời và/hoặc tạm dừng hô hấp.

Ngưng thở khi ngủ do trung ương liên quan đến tăng thông khí: Tăng khả năng thông khí trong khi ngủ dẫn đến giảm CO2 máu, gây ra sự giảm thông khí bù trừ, nếu kéo dài một cách bất thường, dẫn đến ngưng thở do trung ương tái phát suốt ngày đêm.

CSA liên quan đến tình trạng giảm thông khí có thể là kết quả của tổn thương giải phẫu hoặc tổn thương chức năng của các trung tâm hô hấp, làm suy yếu trực tiếp khả năng thông khí, dẫn đến nồng độ carbon dioxide (CO2) cao (tăng CO2 máu). CSA liên quan đến tình trạng giảm thông khí có thể xảy ra ở những bệnh nhân mắc bệnh lý ở hệ thần kinh trung ương hoặc bệnh thần kinh cơ. Thuốc phiện và các loại thuốc khác là nguyên nhân phổ biến gây ra CSA liên quan đến tình trạng giảm thông khí.

Nghịch lý thay, trong CSA liên quan đến tình trạng tăng thông khí, các giai đoạn tăng thông khí lại dẫn đến tình trạng ngưng thở sau đó. Việc tăng thông khí tạm thời vì bất kỳ lý do gì cũng có thể vượt quá mức CO2 mục tiêu, gây ra tình trạng giảm CO2 máu. Tình trạng giảm CO2 máu gây ra các giai đoạn giảm thông khí và/hoặc ngưng thở sau đó, cuối cùng dẫn đến tăng CO2 máu và chu kỳ này cứ lặp lại. Bệnh nhân có thể thay đổi một cách định kỳ giữa tình trạng tăng thông khí và giảm thông khí, như trong kiểu thở Cheyne-Stokes, trong đó bệnh nhân có những khoảng thời gian ngưng thở ngắn sau đó thở nhanh hơn và sâu hơn, sau đó chậm hơn và nông hơn cho đến khi họ lại ngừng thở và lặp lại chu kỳ.

Rối loạn thông khí xảy ra chủ yếu trong khi ngủ vì trong lúc thức có thêm các kích thích bên ngoài đối với hô hấp.

ℂ𝕒̆𝕟 𝕟𝕘𝕦𝕪𝕖̂𝕟 𝕔𝕦̉𝕒 𝕟𝕘ư𝕟𝕘 𝕥𝕙𝕠̛̉ 𝕥𝕣𝕦𝕟𝕘 ư𝕠̛𝕟𝕘 𝕜𝕙𝕚 𝕟𝕘𝕦̉
Nguyên nhân gây ra CSA liên quan đến tình trạng giảm thông khí kèm theo tăng CO2 máu bao gồm suy giáp, tổn thương thần kinh (ví dụ: nhồi máu thân não, viêm não, dị tật loại Chiari II) và một số loại thuốc (thường gặp nhất là thuốc phiện – bao gồm cả methadone) (1).

Hội chứng giảm thông khí trung tâm bẩm sinh (lời nguyền Ondine) là một dạng ngưng thở khi ngủ do trung ương vô căn hiếm gặp biểu hiện ở trẻ sơ sinh, trong một số trường hợp có liên quan đến bệnh Hirschsprung. Đột biến ở gen PHOX2 là nguyên nhân gây ra 80% đến 90% số trường hợp (2). Đột biến này tạo ra các kiểu hình khác nhau, một số trong đó có thể trở nên dễ nhận biết sau này trong cuộc đời (3). Các trường hợp rõ ràng về mặt lâm sàng được di truyền theo kiểu gen trội. Có thể thấy giảm thông khí khi ngủ ở cha mẹ.

Một tình trạng cực kỳ hiếm gặp có thể gây ra ngưng thở khi ngủ do trung ương là hội chứng béo phì khởi phát nhanh (tăng cân rõ rệt trong < 1 năm) kèm theo rối loạn chức năng vùng dưới đồi, giảm thông khí và rối loạn điều hòa thần kinh thực vật (ROHHAD); nguyên nhân là do nhiều yếu tố. Bệnh nhân có biểu hiện ở thập niên thứ hai hoặc thứ ba, thường sau một căng thẳng như nhiễm trùng hoặc phẫu thuật (4).

Ngưng thở khi ngủ do trung ương liên quan đến tăng thông khí xảy ra ở độ cao lớn ở những người khỏe mạnh do hậu quả của tình trạng thiếu oxy do giảm áp. Tình trạng này cũng xảy ra trên những bệnh nhân suy tim và hô hấp Cheyne-Stokes và đôi khi trong quá trình điều trị ngưng thở tắc nghẽn với áp lực đường thở dương (PAP).

Tài liệu tham khảo về căn nguyên
1. Javaheri S, Cao M: Chronic Opioid Use and Sleep Disorders. Sleep Med Clin 17(3):433–444, 2022. doi:10.1016/j.jsmc.2022.06.008

2. Genetic and Rare Diseases Information Center: Congenital central hypoventilation syndrome. National Institutes of Health, National Center for Advancing Translational Medicine, Genetic and Rare Diseases Information Center. Cập nhật tháng 6 năm 2024. Truy cập tháng 7 năm 2024. Congenital central hypoventilation syndrome - About the Disease - Genetic and Rare Diseases Information Center (nih.gov)

3. Antic NA, Malow BA, Lange N, et al: PHOX2B mutation-confirmed congenital central hypoventilation syndrome: presentation in adulthood. Am J Respir Crit Care Med 174(8):923–927, 2006. doi:10.1164/rccm.200605-607CR

4. Chew HB, Ngu LH, Keng WT: Rapid-onset obesity with hypothalamic dysfunction, hypoventilation and autonomic dysregulation (ROHHAD): a case with additional features and review of the literature. BMJ Case Rep 2011:bcr0220102706, 2011. doi:10.1136/bcr.02.2010.2706

ℂ𝕒́𝕔 𝕥𝕣𝕚ệ𝕦 𝕔𝕙𝕦̛́𝕟𝕘 𝕧𝕒̀ 𝕕𝕒̂́𝕦 𝕙𝕚ệ𝕦 𝕔𝕦̉𝕒 𝕟𝕘ư𝕟𝕘 𝕥𝕙𝕠̛̉ 𝕥𝕣𝕦𝕟𝕘 ư𝕠̛𝕟𝕘 𝕜𝕙𝕚 𝕟𝕘𝕦̉
Ngưng thở khi ngủ do trung ương có thể không có triệu chứng, do những người chăm sóc hoặc bạn cùng giường phát hiện, những người này nhận thấy những khoảng dừng hô hấp dài, lặng lẽ và hơi thở nông, sau đó là thở gấp hoặc ngủ không yên. Hoặc có thể biểu hiện bằng triệu chứng thức giấc vào ban đêm (mất ngủ duy trì giấc ngủ) hoặc buồn ngủ quá mức vào ban ngày (đôi khi được gọi là buồn ngủ khi thức), uể oải hoặc đau đầu vào buổi sáng.

Chẩn đoán ngưng thở trung ương khi ngủ
Bệnh sử và khám lâm sàng

Thông thường phải đo đa ký giấc ngủ

Chẩn đoán CSA dựa trên việc xem xét cẩn thận bệnh sử, xem xét thuốc và các dấu hiệu lâm sàng và khi cần thiết, được xác nhận bằng cách kiểm tra giấc ngủ tại nhà bằng thiết bị di động hoặc trong phòng thí nghiệm giấc ngủ sử dụng phương pháp đo đa ký giấc ngủ (1, 2). Tuy nhiên, xét nghiệm có thể không cần thiết nếu nguyên nhân rõ ràng và có thể đảo ngược (ví dụ: đi du lịch đến vùng cao, suy tim).

Khí máu động mạch và nồng độ bicarbonate trong lúc thức giúp phân biệt bệnh lý tăng CO2 máu với giảm CO2 máu. Để chẩn đoán nguyên nhân hệ thống thần kinh trung ương của chứng ngưng thở có tăng CO2 máu, có thể chỉ định chụp não hoặc thân não. Nếu quan sát thấy kiểu thở Cheyne-Stokes, cần tiến hành đánh giá tim, bao gồm cả siêu âm tim.

Tài liệu tham khảo chẩn đoán
1. Baillieul S, Revol B, Jullian-Desayes I, Joyeux-Faure M, Tamisier R, Pépin JL: Diagnosis and management of central sleep apnea syndrome. Expert Rev Respir Med 13(6):545–557, 2019. doi:10.1080/17476348.2019.1604226

2. The American Association of Sleep Medicine: The AASM International Classification of Sleep Disorders – Third Edition, Text Revision (ICSD-3-TR). AASM Darien, IL. 2023.

Đ𝕚𝕖̂̀𝕦 𝕥𝕣𝕚̣ 𝕟𝕘ư𝕟𝕘 𝕥𝕙𝕠̛̉ 𝕥𝕣𝕦𝕟𝕘 ư𝕠̛𝕟𝕘 𝕜𝕙𝕚 𝕟𝕘𝕦̉

Đ𝑖𝑒̂̀𝑢 𝑡𝑟𝑖̣ 𝑐𝑎́𝑐 𝑏ệ𝑛ℎ 𝑙ý 𝑛𝑒̂̀𝑛

𝐶ℎ𝑎̆𝑚 𝑠𝑜́𝑐 ℎ𝑜̂̃ 𝑡𝑟𝑜̛̣

𝑻𝒉𝒖𝒐̂́𝒄 𝒗𝒂̀ 𝒕𝒉𝒊𝒆̂́𝒕 𝒃𝒊̣ 𝒎𝒂́𝒚 𝒉𝒐̂̃ 𝒕𝒓𝒐̛̣ 𝒕𝒉𝒐̛̉

Điều trị chính cho chứng ngưng thở khi ngủ ở trung tâm có triệu chứng thường là kiểm soát tối ưu các bệnh nền (ví dụ: suy tim) và tránh hoặc giảm sử dụng thuốc phiện, rượu và các thuốc an thần khác (1). Điều trị phụ cho bệnh nhân CSA có triệu chứng có thể là một thử nghiệm bổ sung oxy hoặc các chất kích thích hô hấp. Những bệnh nhân khác có thể sử dụng 𝑴𝒂́𝒚 𝒕𝒓𝒐̛̣ 𝒕𝒉𝒐̛̉ 𝒂́𝒑 𝒍𝒖̛̣𝒄 đư𝒐̛̀𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒐̛̉ 𝒅ư𝒐̛𝒏𝒈 𝒗𝒂̀ 𝒄𝒂́𝒄 𝒕𝒉𝒊𝒆̂́𝒕 𝒃𝒊̣ 𝒌𝒉𝒂́𝒄, tùy thuộc vào bệnh nền. Bệnh nhân có các triệu chứng không đáng kể có thể không cần điều trị cụ thể.

Đối với những bệnh nhân có CSA và thở Cheyne-Stokes mặc dù đã tối ưu hóa chức năng tim, việc bổ sung oxy có thể làm giảm các cơn ngừng thở và các cơn giảm thở. Tương tự như vậy,𝑴𝒂́𝒚 𝒕𝒓𝒐̛̣ 𝒕𝒉𝒐̛̉ 𝒂́𝒑 𝒍𝒖̛̣𝒄 đư𝒐̛̀𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒐̛̉ 𝒅ư𝒐̛𝒏𝒈 𝒍𝒊𝒆̂𝒏 𝒕𝒖̣𝒄 (𝑪𝑷𝑨𝑷) đôi khi có thể có hiệu quả trong điều trị suy tim và kiểu thở Cheyne-Stokes bằng cách giảm tình trạng thiếu oxy máu và giảm tiền gánh và giảm hậu gánh.

Các chiến lược thông khí PAP tiên tiến hơn như thông khí hỗ trợ thích ứng (ASV) cũng đã được sử dụng. Các thuật toán thông khí này cung cấp hỗ trợ hô hấp hoặc hơi thở trong thời gian ngưng thở, sau đó giảm hỗ trợ khi bệnh nhân tự thở. Hiệu quả chung là điều hòa thông khí phút. Tuy nhiên, dựa trên kết quả thử nghiệm lâm sàng, ASV chống chỉ định ở những bệnh nhân có phân suất tống máu giảm (2, 3).

Acetazolamide, có tác dụng tăng bài tiết bicarbonate và nhiễm toan chuyển hóa, kích thích hô hấp, có hiệu quả đối với CSA do độ cao và hữu ích ở một số bệnh nhân suy tim.

Tạo nhịp điện của cơ hoành, thường được thực hiện bằng cách kích thích dây thần kinh cơ hoành qua đường tĩnh mạch, là một phương án, chẳng hạn như đối với trẻ em > 2 tuổi bị hội chứng giảm thông khí do trung ương bẩm sinh hoặc đối với người lớn bị ngưng thở khi ngủ do trung ương tái phát có triệu chứng. Hệ thống kích thích cơ hoành hoặc dây thần kinh hoành lập trình được có thể tạo ra một kiểu thở nhịp nhàng giúp ổn định thể tích khí lưu thông, luồng không khí và trao đổi oxy, thúc đẩy hô hấp trong khi ngủ và có khả năng thay đổi tiến triển của bệnh (4).

Tài liệu tham khảo về điều trị
1. Dempsey JA: Central sleep apnea: misunderstood and mistreated! F1000Res. 8:F1000 Faculty Rev-981, 2019. doi: 10.12688/f1000research.18358.1

2. Cowie MR, Woehrle H, Wegscheider K, et al: Adaptive Servo-Ventilation for Central Sleep Apnea in Systolic Heart Failure. N Engl J Med 373(12):1095–1105, 2015. doi:10.1056/NEJMoa1506459

3. Bradley TD, Logan AG, Lorenzi Filho G, et al: Adaptive servo-ventilation for sleep-disordered breathing in patients with heart failure with reduced ejection fraction (ADVENT-HF): a multicentre, multinational, parallel-group, open-label, phase 3 randomised controlled trial. Lancet Respir Med 12(2):153–166, 2024. doi:10.1016/S2213-2600(23)00374-0

4. Schwartz AR, Sgambati FP, James KJ, et al: Novel phrenic nerve stimulator treats Cheyne-Stokes respiration: polysomnographic insights. J Clin Sleep Med 16(5):817–820, 2020. doi: 10.5664/jcsm.8328

🔷𝑴𝒖̀𝒂 𝒍𝒂̣𝒏𝒉 𝒕𝒐̛́𝒊 𝒓𝒐̂̀𝒊 𝑸𝒖𝒚́ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒉𝒂̀𝒏𝒈 𝒏𝒉𝒐̛́ 𝒔𝒖̛̉ 𝒅𝒖̣𝒏𝒈 𝑫𝒂̂𝒚 𝒕𝒉𝒐̛̉ 𝒄𝒐́ 𝒄𝒉𝒖̛́𝒄 𝒏𝒂̆𝒏𝒈 𝑮𝒊𝒂 𝑵𝒉𝒊𝒆̣̂𝒕 đ𝒆̂̉ 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒃𝒊̣ 𝒍𝒂̣𝒏𝒉...
12/01/2026

🔷𝑴𝒖̀𝒂 𝒍𝒂̣𝒏𝒉 𝒕𝒐̛́𝒊 𝒓𝒐̂̀𝒊 𝑸𝒖𝒚́ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒉𝒂̀𝒏𝒈 𝒏𝒉𝒐̛́ 𝒔𝒖̛̉ 𝒅𝒖̣𝒏𝒈 𝑫𝒂̂𝒚 𝒕𝒉𝒐̛̉ 𝒄𝒐́ 𝒄𝒉𝒖̛́𝒄 𝒏𝒂̆𝒏𝒈 𝑮𝒊𝒂 𝑵𝒉𝒊𝒆̣̂𝒕 đ𝒆̂̉ 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒃𝒊̣ 𝒍𝒂̣𝒏𝒉 𝒎𝒖̃𝒊 𝒎𝒊𝒆̣̂𝒏𝒈 𝒗𝒂̀ 𝒕𝒓𝒂́𝒏𝒉 đ𝒐̣𝒏𝒈 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒎𝒂̣̆𝒕 𝒏𝒂̣ 𝒏𝒉𝒆́!
🔔𝑮𝒊𝒂́ 𝑺𝑨𝑳𝑬 𝒏𝒂𝒚 𝒄𝒐̀𝒏 𝒕𝒐̂́𝒕 𝒉𝒐̛𝒏

🟢Mặt nạ chụp mũi thế hệ mới nhất chính hãng BMC N5B với nhiều cải tiến☑️ Bỏ đi phần tì trán giúp thoải mái và tầm nhìn t...
12/01/2026

🟢Mặt nạ chụp mũi thế hệ mới nhất chính hãng BMC N5B với nhiều cải tiến

☑️ Bỏ đi phần tì trán giúp thoải mái và tầm nhìn tốt hơn
☑️ Đi kèm một đoạn ống thở nhỏ mềm vừa giúp kéo dài dây thở vừa giúp cử động dễ dàng hơn nhiều

👉Phù hợp khách hàng đang dùng máy trợ thở Cpap, Auto Cpap khi cần thay mặt nạ đang dùng.

💲 Giá Sale mềm mại 1.200.000đ

✦ Cùng tìm hiểu cách xử trí bệnh phổi tắc nghẽn:➤ Xử trí bệnh PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH (COPD) bao gồm điều trị COPD mạn t...
02/01/2026

✦ Cùng tìm hiểu cách xử trí bệnh phổi tắc nghẽn:

➤ Xử trí bệnh PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH (COPD) bao gồm điều trị COPD mạn tính ổn định và ĐIỀU TRỊ ĐỢT CẤP.

TheoRobert A. Wise, MD, Johns Hopkins Asthma and Allergy Center
Xem xét bởiRichard K. Albert, MD, Department of Medicine, University of Colorado Denver - Anschutz Medical
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa Thg 5 2024 | đã sửa đổi Thg 9 2024

Bổ sung oxy
|
Hỗ trợ thông khí
|
Điều trị bằng thuốc
|
Những điểm chính

Xử trí bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) bao gồm điều trị bệnh mạn tính ổn định và điều trị đợt cấp.

Điều trị các đợt cấp bao gồm

Bổ sung oxy

Thuốc giãn phế quản

Corticosteroid

Thuốc kháng sinh

Đôi khi hỗ trợ thông khí với thông khí không xâm lấn hoặc đặt nội khí quản và thông khí

Các mục tiêu trước mắt là để đảm bảo đủ bão hòa oxy và pH máu gần bình thường, giảm tắc nghẽn đường thở, và điều trị nguyên nhân gây đợt cấp.

Nguyên nhân của đợt cấp thường không rõ, mặc dù hầu hết các đợt cấp tính là do nhiễm vi khuẩn hoặc vi rút. Hút thuốc, phơi nhiễm khói bụi, và mức ô nhiễm không khí cao cũng góp phần.

Những bệnh nhân có đợt cấp nhẹ và được hỗ trợ đầy đủ tại nhà thường có thể được điều trị ngoại trú. Bệnh nhân cao tuổi, ốm yếu và bệnh nhân có nhiều bệnh đồng mắc, tiền sử suy hô hấp, hoặc những thay đổi cấp tính trong khí máu được nhập viện để theo dõi và điều trị. Các bệnh nhân đợt cấp đe dọa tính mạng biểu hiện bởi tình trạng thiếu oxy cấp tính từ trung bình đến nặng, nhiễm toan hô hấp cấp tính, loạn nhịp tim mới, hoặc suy giảm chức năng hô hấp mặc dù đã có điều trị tại bệnh viện cần phải được điều trị tại khoa Hồi sức tích cực và theo dõi tình trạng hô hấp thường xuyên.

Oxy trong đợt cấp của COPD
Nhiều bệnh nhân, ngay cả những người không cần hỗ trợ oxy lâu dài, vẫn cần bổ sung oxy trong đợt cấp của COPD. Tăng CO2 máu có thể nặng hơn ở bệnh nhân được cung cấp oxy. Tình trạng xấu hơn này trước đây được nghĩ do hậu quả của sự giảm nhạy cảm của trung tâm hô hấp. Khuyến cáo sử dụng oxy, mặc dù oxy có thể làm nặng thêm tình trạng tăng CO2 máu. Nhiều bệnh nhân COPD có tăng CO2 mạn tính cũng như cấp tính và do đó suy giảm hệ thần kinh trung ương nặng là không thể trừ khi áp lực riêng phần của carbon dioxide động mạch (PaCO2) > 85 mm Hg. Mức mục tiêu cho áp suất riêng phần của oxy động mạch (PaO2) là khoảng 60 mm Hg; mức độ cao hơn mang lại ít lợi ích và làm tăng nguy cơ tăng CO2 máu. Trong hầu hết các trường hợp, nồng độ oxy thấp sẽ cải thiện tình trạng hạ oxy máu. Cần phải có nồng độ oxy cao gợi ý sinh lý đường thông từ phải sang trái và các yếu tố khác gây tăng CO2 máu (ví dụ: viêm phổi hoặc phù phổi).

Ở những bệnh nhân dễ bị tăng CO2 máu (tức là bicarbonate huyết thanh tăng cao có thể cho thấy sự hiện diện của nhiễm toan hô hấp đã được bù), oxy được cung cấp qua ống có ngạnh mũi hoặc mặt nạ Venturi để có thể được kiểm soát chặt chẽ và bệnh nhân được theo dõi chặt chẽ. Những bệnh nhân có tình trạng xấu đi trong quá trình điều trị bằng oxy (ví dụ: những người bị nhiễm toan máu nặng hoặc suy nhược hệ thần kinh trung ương) cần được hỗ trợ thở máy.

Nhiều bệnh nhân cần thở oxy tại nhà lần đầu tiên khi họ được xuất viện sau đợt cấp có cải thiện trong vòng 30 ngày và không còn cần đến oxy nữa. Do đó, nhu cầu sử dụng oxy tại nhà cần được đánh giá lại từ 60 đến 90 ngày sau khi xuất viện.

𝐇𝐨̂̃ 𝐭𝐫𝐨̛̣ 𝐭𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐤𝐡𝐢́ 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 đ𝐨̛̣𝐭 𝐜𝐚̂́𝐩 𝐜𝐮̉𝐚 𝐂𝐎𝐏𝐃

Thông khí áp lực dương không xâm lấn (ví dụ: hỗ trợ áp lực hoặc thông khí áp lực dương bằng mặt nạ mặt) là một phương pháp thay thế cho thông khí cơ học hoàn toàn. Thông khí không xâm lấn dường như làm giảm nhu cầu đặt nội khí quản, giảm thời gian nằm viện và giảm tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân bị đợt cấp nặng (được xác định là pH < 7,30 ở những bệnh nhân huyết động ổn định không có nguy cơ ngừng hô hấp ngay lập tức) (1).

Thông khí không xâm nhập không có tác dụng ở bệnh nhân có đợt cấp nhẹ hơn. Tuy nhiên, việc thông khí này có thể được chỉ định cho những bệnh nhân có đợt cấp ít nghiêm trọng hơn mà khí máu động mạch (ABG) trở nên xấu đi mặc dù đã dùng thuốc hoặc liệu pháp oxy ban đầu hoặc những người dường như sắp được thở máy hoàn toàn nhưng không cần đặt nội khí quản để kiểm soát đường thở hoặc thuốc an thần để điều trị tình trạng kích động. Những bệnh nhân bị khó thở nặng và căng phồng phổi quá mức và sử dụng các cơ hô hấp phụ cũng có thể được giảm bớt áp lực đường thở dương. Thất bại trong khi thở không xâm nhập đòi hỏi thở máy xâm nhập.

Các giá trị của khí máu xấu đi, trạng thái tinh thần xấu đi, và suy hô hấp tiến triển là các chỉ định cho đặt nội khí quản và thở máy xâm nhập. Các cài đặt thông số máy thở, chiến lược điều trị và các biến chứng được thảo luận ở bài khác. Các yếu tố nguy cơ phụ thuộc vào thông khí bao gồm

Thể tích thở ra gắng sức trong 1 giây (FEV1) < 0,5 L

Khí máu động mạch ổn định với PaO2 < 50 mm Hg, hoặc PaCO2 > 60 mm Hg

Hạn chế tập thể dục nặng

Tình trạng dinh dưỡng kém

Nếu bệnh nhân có nguy cơ cao, nên bắt đầu thảo luận về mong muốn của họ về đặt nội khí quản và thở máy (xem Chỉ thị trước) trong khi tình trạng của họ ổn định và họ không phải nhập viện. Tuy nhiên, tình trạng lo lắng quá mức về khả năng phụ thuộc vào máy thở không nên làm trì hoãn việc xử trí suy hô hấp cấp tính; nhiều bệnh nhân cần thở máy có thể trở lại tình trạng sức khỏe ở mức trước khi có đợt cấp.

Cũng đã sử dụng liệu pháp oxy qua mũi với lưu lượng cao cho bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp của COPD và có thể thử dùng cho những người không chịu được thông khí bằng mặt nạ không xâm lấn.

Ở những bệnh nhân phải đặt nội khí quản kéo dài (ví dụ: > 2 tuần), mở khí quản được chỉ định để tạo điều kiện thoải mái, giao tiếp và ăn uống. Với một chương trình phục hồi chức năng hô hấp đa phương thức tốt, bao gồm hỗ trợ dinh dưỡng và tâm lý, nhiều bệnh nhân cần thở máy kéo dài có thể được cai máy thở thành công và có thể trở lại mức độ chức năng trước đây của họ.

Luôn có các chương trình đặc biệt dành cho những bệnh nhân phụ thuộc vào máy thở sau khi bị suy hô hấp cấp. Một số bệnh nhân có thể không cần không thở máy trong ngày. Đối với những bệnh nhân được hỗ trợ ở nhà đầy đủ, việc hướng dẫn các thành viên trong gia đình có thể cho phép một số bệnh nhân được đưa về nhà với máy thở.

Ở những bệnh nhân bị tăng CO2 mạn tính nặng phải nhập viện vì đợt cấp, thông khí không xâm lấn về đêm làm giảm tình trạng tăng CO2 máu và có thể cải thiện thời gian sống thêm (2). Phương pháp điều trị này không cải thiện chất lượng cuộc sống lâu dài, vì vậy việc thực hiện nên liên quan đến việc ra quyết định chung với bệnh nhân.

"𝑫𝒖̀ 𝒍𝒐 𝒍𝒂̆́𝒏𝒈 đ𝒆̂́𝒏 𝒔𝒖̛̣ 𝒑𝒉𝒖̣ 𝒕𝒉𝒖𝒐̣̂𝒄 𝒄𝒖̉𝒂 𝒎𝒂́𝒚 𝒕𝒉𝒐̛̉ 𝒄𝒖̃𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒏𝒆̂𝒏 𝒕𝒓𝒊̀ 𝒉𝒐𝒂̃𝒏 𝒗𝒊𝒆̣̂𝒄 đ𝒊𝒆̂̀𝒖 𝒕𝒓𝒊̣ 𝒔𝒖𝒚 𝒉𝒐̂ 𝒉𝒂̂́𝒑 𝒄𝒂̂́𝒑; 𝒏𝒉𝒊𝒆̂̀𝒖 𝒃𝒆̣̂𝒏𝒉 𝒏𝒉𝒂̂𝒏 𝒄𝒂̂̀𝒏 𝒕𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒊́ 𝒄𝒐̛ 𝒉𝒐̣𝒄 𝒄𝒐́ 𝒕𝒉𝒆̂̉ 𝒕𝒓𝒐̛̉ 𝒍𝒂̣𝒊 𝒕𝒊̀𝒏𝒉 𝒕𝒓𝒂̣𝒏𝒈 𝒔𝒖̛́𝒄 𝒌𝒉𝒐̉𝒆 𝒗𝒐̛́𝒊 𝒎𝒖̛́𝒄 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒕𝒓𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒌𝒉𝒊 𝒃𝒊̣ đ𝒐̛̣𝒕 𝒄𝒂̂́𝒑."

Tài liệu tham khảo về hỗ trợ thông khí
1. Osadnik CR, Tee VS, Carson-Chahhoud KV, Picot J, Wedzicha JA, Smith BJ. Non-invasive ventilation for the management of acute hypercapnic respiratory failure due to exacerbation of chronic obstructive pulmonary disease. Cochrane Database Syst Rev 2017;7(7):CD004104. Xuất bản ngày 13 tháng 7 năm 2017. doi:10.1002/14651858.CD004104.pub4

1. Raveling T, Vonk J, Struik FM, et al. Chronic non-invasive ventilation for chronic obstructive pulmonary disease. Cochrane Database Syst Rev 2021;8(8):CD002878. Xuất bản ngày 9 tháng 8 năm 2021. doi:10.1002/14651858.CD002878.pub3

Điều trị bằng thuốc trong đợt cấp của COPD cấp tính
Các thuốc chủ vận beta và thuốc kháng cholinergic, có hoặc không có corticosteroid, nên được bắt đầu đồng thời với liệu pháp oxy (bất kể cách dùng oxy) với mục đích làm giảm sự tắc nghẽn đường thở. Methylxanthines, một thuốc được coi là cần thiết trong điều trị đợt cấp của COPD, không còn được sử dụng do độc tính nhiều hơn lợi ích.

Thuốc chủ vận beta
Thuốc chủ vận beta tác dụng ngắn là nền tảng của điều trị bằng thuốc trong các đợt cấp tính. Thuốc được sử dụng rộng rãi nhất là albuterol. Hít thuốc bằng cách sử dụng bình xịt định liều gây giãn phế quản nhanh; không có dữ liệu cho thấy liều dùng với thuốc khí dung có hiệu quả hơn so với cùng liều khi dùng bình xịt định liều. Trong trường hợp co thắt phế quản nặng, không đáp ứng, đôi khi có thể sử dụng phương pháp điều trị bằng khí dung liên tục.

Thuốc kháng cholinergic
Ipratropium, thuốc kháng cholinergic, có hiệu quả trong đợt cấp của COPD và nên được cung cấp đồng thời hoặc xen kẽ với các thuốc chủ vận beta. Liều dùng là 0,25 đến 0,5 mg khí dung hoặc 2 đến 4 lần xịt (17 đến 18 mcg thuốc cho mỗi lần xịt) bằng bình xịt định liều 4 đến 6 giờ một lần. Ipratropium thường có tác dụng giãn phế quản tương tự như liều khuyến nghị thông thường của thuốc chủ vận beta.

Vai trò của thuốc kháng cholinergic tác dụng kéo dài trong điều trị các đợt cấp tính chưa được xác định.

Corticosteroid
Corticosteroid nên được bắt đầu ngay cho tất cả các trường hợp trừ đợt cấp nhẹ. Các lựa chọn bao gồm prednisone 30 đến 60 mg uống 1 lần/ngày trong 5 đến 7 ngày và ngừng trực tiếp hoặc giảm dần trong 7 đến 14 ngày tùy thuộc vào đáp ứng lâm sàng. Một thay thế đường tiêm là methylprednisolone 60 đến 500 mg đường tĩnh mạch 1 lần/ngày trong 3 ngày và sau đó giảm dần trong 7 đến 14 ngày. Những loại thuốc này có tác dụng cấp tính tương đương nhau.

Thuốc kháng sinh
Kháng sinh được khuyến nghị để điều trị đợt cấp ở bệnh nhân có đờm mủ. Một số bác sĩ lâm sàng cho dùng kháng sinh theo kinh nghiệm để thay đổi màu sắc của đờm hoặc các bất thường trên phim X quang ngực không đặc hiệu. Nuôi cấy và nhuộm Gram thường quy là không cần thiết trước khi điều trị trừ khi nghi ngờ có vi khuẩn bất thường hoặc kháng thuốc (ví dụ: ở những bệnh nhân nhập viện, nằm viện hoặc bị suy giảm miễn dịch). Các loại thuốc chống lại hệ thực vật ở miệng được chỉ định.

Việc lựa chọn thuốc được quyết định theo mức độ nhạy cảm của vi khuẩn tại địa phương và tiền sử bệnh nhân. Trimethoprim/sulfamethoxazole, amoxicillin hoặc doxycycline được cho dùng trong 7 ngày đến 14 ngày. Một loại kháng sinh thay thế là azithromycin.

Khi bệnh nhân bị bệnh nặng hoặc có bằng chứng lâm sàng cho thấy vi khuẩn truyền nhiễm có khả năng kháng thuốc, có thể sử dụng các loại thuốc bậc hai phổ rộng hơn. Những loại thuốc này bao gồm amoxicillin/clavulanate, fluoroquinolones (ví dụ: ciprofloxacin, levofloxacin) và cephalosporin thế hệ thứ hai (ví dụ: cefuroxime, cefaclor). Những loại thuốc này có hiệu quả chống lại các chủng Haemophilus influenzae và Moraxella catarrhalis sản sinh ra beta-lactamase (trước đây gọi là Branhamella catarrhalis) nhưng chưa được chứng minh là có hiệu quả hơn các loại thuốc hàng đầu đối với hầu hết bệnh nhân.

Bệnh nhân có thể được hướng dẫn để nhận ra sự thay đổi đờm từ bình thường sang mủ như là một dấu hiệu của đợt cấp sắp tới và bắt đầu một đợt điều trị kháng sinh từ 10 đến 14 ngày.

Nếu có, xét nghiệm nồng độ protein phản ứng C (CRP) thấp có thể hướng dẫn bệnh nhân nào có thể tránh sử dụng kháng sinh (1).

Điều trị dự phòng kháng sinh lâu dài chỉ được khuyến cáo đối với những bệnh nhân có thay đổi cấu trúc của phổi, chẳng hạn như giãn phế quản hoặc kén khí phổi bội nhiễm.

Ở những bệnh nhân có nhiều đợt cấp, sử dụng macrolide kéo dài làm giảm tần số đợt cấp nhưng có thể có những tác dụng bất lợi của thuốc.

Các loại thuốc khác
Thuốc chống ho, chẳng hạn như dextromethorphan và benzonatate, không có vai trò trong điều trị đợt cấp của COPD.

Opioid (ví dụ: codeine, hydrocodone, oxycodone) nên được sử dụng một cách thận trọng để giảm các triệu chứng (ví dụ: cơn bộc phát ho dữ dội, đau) vì những loại thuốc này có thể ức chế ho có đờm, làm suy giảm trạng thái tinh thần và gây táo bón.

Tài liệu tham khảo về điều trị bằng thuốc
1. Butler CC, Gillespie D, White P, et al. C-Reactive Protein Testing to Guide Antibiotic Prescribing for COPD Exacerbations. N Engl J Med 2019;381(2):111-120. doi:10.1056/NEJMoa1803185

Những điểm chính
Hầu hết bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) đều cần bổ sung oxy trong đợt cấp.

Thuốc chủ vận beta tác dụng ngắn dạng hít là nền tảng của điều trị bằng thuốc trong các đợt cấp tính.

Sử dụng kháng sinh nếu bệnh nhân có đợt cấp và đờm mủ.

Address

25 Đinh Núp, Trung Hòa, Cầu Giấy
Hanoi
100000

Telephone

+84923956087

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Máy Thở Và Phụ Kiện posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

ĐÈN NẤM MOVING 11 MẮT LAZE VÀ LED 36 ĐỘ

ĐÈN NẤM MOVING 11 MẮT LAZE VÀ LED 36 ĐỘ