Máy Thở Và Phụ Kiện

Máy Thở Và Phụ Kiện Cung cấp Máy thở và phụ kiện thở,Máy tạo Oxy,Máy hút đờm,Màn hình theo dõi...........

Cung cấp các dòng máy thở xâm nhập và không xâm nhập,máy tạo oxy,máy hút dịch..... và các phụ kiện máy thở

Máy Trợ Thở Yuwell YH 830 – Giải Pháp Hiện Đại Cho Liệu Pháp Hô HấpYuwell YH 830 là dòng máy trợ thở BiPAP tiên tiến nhấ...
04/02/2026

Máy Trợ Thở Yuwell YH 830 – Giải Pháp Hiện Đại Cho Liệu Pháp Hô Hấp
Yuwell YH 830 là dòng máy trợ thở BiPAP tiên tiến nhất của Yuwell, ra mắt vào đầu năm 2023 và nhanh chóng được phân phối rộng rãi trên toàn cầu. Đây là thiết bị chuyên dụng dành cho bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), viêm phổi nặng, xơ phổi, đặc biệt là những trường hợp có tồn dư CO₂ cao trong phổi.

Tính Năng Nổi Bật
1. Hệ thống 5 chế độ thở linh hoạt
Máy trợ thở Yuwell YH 830 được trang bị 5 mode thở phù hợp với từng tình trạng bệnh nhân:
✅ CPAP (Continuous Positive Airway Pressure) – Duy trì áp lực dương liên tục.
✅ S (Spontaneous Mode) – Hỗ trợ nhịp thở tự nhiên.
✅ T (Timed Mode) – Kiểm soát tần số thở theo cài đặt.
✅ ST (Spontaneous Timed Mode) – Kết hợp hỗ trợ nhịp tự nhiên và thiết lập nhịp tối thiểu.
✅ VGPS (Volume-Guaranteed Pressure Support) – Điều chỉnh áp lực theo thể tích khí lưu thông.

2. Công nghệ tiên tiến hỗ trợ hô hấp
🔹 Hệ thống làm ẩm thông minh: Tự động điều chỉnh độ ẩm phù hợp với môi trường, giảm khô họng và khó chịu khi sử dụng.
🔹 Cảnh báo rò rỉ khí: Cung cấp tín hiệu âm thanh khi phát hiện sự rò rỉ khí, đảm bảo liệu pháp thở ổn định.
🔹 FPS (Flexible Pressure Support) – Hỗ trợ áp lực linh hoạt: Giúp bệnh nhân thở dễ dàng hơn với 4 cấp độ điều chỉnh, giảm lực cản khi thở ra và tăng sự thoải mái khi hít vào.
🔹 Màn hình LED trực quan: Hiển thị ngày, giờ và thông tin quan trọng một cách rõ ràng, dễ theo dõi.
🔹 Tích hợp đồng hồ báo thức & nhắc nhở thay bộ lọc: Đảm bảo thiết bị luôn được vận hành trong điều kiện tối ưu.
🔹 Khôi phục cài đặt gốc: Cho phép đặt lại máy về chế độ mặc định ban đầu.

Tối Ưu Hóa Hiệu Quả Trị Liệu
Máy trợ thở Yuwell YH 830 không chỉ hỗ trợ điều trị các bệnh lý hô hấp nghiêm trọng mà còn mang đến trải nghiệm êm ái, thoải mái, giúp bệnh nhân duy trì liệu pháp thở một cách hiệu quả và dễ dàng. Đây là lựa chọn lý tưởng cho những ai cần một thiết bị hiện đại, thông minh và đáng tin cậy trong việc chăm sóc sức khỏe hô hấp.

Thông số kỹ thuật

Hoạt động CPAP, S, ST, T, VGPS
Áp lực đường thở dương hít vào tối đa (IPAP) (S, T, ST, VGPS)
4-30 cm H2O
Áp lực đường thở dương hết hạn (EPAP) (S, T, ST, VGPS)
4-30 cm H2O
Cài đặt PAP (CPAP) 4-20 cm H2O
Nhịp thở mỗi phút (BPM)
5-50 BPM Có thể điều chỉnh với mức tăng 1 BPM
Tỷ lệ I/E / Hô hấp Có thể điều chỉnh 10-70%
Khối lượng không khí 50-1500 ml (chỉ dành cho chế độ VGPS)
Máy giữ ẩm 6 cài đặt
Mức độ ồn 43dB
Kích thước (LxWxH) 285x155x125mm
Trọng lượng Kg 1,5Kg
Bảo hành 2 năm

ℕ𝕘ư𝕟𝕘 𝕥𝕙𝕠̛̉ 𝕜𝕙𝕚 𝕟𝕘𝕦̉ 𝕕𝕠 𝕋𝕣𝕦𝕟𝕘 ư𝕠̛𝕟𝕘TheoRobert L. Owens, MD, University of California San DiegoXem xét bởiRichard K. Albe...
26/01/2026

ℕ𝕘ư𝕟𝕘 𝕥𝕙𝕠̛̉ 𝕜𝕙𝕚 𝕟𝕘𝕦̉ 𝕕𝕠 𝕋𝕣𝕦𝕟𝕘 ư𝕠̛𝕟𝕘

TheoRobert L. Owens, MD, University of California San Diego
Xem xét bởiRichard K. Albert, MD, Department of Medicine, University of Colorado Denver - Anschutz Medical
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa Thg 8 2024 | đã sửa đổi Thg 12 2024

- Ngưng thở khi ngủ do trung ương (CSA) là một nhóm tình trạng không đồng nhất, có đặc trưng là những thay đổi trong hoạt động hô hấp mà không có tắc nghẽn đường thở (ngược lại với ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn). Chẩn đoán dựa trên các triệu chứng (như buồn ngủ và khó thở khi thức dậy) và kết quả đo đa ký giấc ngủ. Điều trị khác nhau tùy theo nguyên nhân.

Sinh lý bệnh
|
Căn nguyên
|
Triệu chứng và Dấu hiệu
|
Chẩn đoán
|
Điều trị
|
Thông tin thêm
Ngưng thở khi ngủ do trung ương (CSA) ít phổ biến hơn nhiều so với ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn nhưng không hiếm gặp. Ngưng thở khi ngủ do trung ương hiện diện ở khoảng 0,9% số người trong cộng đồng (1). CSA phổ biến hơn ở người cao tuổi, nam giới và bệnh nhân mắc bệnh tim mạch như suy tim. Ngưng thở khi ngủ do trung ương cũng có thể xảy ra ở trẻ em (2).

Tài liệu tham khảo chung
1. Donovan LM, Kapur VK: Prevalence and characteristics of central compared to obstructive sleep apnea: analyses from the sleep heart health study cohort. Sleep 39(7):1353–1359, 2016. doi: 10.5665/sleep.5962

2. McLaren AT, Bin-Hasan S, Narang I: Diagnosis, management and pathophysiology of central sleep apnea in children. Paediatr Respir Rev 30:49–57, 2019. doi:10.1016/j.prrv.2018.07.005

𝕊𝕚𝕟𝕙 𝕓ệ𝕟𝕙 𝕙𝕠̣𝕔 𝕔𝕦̉𝕒 𝕟𝕘ư𝕟𝕘 𝕥𝕙𝕠̛̉ 𝕜𝕙𝕚 𝕟𝕘𝕦̉ 𝕕𝕠 𝕥𝕣𝕦𝕟𝕘 ư𝕠̛𝕟𝕘

Không giống như ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn, trong đó tắc nghẽn đường thở hạn chế luồng không khí, ngưng thở khi ngủ do trung ương (CSA) là do những thay đổi của trung khu hô hấp, trong khi ngủ phụ thuộc nhiều vào nồng độ carbon dioxit. Phân biệt hai cơ chế:

Ngưng thở khi ngủ do trung ương liên quan đến giảm thông khí: Giảm khả năng thông khí dẫn đến giảm tạm thời và/hoặc tạm dừng hô hấp.

Ngưng thở khi ngủ do trung ương liên quan đến tăng thông khí: Tăng khả năng thông khí trong khi ngủ dẫn đến giảm CO2 máu, gây ra sự giảm thông khí bù trừ, nếu kéo dài một cách bất thường, dẫn đến ngưng thở do trung ương tái phát suốt ngày đêm.

CSA liên quan đến tình trạng giảm thông khí có thể là kết quả của tổn thương giải phẫu hoặc tổn thương chức năng của các trung tâm hô hấp, làm suy yếu trực tiếp khả năng thông khí, dẫn đến nồng độ carbon dioxide (CO2) cao (tăng CO2 máu). CSA liên quan đến tình trạng giảm thông khí có thể xảy ra ở những bệnh nhân mắc bệnh lý ở hệ thần kinh trung ương hoặc bệnh thần kinh cơ. Thuốc phiện và các loại thuốc khác là nguyên nhân phổ biến gây ra CSA liên quan đến tình trạng giảm thông khí.

Nghịch lý thay, trong CSA liên quan đến tình trạng tăng thông khí, các giai đoạn tăng thông khí lại dẫn đến tình trạng ngưng thở sau đó. Việc tăng thông khí tạm thời vì bất kỳ lý do gì cũng có thể vượt quá mức CO2 mục tiêu, gây ra tình trạng giảm CO2 máu. Tình trạng giảm CO2 máu gây ra các giai đoạn giảm thông khí và/hoặc ngưng thở sau đó, cuối cùng dẫn đến tăng CO2 máu và chu kỳ này cứ lặp lại. Bệnh nhân có thể thay đổi một cách định kỳ giữa tình trạng tăng thông khí và giảm thông khí, như trong kiểu thở Cheyne-Stokes, trong đó bệnh nhân có những khoảng thời gian ngưng thở ngắn sau đó thở nhanh hơn và sâu hơn, sau đó chậm hơn và nông hơn cho đến khi họ lại ngừng thở và lặp lại chu kỳ.

Rối loạn thông khí xảy ra chủ yếu trong khi ngủ vì trong lúc thức có thêm các kích thích bên ngoài đối với hô hấp.

ℂ𝕒̆𝕟 𝕟𝕘𝕦𝕪𝕖̂𝕟 𝕔𝕦̉𝕒 𝕟𝕘ư𝕟𝕘 𝕥𝕙𝕠̛̉ 𝕥𝕣𝕦𝕟𝕘 ư𝕠̛𝕟𝕘 𝕜𝕙𝕚 𝕟𝕘𝕦̉
Nguyên nhân gây ra CSA liên quan đến tình trạng giảm thông khí kèm theo tăng CO2 máu bao gồm suy giáp, tổn thương thần kinh (ví dụ: nhồi máu thân não, viêm não, dị tật loại Chiari II) và một số loại thuốc (thường gặp nhất là thuốc phiện – bao gồm cả methadone) (1).

Hội chứng giảm thông khí trung tâm bẩm sinh (lời nguyền Ondine) là một dạng ngưng thở khi ngủ do trung ương vô căn hiếm gặp biểu hiện ở trẻ sơ sinh, trong một số trường hợp có liên quan đến bệnh Hirschsprung. Đột biến ở gen PHOX2 là nguyên nhân gây ra 80% đến 90% số trường hợp (2). Đột biến này tạo ra các kiểu hình khác nhau, một số trong đó có thể trở nên dễ nhận biết sau này trong cuộc đời (3). Các trường hợp rõ ràng về mặt lâm sàng được di truyền theo kiểu gen trội. Có thể thấy giảm thông khí khi ngủ ở cha mẹ.

Một tình trạng cực kỳ hiếm gặp có thể gây ra ngưng thở khi ngủ do trung ương là hội chứng béo phì khởi phát nhanh (tăng cân rõ rệt trong < 1 năm) kèm theo rối loạn chức năng vùng dưới đồi, giảm thông khí và rối loạn điều hòa thần kinh thực vật (ROHHAD); nguyên nhân là do nhiều yếu tố. Bệnh nhân có biểu hiện ở thập niên thứ hai hoặc thứ ba, thường sau một căng thẳng như nhiễm trùng hoặc phẫu thuật (4).

Ngưng thở khi ngủ do trung ương liên quan đến tăng thông khí xảy ra ở độ cao lớn ở những người khỏe mạnh do hậu quả của tình trạng thiếu oxy do giảm áp. Tình trạng này cũng xảy ra trên những bệnh nhân suy tim và hô hấp Cheyne-Stokes và đôi khi trong quá trình điều trị ngưng thở tắc nghẽn với áp lực đường thở dương (PAP).

Tài liệu tham khảo về căn nguyên
1. Javaheri S, Cao M: Chronic Opioid Use and Sleep Disorders. Sleep Med Clin 17(3):433–444, 2022. doi:10.1016/j.jsmc.2022.06.008

2. Genetic and Rare Diseases Information Center: Congenital central hypoventilation syndrome. National Institutes of Health, National Center for Advancing Translational Medicine, Genetic and Rare Diseases Information Center. Cập nhật tháng 6 năm 2024. Truy cập tháng 7 năm 2024. Congenital central hypoventilation syndrome - About the Disease - Genetic and Rare Diseases Information Center (nih.gov)

3. Antic NA, Malow BA, Lange N, et al: PHOX2B mutation-confirmed congenital central hypoventilation syndrome: presentation in adulthood. Am J Respir Crit Care Med 174(8):923–927, 2006. doi:10.1164/rccm.200605-607CR

4. Chew HB, Ngu LH, Keng WT: Rapid-onset obesity with hypothalamic dysfunction, hypoventilation and autonomic dysregulation (ROHHAD): a case with additional features and review of the literature. BMJ Case Rep 2011:bcr0220102706, 2011. doi:10.1136/bcr.02.2010.2706

ℂ𝕒́𝕔 𝕥𝕣𝕚ệ𝕦 𝕔𝕙𝕦̛́𝕟𝕘 𝕧𝕒̀ 𝕕𝕒̂́𝕦 𝕙𝕚ệ𝕦 𝕔𝕦̉𝕒 𝕟𝕘ư𝕟𝕘 𝕥𝕙𝕠̛̉ 𝕥𝕣𝕦𝕟𝕘 ư𝕠̛𝕟𝕘 𝕜𝕙𝕚 𝕟𝕘𝕦̉
Ngưng thở khi ngủ do trung ương có thể không có triệu chứng, do những người chăm sóc hoặc bạn cùng giường phát hiện, những người này nhận thấy những khoảng dừng hô hấp dài, lặng lẽ và hơi thở nông, sau đó là thở gấp hoặc ngủ không yên. Hoặc có thể biểu hiện bằng triệu chứng thức giấc vào ban đêm (mất ngủ duy trì giấc ngủ) hoặc buồn ngủ quá mức vào ban ngày (đôi khi được gọi là buồn ngủ khi thức), uể oải hoặc đau đầu vào buổi sáng.

Chẩn đoán ngưng thở trung ương khi ngủ
Bệnh sử và khám lâm sàng

Thông thường phải đo đa ký giấc ngủ

Chẩn đoán CSA dựa trên việc xem xét cẩn thận bệnh sử, xem xét thuốc và các dấu hiệu lâm sàng và khi cần thiết, được xác nhận bằng cách kiểm tra giấc ngủ tại nhà bằng thiết bị di động hoặc trong phòng thí nghiệm giấc ngủ sử dụng phương pháp đo đa ký giấc ngủ (1, 2). Tuy nhiên, xét nghiệm có thể không cần thiết nếu nguyên nhân rõ ràng và có thể đảo ngược (ví dụ: đi du lịch đến vùng cao, suy tim).

Khí máu động mạch và nồng độ bicarbonate trong lúc thức giúp phân biệt bệnh lý tăng CO2 máu với giảm CO2 máu. Để chẩn đoán nguyên nhân hệ thống thần kinh trung ương của chứng ngưng thở có tăng CO2 máu, có thể chỉ định chụp não hoặc thân não. Nếu quan sát thấy kiểu thở Cheyne-Stokes, cần tiến hành đánh giá tim, bao gồm cả siêu âm tim.

Tài liệu tham khảo chẩn đoán
1. Baillieul S, Revol B, Jullian-Desayes I, Joyeux-Faure M, Tamisier R, Pépin JL: Diagnosis and management of central sleep apnea syndrome. Expert Rev Respir Med 13(6):545–557, 2019. doi:10.1080/17476348.2019.1604226

2. The American Association of Sleep Medicine: The AASM International Classification of Sleep Disorders – Third Edition, Text Revision (ICSD-3-TR). AASM Darien, IL. 2023.

Đ𝕚𝕖̂̀𝕦 𝕥𝕣𝕚̣ 𝕟𝕘ư𝕟𝕘 𝕥𝕙𝕠̛̉ 𝕥𝕣𝕦𝕟𝕘 ư𝕠̛𝕟𝕘 𝕜𝕙𝕚 𝕟𝕘𝕦̉

Đ𝑖𝑒̂̀𝑢 𝑡𝑟𝑖̣ 𝑐𝑎́𝑐 𝑏ệ𝑛ℎ 𝑙ý 𝑛𝑒̂̀𝑛

𝐶ℎ𝑎̆𝑚 𝑠𝑜́𝑐 ℎ𝑜̂̃ 𝑡𝑟𝑜̛̣

𝑻𝒉𝒖𝒐̂́𝒄 𝒗𝒂̀ 𝒕𝒉𝒊𝒆̂́𝒕 𝒃𝒊̣ 𝒎𝒂́𝒚 𝒉𝒐̂̃ 𝒕𝒓𝒐̛̣ 𝒕𝒉𝒐̛̉

Điều trị chính cho chứng ngưng thở khi ngủ ở trung tâm có triệu chứng thường là kiểm soát tối ưu các bệnh nền (ví dụ: suy tim) và tránh hoặc giảm sử dụng thuốc phiện, rượu và các thuốc an thần khác (1). Điều trị phụ cho bệnh nhân CSA có triệu chứng có thể là một thử nghiệm bổ sung oxy hoặc các chất kích thích hô hấp. Những bệnh nhân khác có thể sử dụng 𝑴𝒂́𝒚 𝒕𝒓𝒐̛̣ 𝒕𝒉𝒐̛̉ 𝒂́𝒑 𝒍𝒖̛̣𝒄 đư𝒐̛̀𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒐̛̉ 𝒅ư𝒐̛𝒏𝒈 𝒗𝒂̀ 𝒄𝒂́𝒄 𝒕𝒉𝒊𝒆̂́𝒕 𝒃𝒊̣ 𝒌𝒉𝒂́𝒄, tùy thuộc vào bệnh nền. Bệnh nhân có các triệu chứng không đáng kể có thể không cần điều trị cụ thể.

Đối với những bệnh nhân có CSA và thở Cheyne-Stokes mặc dù đã tối ưu hóa chức năng tim, việc bổ sung oxy có thể làm giảm các cơn ngừng thở và các cơn giảm thở. Tương tự như vậy,𝑴𝒂́𝒚 𝒕𝒓𝒐̛̣ 𝒕𝒉𝒐̛̉ 𝒂́𝒑 𝒍𝒖̛̣𝒄 đư𝒐̛̀𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒐̛̉ 𝒅ư𝒐̛𝒏𝒈 𝒍𝒊𝒆̂𝒏 𝒕𝒖̣𝒄 (𝑪𝑷𝑨𝑷) đôi khi có thể có hiệu quả trong điều trị suy tim và kiểu thở Cheyne-Stokes bằng cách giảm tình trạng thiếu oxy máu và giảm tiền gánh và giảm hậu gánh.

Các chiến lược thông khí PAP tiên tiến hơn như thông khí hỗ trợ thích ứng (ASV) cũng đã được sử dụng. Các thuật toán thông khí này cung cấp hỗ trợ hô hấp hoặc hơi thở trong thời gian ngưng thở, sau đó giảm hỗ trợ khi bệnh nhân tự thở. Hiệu quả chung là điều hòa thông khí phút. Tuy nhiên, dựa trên kết quả thử nghiệm lâm sàng, ASV chống chỉ định ở những bệnh nhân có phân suất tống máu giảm (2, 3).

Acetazolamide, có tác dụng tăng bài tiết bicarbonate và nhiễm toan chuyển hóa, kích thích hô hấp, có hiệu quả đối với CSA do độ cao và hữu ích ở một số bệnh nhân suy tim.

Tạo nhịp điện của cơ hoành, thường được thực hiện bằng cách kích thích dây thần kinh cơ hoành qua đường tĩnh mạch, là một phương án, chẳng hạn như đối với trẻ em > 2 tuổi bị hội chứng giảm thông khí do trung ương bẩm sinh hoặc đối với người lớn bị ngưng thở khi ngủ do trung ương tái phát có triệu chứng. Hệ thống kích thích cơ hoành hoặc dây thần kinh hoành lập trình được có thể tạo ra một kiểu thở nhịp nhàng giúp ổn định thể tích khí lưu thông, luồng không khí và trao đổi oxy, thúc đẩy hô hấp trong khi ngủ và có khả năng thay đổi tiến triển của bệnh (4).

Tài liệu tham khảo về điều trị
1. Dempsey JA: Central sleep apnea: misunderstood and mistreated! F1000Res. 8:F1000 Faculty Rev-981, 2019. doi: 10.12688/f1000research.18358.1

2. Cowie MR, Woehrle H, Wegscheider K, et al: Adaptive Servo-Ventilation for Central Sleep Apnea in Systolic Heart Failure. N Engl J Med 373(12):1095–1105, 2015. doi:10.1056/NEJMoa1506459

3. Bradley TD, Logan AG, Lorenzi Filho G, et al: Adaptive servo-ventilation for sleep-disordered breathing in patients with heart failure with reduced ejection fraction (ADVENT-HF): a multicentre, multinational, parallel-group, open-label, phase 3 randomised controlled trial. Lancet Respir Med 12(2):153–166, 2024. doi:10.1016/S2213-2600(23)00374-0

4. Schwartz AR, Sgambati FP, James KJ, et al: Novel phrenic nerve stimulator treats Cheyne-Stokes respiration: polysomnographic insights. J Clin Sleep Med 16(5):817–820, 2020. doi: 10.5664/jcsm.8328

🔷𝑴𝒖̀𝒂 𝒍𝒂̣𝒏𝒉 𝒕𝒐̛́𝒊 𝒓𝒐̂̀𝒊 𝑸𝒖𝒚́ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒉𝒂̀𝒏𝒈 𝒏𝒉𝒐̛́ 𝒔𝒖̛̉ 𝒅𝒖̣𝒏𝒈 𝑫𝒂̂𝒚 𝒕𝒉𝒐̛̉ 𝒄𝒐́ 𝒄𝒉𝒖̛́𝒄 𝒏𝒂̆𝒏𝒈 𝑮𝒊𝒂 𝑵𝒉𝒊𝒆̣̂𝒕 đ𝒆̂̉ 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒃𝒊̣ 𝒍𝒂̣𝒏𝒉...
12/01/2026

🔷𝑴𝒖̀𝒂 𝒍𝒂̣𝒏𝒉 𝒕𝒐̛́𝒊 𝒓𝒐̂̀𝒊 𝑸𝒖𝒚́ 𝒌𝒉𝒂́𝒄𝒉 𝒉𝒂̀𝒏𝒈 𝒏𝒉𝒐̛́ 𝒔𝒖̛̉ 𝒅𝒖̣𝒏𝒈 𝑫𝒂̂𝒚 𝒕𝒉𝒐̛̉ 𝒄𝒐́ 𝒄𝒉𝒖̛́𝒄 𝒏𝒂̆𝒏𝒈 𝑮𝒊𝒂 𝑵𝒉𝒊𝒆̣̂𝒕 đ𝒆̂̉ 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒃𝒊̣ 𝒍𝒂̣𝒏𝒉 𝒎𝒖̃𝒊 𝒎𝒊𝒆̣̂𝒏𝒈 𝒗𝒂̀ 𝒕𝒓𝒂́𝒏𝒉 đ𝒐̣𝒏𝒈 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒎𝒂̣̆𝒕 𝒏𝒂̣ 𝒏𝒉𝒆́!
🔔𝑮𝒊𝒂́ 𝑺𝑨𝑳𝑬 𝒏𝒂𝒚 𝒄𝒐̀𝒏 𝒕𝒐̂́𝒕 𝒉𝒐̛𝒏

🟢Mặt nạ chụp mũi thế hệ mới nhất chính hãng BMC N5B với nhiều cải tiến☑️ Bỏ đi phần tì trán giúp thoải mái và tầm nhìn t...
12/01/2026

🟢Mặt nạ chụp mũi thế hệ mới nhất chính hãng BMC N5B với nhiều cải tiến

☑️ Bỏ đi phần tì trán giúp thoải mái và tầm nhìn tốt hơn
☑️ Đi kèm một đoạn ống thở nhỏ mềm vừa giúp kéo dài dây thở vừa giúp cử động dễ dàng hơn nhiều

👉Phù hợp khách hàng đang dùng máy trợ thở Cpap, Auto Cpap khi cần thay mặt nạ đang dùng.

💲 Giá Sale mềm mại 1.200.000đ

✦ Cùng tìm hiểu cách xử trí bệnh phổi tắc nghẽn:➤ Xử trí bệnh PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH (COPD) bao gồm điều trị COPD mạn t...
02/01/2026

✦ Cùng tìm hiểu cách xử trí bệnh phổi tắc nghẽn:

➤ Xử trí bệnh PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH (COPD) bao gồm điều trị COPD mạn tính ổn định và ĐIỀU TRỊ ĐỢT CẤP.

TheoRobert A. Wise, MD, Johns Hopkins Asthma and Allergy Center
Xem xét bởiRichard K. Albert, MD, Department of Medicine, University of Colorado Denver - Anschutz Medical
Đã xem xét/Đã chỉnh sửa Thg 5 2024 | đã sửa đổi Thg 9 2024

Bổ sung oxy
|
Hỗ trợ thông khí
|
Điều trị bằng thuốc
|
Những điểm chính

Xử trí bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) bao gồm điều trị bệnh mạn tính ổn định và điều trị đợt cấp.

Điều trị các đợt cấp bao gồm

Bổ sung oxy

Thuốc giãn phế quản

Corticosteroid

Thuốc kháng sinh

Đôi khi hỗ trợ thông khí với thông khí không xâm lấn hoặc đặt nội khí quản và thông khí

Các mục tiêu trước mắt là để đảm bảo đủ bão hòa oxy và pH máu gần bình thường, giảm tắc nghẽn đường thở, và điều trị nguyên nhân gây đợt cấp.

Nguyên nhân của đợt cấp thường không rõ, mặc dù hầu hết các đợt cấp tính là do nhiễm vi khuẩn hoặc vi rút. Hút thuốc, phơi nhiễm khói bụi, và mức ô nhiễm không khí cao cũng góp phần.

Những bệnh nhân có đợt cấp nhẹ và được hỗ trợ đầy đủ tại nhà thường có thể được điều trị ngoại trú. Bệnh nhân cao tuổi, ốm yếu và bệnh nhân có nhiều bệnh đồng mắc, tiền sử suy hô hấp, hoặc những thay đổi cấp tính trong khí máu được nhập viện để theo dõi và điều trị. Các bệnh nhân đợt cấp đe dọa tính mạng biểu hiện bởi tình trạng thiếu oxy cấp tính từ trung bình đến nặng, nhiễm toan hô hấp cấp tính, loạn nhịp tim mới, hoặc suy giảm chức năng hô hấp mặc dù đã có điều trị tại bệnh viện cần phải được điều trị tại khoa Hồi sức tích cực và theo dõi tình trạng hô hấp thường xuyên.

Oxy trong đợt cấp của COPD
Nhiều bệnh nhân, ngay cả những người không cần hỗ trợ oxy lâu dài, vẫn cần bổ sung oxy trong đợt cấp của COPD. Tăng CO2 máu có thể nặng hơn ở bệnh nhân được cung cấp oxy. Tình trạng xấu hơn này trước đây được nghĩ do hậu quả của sự giảm nhạy cảm của trung tâm hô hấp. Khuyến cáo sử dụng oxy, mặc dù oxy có thể làm nặng thêm tình trạng tăng CO2 máu. Nhiều bệnh nhân COPD có tăng CO2 mạn tính cũng như cấp tính và do đó suy giảm hệ thần kinh trung ương nặng là không thể trừ khi áp lực riêng phần của carbon dioxide động mạch (PaCO2) > 85 mm Hg. Mức mục tiêu cho áp suất riêng phần của oxy động mạch (PaO2) là khoảng 60 mm Hg; mức độ cao hơn mang lại ít lợi ích và làm tăng nguy cơ tăng CO2 máu. Trong hầu hết các trường hợp, nồng độ oxy thấp sẽ cải thiện tình trạng hạ oxy máu. Cần phải có nồng độ oxy cao gợi ý sinh lý đường thông từ phải sang trái và các yếu tố khác gây tăng CO2 máu (ví dụ: viêm phổi hoặc phù phổi).

Ở những bệnh nhân dễ bị tăng CO2 máu (tức là bicarbonate huyết thanh tăng cao có thể cho thấy sự hiện diện của nhiễm toan hô hấp đã được bù), oxy được cung cấp qua ống có ngạnh mũi hoặc mặt nạ Venturi để có thể được kiểm soát chặt chẽ và bệnh nhân được theo dõi chặt chẽ. Những bệnh nhân có tình trạng xấu đi trong quá trình điều trị bằng oxy (ví dụ: những người bị nhiễm toan máu nặng hoặc suy nhược hệ thần kinh trung ương) cần được hỗ trợ thở máy.

Nhiều bệnh nhân cần thở oxy tại nhà lần đầu tiên khi họ được xuất viện sau đợt cấp có cải thiện trong vòng 30 ngày và không còn cần đến oxy nữa. Do đó, nhu cầu sử dụng oxy tại nhà cần được đánh giá lại từ 60 đến 90 ngày sau khi xuất viện.

𝐇𝐨̂̃ 𝐭𝐫𝐨̛̣ 𝐭𝐡𝐨̂𝐧𝐠 𝐤𝐡𝐢́ 𝐭𝐫𝐨𝐧𝐠 đ𝐨̛̣𝐭 𝐜𝐚̂́𝐩 𝐜𝐮̉𝐚 𝐂𝐎𝐏𝐃

Thông khí áp lực dương không xâm lấn (ví dụ: hỗ trợ áp lực hoặc thông khí áp lực dương bằng mặt nạ mặt) là một phương pháp thay thế cho thông khí cơ học hoàn toàn. Thông khí không xâm lấn dường như làm giảm nhu cầu đặt nội khí quản, giảm thời gian nằm viện và giảm tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân bị đợt cấp nặng (được xác định là pH < 7,30 ở những bệnh nhân huyết động ổn định không có nguy cơ ngừng hô hấp ngay lập tức) (1).

Thông khí không xâm nhập không có tác dụng ở bệnh nhân có đợt cấp nhẹ hơn. Tuy nhiên, việc thông khí này có thể được chỉ định cho những bệnh nhân có đợt cấp ít nghiêm trọng hơn mà khí máu động mạch (ABG) trở nên xấu đi mặc dù đã dùng thuốc hoặc liệu pháp oxy ban đầu hoặc những người dường như sắp được thở máy hoàn toàn nhưng không cần đặt nội khí quản để kiểm soát đường thở hoặc thuốc an thần để điều trị tình trạng kích động. Những bệnh nhân bị khó thở nặng và căng phồng phổi quá mức và sử dụng các cơ hô hấp phụ cũng có thể được giảm bớt áp lực đường thở dương. Thất bại trong khi thở không xâm nhập đòi hỏi thở máy xâm nhập.

Các giá trị của khí máu xấu đi, trạng thái tinh thần xấu đi, và suy hô hấp tiến triển là các chỉ định cho đặt nội khí quản và thở máy xâm nhập. Các cài đặt thông số máy thở, chiến lược điều trị và các biến chứng được thảo luận ở bài khác. Các yếu tố nguy cơ phụ thuộc vào thông khí bao gồm

Thể tích thở ra gắng sức trong 1 giây (FEV1) < 0,5 L

Khí máu động mạch ổn định với PaO2 < 50 mm Hg, hoặc PaCO2 > 60 mm Hg

Hạn chế tập thể dục nặng

Tình trạng dinh dưỡng kém

Nếu bệnh nhân có nguy cơ cao, nên bắt đầu thảo luận về mong muốn của họ về đặt nội khí quản và thở máy (xem Chỉ thị trước) trong khi tình trạng của họ ổn định và họ không phải nhập viện. Tuy nhiên, tình trạng lo lắng quá mức về khả năng phụ thuộc vào máy thở không nên làm trì hoãn việc xử trí suy hô hấp cấp tính; nhiều bệnh nhân cần thở máy có thể trở lại tình trạng sức khỏe ở mức trước khi có đợt cấp.

Cũng đã sử dụng liệu pháp oxy qua mũi với lưu lượng cao cho bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp của COPD và có thể thử dùng cho những người không chịu được thông khí bằng mặt nạ không xâm lấn.

Ở những bệnh nhân phải đặt nội khí quản kéo dài (ví dụ: > 2 tuần), mở khí quản được chỉ định để tạo điều kiện thoải mái, giao tiếp và ăn uống. Với một chương trình phục hồi chức năng hô hấp đa phương thức tốt, bao gồm hỗ trợ dinh dưỡng và tâm lý, nhiều bệnh nhân cần thở máy kéo dài có thể được cai máy thở thành công và có thể trở lại mức độ chức năng trước đây của họ.

Luôn có các chương trình đặc biệt dành cho những bệnh nhân phụ thuộc vào máy thở sau khi bị suy hô hấp cấp. Một số bệnh nhân có thể không cần không thở máy trong ngày. Đối với những bệnh nhân được hỗ trợ ở nhà đầy đủ, việc hướng dẫn các thành viên trong gia đình có thể cho phép một số bệnh nhân được đưa về nhà với máy thở.

Ở những bệnh nhân bị tăng CO2 mạn tính nặng phải nhập viện vì đợt cấp, thông khí không xâm lấn về đêm làm giảm tình trạng tăng CO2 máu và có thể cải thiện thời gian sống thêm (2). Phương pháp điều trị này không cải thiện chất lượng cuộc sống lâu dài, vì vậy việc thực hiện nên liên quan đến việc ra quyết định chung với bệnh nhân.

"𝑫𝒖̀ 𝒍𝒐 𝒍𝒂̆́𝒏𝒈 đ𝒆̂́𝒏 𝒔𝒖̛̣ 𝒑𝒉𝒖̣ 𝒕𝒉𝒖𝒐̣̂𝒄 𝒄𝒖̉𝒂 𝒎𝒂́𝒚 𝒕𝒉𝒐̛̉ 𝒄𝒖̃𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒏𝒆̂𝒏 𝒕𝒓𝒊̀ 𝒉𝒐𝒂̃𝒏 𝒗𝒊𝒆̣̂𝒄 đ𝒊𝒆̂̀𝒖 𝒕𝒓𝒊̣ 𝒔𝒖𝒚 𝒉𝒐̂ 𝒉𝒂̂́𝒑 𝒄𝒂̂́𝒑; 𝒏𝒉𝒊𝒆̂̀𝒖 𝒃𝒆̣̂𝒏𝒉 𝒏𝒉𝒂̂𝒏 𝒄𝒂̂̀𝒏 𝒕𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒊́ 𝒄𝒐̛ 𝒉𝒐̣𝒄 𝒄𝒐́ 𝒕𝒉𝒆̂̉ 𝒕𝒓𝒐̛̉ 𝒍𝒂̣𝒊 𝒕𝒊̀𝒏𝒉 𝒕𝒓𝒂̣𝒏𝒈 𝒔𝒖̛́𝒄 𝒌𝒉𝒐̉𝒆 𝒗𝒐̛́𝒊 𝒎𝒖̛́𝒄 𝒏𝒉𝒖̛ 𝒕𝒓𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒌𝒉𝒊 𝒃𝒊̣ đ𝒐̛̣𝒕 𝒄𝒂̂́𝒑."

Tài liệu tham khảo về hỗ trợ thông khí
1. Osadnik CR, Tee VS, Carson-Chahhoud KV, Picot J, Wedzicha JA, Smith BJ. Non-invasive ventilation for the management of acute hypercapnic respiratory failure due to exacerbation of chronic obstructive pulmonary disease. Cochrane Database Syst Rev 2017;7(7):CD004104. Xuất bản ngày 13 tháng 7 năm 2017. doi:10.1002/14651858.CD004104.pub4

1. Raveling T, Vonk J, Struik FM, et al. Chronic non-invasive ventilation for chronic obstructive pulmonary disease. Cochrane Database Syst Rev 2021;8(8):CD002878. Xuất bản ngày 9 tháng 8 năm 2021. doi:10.1002/14651858.CD002878.pub3

Điều trị bằng thuốc trong đợt cấp của COPD cấp tính
Các thuốc chủ vận beta và thuốc kháng cholinergic, có hoặc không có corticosteroid, nên được bắt đầu đồng thời với liệu pháp oxy (bất kể cách dùng oxy) với mục đích làm giảm sự tắc nghẽn đường thở. Methylxanthines, một thuốc được coi là cần thiết trong điều trị đợt cấp của COPD, không còn được sử dụng do độc tính nhiều hơn lợi ích.

Thuốc chủ vận beta
Thuốc chủ vận beta tác dụng ngắn là nền tảng của điều trị bằng thuốc trong các đợt cấp tính. Thuốc được sử dụng rộng rãi nhất là albuterol. Hít thuốc bằng cách sử dụng bình xịt định liều gây giãn phế quản nhanh; không có dữ liệu cho thấy liều dùng với thuốc khí dung có hiệu quả hơn so với cùng liều khi dùng bình xịt định liều. Trong trường hợp co thắt phế quản nặng, không đáp ứng, đôi khi có thể sử dụng phương pháp điều trị bằng khí dung liên tục.

Thuốc kháng cholinergic
Ipratropium, thuốc kháng cholinergic, có hiệu quả trong đợt cấp của COPD và nên được cung cấp đồng thời hoặc xen kẽ với các thuốc chủ vận beta. Liều dùng là 0,25 đến 0,5 mg khí dung hoặc 2 đến 4 lần xịt (17 đến 18 mcg thuốc cho mỗi lần xịt) bằng bình xịt định liều 4 đến 6 giờ một lần. Ipratropium thường có tác dụng giãn phế quản tương tự như liều khuyến nghị thông thường của thuốc chủ vận beta.

Vai trò của thuốc kháng cholinergic tác dụng kéo dài trong điều trị các đợt cấp tính chưa được xác định.

Corticosteroid
Corticosteroid nên được bắt đầu ngay cho tất cả các trường hợp trừ đợt cấp nhẹ. Các lựa chọn bao gồm prednisone 30 đến 60 mg uống 1 lần/ngày trong 5 đến 7 ngày và ngừng trực tiếp hoặc giảm dần trong 7 đến 14 ngày tùy thuộc vào đáp ứng lâm sàng. Một thay thế đường tiêm là methylprednisolone 60 đến 500 mg đường tĩnh mạch 1 lần/ngày trong 3 ngày và sau đó giảm dần trong 7 đến 14 ngày. Những loại thuốc này có tác dụng cấp tính tương đương nhau.

Thuốc kháng sinh
Kháng sinh được khuyến nghị để điều trị đợt cấp ở bệnh nhân có đờm mủ. Một số bác sĩ lâm sàng cho dùng kháng sinh theo kinh nghiệm để thay đổi màu sắc của đờm hoặc các bất thường trên phim X quang ngực không đặc hiệu. Nuôi cấy và nhuộm Gram thường quy là không cần thiết trước khi điều trị trừ khi nghi ngờ có vi khuẩn bất thường hoặc kháng thuốc (ví dụ: ở những bệnh nhân nhập viện, nằm viện hoặc bị suy giảm miễn dịch). Các loại thuốc chống lại hệ thực vật ở miệng được chỉ định.

Việc lựa chọn thuốc được quyết định theo mức độ nhạy cảm của vi khuẩn tại địa phương và tiền sử bệnh nhân. Trimethoprim/sulfamethoxazole, amoxicillin hoặc doxycycline được cho dùng trong 7 ngày đến 14 ngày. Một loại kháng sinh thay thế là azithromycin.

Khi bệnh nhân bị bệnh nặng hoặc có bằng chứng lâm sàng cho thấy vi khuẩn truyền nhiễm có khả năng kháng thuốc, có thể sử dụng các loại thuốc bậc hai phổ rộng hơn. Những loại thuốc này bao gồm amoxicillin/clavulanate, fluoroquinolones (ví dụ: ciprofloxacin, levofloxacin) và cephalosporin thế hệ thứ hai (ví dụ: cefuroxime, cefaclor). Những loại thuốc này có hiệu quả chống lại các chủng Haemophilus influenzae và Moraxella catarrhalis sản sinh ra beta-lactamase (trước đây gọi là Branhamella catarrhalis) nhưng chưa được chứng minh là có hiệu quả hơn các loại thuốc hàng đầu đối với hầu hết bệnh nhân.

Bệnh nhân có thể được hướng dẫn để nhận ra sự thay đổi đờm từ bình thường sang mủ như là một dấu hiệu của đợt cấp sắp tới và bắt đầu một đợt điều trị kháng sinh từ 10 đến 14 ngày.

Nếu có, xét nghiệm nồng độ protein phản ứng C (CRP) thấp có thể hướng dẫn bệnh nhân nào có thể tránh sử dụng kháng sinh (1).

Điều trị dự phòng kháng sinh lâu dài chỉ được khuyến cáo đối với những bệnh nhân có thay đổi cấu trúc của phổi, chẳng hạn như giãn phế quản hoặc kén khí phổi bội nhiễm.

Ở những bệnh nhân có nhiều đợt cấp, sử dụng macrolide kéo dài làm giảm tần số đợt cấp nhưng có thể có những tác dụng bất lợi của thuốc.

Các loại thuốc khác
Thuốc chống ho, chẳng hạn như dextromethorphan và benzonatate, không có vai trò trong điều trị đợt cấp của COPD.

Opioid (ví dụ: codeine, hydrocodone, oxycodone) nên được sử dụng một cách thận trọng để giảm các triệu chứng (ví dụ: cơn bộc phát ho dữ dội, đau) vì những loại thuốc này có thể ức chế ho có đờm, làm suy giảm trạng thái tinh thần và gây táo bón.

Tài liệu tham khảo về điều trị bằng thuốc
1. Butler CC, Gillespie D, White P, et al. C-Reactive Protein Testing to Guide Antibiotic Prescribing for COPD Exacerbations. N Engl J Med 2019;381(2):111-120. doi:10.1056/NEJMoa1803185

Những điểm chính
Hầu hết bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) đều cần bổ sung oxy trong đợt cấp.

Thuốc chủ vận beta tác dụng ngắn dạng hít là nền tảng của điều trị bằng thuốc trong các đợt cấp tính.

Sử dụng kháng sinh nếu bệnh nhân có đợt cấp và đờm mủ.

Cùng tìm hiểu về bệnh khá phổ biến hiện nay:Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)(Viêm phế quản tắc nghẽn mạn tính, Khí ph...
02/01/2026

Cùng tìm hiểu về bệnh khá phổ biến hiện nay:

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)

(Viêm phế quản tắc nghẽn mạn tính, Khí phế thũng)
Theo Robert A. Wise, MD, Johns Hopkins Asthma and Allergy Center
Xem xét bởi Richard K. Albert, MD, Department of Medicine, University of Colorado Denver - Anschutz Medical

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) đặc trưng bởi sự giới hạn về luồng khí thở gây ra do đáp ứng viêm do hít phải các chất khí độc hại, thường là khói thuốc lá. Thiếu hụt alpha-1 antitrypsin và phơi nhiễm nghề nghiệp khác nhau là những nguyên nhân ít gặp hơn ở những bệnh nhân không hút thuốc. Triệu chứng là ho đờm và khó thở phát triển qua nhiều năm; các dấu hiệu thường gặp bao gồm rì rào phế nang giảm, thì thở ra kéo dài và thở khò khè. Các trường hợp nặng có thể có biến chứng do giảm cân, tràn khí màng phổi, các đợt cấp mất bù thường xuyên, suy tim phải và/hoặc suy hô hấp cấp hoặc mạn tính. Chẩn đoán dựa trên bệnh sử, khám thực thể, chụp X-quang ngực và kiểm tra chức năng phổi. Điều trị bằng thuốc giãn phế quản, corticosteroid, và oxy và kháng sinh khi cần thiết. Các thủ thuật giảm thể tích phổi hoặc cấy ghép được sử dụng trong bệnh tiến triển. Thời gian sống thêm trong COPD liên quan đến mức độ nặng của hạn chế luồng khí, tần suất các đợt cấp và sự hiện diện của các bệnh lý đi kèm.

COPD bao gồm

Viêm phế quản tắc nghẽn mạn tính (được xác định trên lâm sàng)

Khí phế thũng (được xác định qua giải phẫu bệnh hay X-quang)

Nhiều bệnh nhân có các đặc điểm của cả hai.

Viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn là viêm phế quản mạn tính có tắc nghẽn luồng khí. Viêm phế quản mạn tính được định nghĩa là ho có đờm trong hầu hết các ngày trong tuần ít nhất là 3 tháng trong 2 năm liên tiếp. Viêm phế quản mạn tính trở thành viêm phế quản tắc nghẽn mạn tính nếu có dấu hiệu tắc nghẽn luồng khí khi đo chức năng hô hấp. Viêm phế quản mạn tính do hen là một tình trạng tương tự, chồng chéo, đặc trưng bởi ho mạn tính, thở khò khè và tắc nghẽn luồng khí có thể hồi phục một phần; nó xảy ra chủ yếu ở những bệnh nhân hút thuốc và có tiền sử hen suyễn. Khi hen suyễn và COPD cùng tồn tại ở cùng một bệnh nhân, điều trị bằng thuốc cần phải tuân theo hướng dẫn về hen suyễn (1).

Khí phế thũng là sự hủy hoại của nhu mô phổi dẫn tới mất sự đàn hồi và mất vách phế nang và sự kéo không khí xuyên tâm, làm tăng xu hướng xẹp đường thở. Giãn phế nang, giới hạn luồng không khí, và bẫy khí theo sau. Vùng chứa khí mở rộng và cuối cùng có thể phát triển các bóng hoặc kén khí phổi. Sự tắc nghẽn đường thở nhỏ được cho là tổn thương sớm nhất xảy ra trước sự phát triển của khí phế thũng.

Tài liệu tham khảo chung
1. Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (GOLD): Diagnosis and assessment. Global Strategy for the Prevention, Diagnosis, and Management of COPD: 2024 report.

Dịch tễ học của COPD
Tại Hoa Kỳ, khoảng 24 triệu người bị hạn chế luồng không khí, trong đó khoảng 16 triệu người có chẩn đoán COPD (1). COPD là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, dẫn đến khoảng 140.000 ca tử vong mỗi năm ở Hoa Kỳ (2). Tỷ lệ mắc, tỷ lệ mắc mới và tỷ lệ tử vong tăng theo độ tuổi. Tỷ lệ hiện mắc cao hơn ở nữ giới nhưng tổng tỷ lệ tử vong là tương tự ở cả hai giới. COPD dường như có tính gia đình do thiếu alpha-1 antitrypsin (thiếu hụt chất ức chế alpha-1 antiprotease).

COPD đang gia tăng trên toàn thế giới do gia tăng hút thuốc và giảm tỷ lệ tử vong do các bệnh truyền nhiễm. Ở một số vùng, việc sử dụng rộng rãi nhiên liệu sinh khối, chẳng hạn như gỗ, cỏ hoặc các vật liệu hữu cơ khác, cũng góp phần làm tăng tỷ lệ hiện hành của COPD. Tỷ lệ tử vong do COPD có thể cao hơn ở các quốc gia thiếu dịch vụ chăm sóc y khoa so với các quốc gia nơi dịch vụ chăm sóc y tế dễ tiếp cận hơn. COPD chiếm 3,23 triệu ca tử vong trên toàn cầu vào năm 2019 và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba.

Đại dịch COVID-19 gây nguy cơ đặc biệt cho bệnh nhân mắc COPD. Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân mắc COPD và COVID-19 là 15% so với 4% ở những người không mắc COPD (3).

Tài liệu tham khảo về dịch tễ học
1. Centers for Disease Control and Prevention: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Cập nhật ngày 30 tháng 6 năm 2023.

2. Centers for Disease Control and Prevention: National Center for Health Statistics: Leading Causes of Death. Cập nhật ngày 22 tháng 1 năm 2022.

3. Meza D, Khuder B, Bailey JI, et al: Mortality from COVID-19 in patients with COPD: A US study in the N3C Data Enclave. Int J Chron Obstruct Pulmon Dis 16:2323–2326, 2021. doi: 10.2147/COPD.S318000

Căn nguyên của COPD
Có 2 nguyên nhân chính gây COPD:

Hút thuốc lá (phơi nhiễm các chất khác ít gặp hơn)

Yếu tố di truyền

Hút thuốc và phơi nhiễm khác qua đường hô hấp
Trong số tất cả các trường hợp phơi nhiễm qua đường hô hấp, hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính ở hầu hết các quốc gia, mặc dù chỉ có khoảng 15% số người hút thuốc bị COPD rõ ràng trên lâm sàng (1). Nguy cơ bị COPD tăng theo cả thời gian (năm hút thuốc) và liều tích lũy (năm bao thuốc) (2). Những người hút thuốc và có phản ứng đường thở từ trước (được xác định bằng mức độ nhạy cảm tăng lên với methacholine dạng hít), ngay cả khi không có hen suyễn trên lâm sàng, có nguy cơ mắc bệnh COPD cao hơn những người không mắc bệnh.

Khói từ nấu ăn và sưởi ấm trong nhà là một yếu tố gây bệnh quan trọng ở những quốc gia nơi thường sử dụng lửa trong nhà để nấu ăn hoặc sưởi ấm (3).

Tiếp xúc với khói thuốc lá thụ động, ô nhiễm không khí và bụi nghề nghiệp (ví dụ: bụi khoáng, bụi bông) hoặc hóa chất hít vào (ví dụ: cadmium) góp phần gây nguy cơ mắc COPD nhưng ít quan trọng hơn so với hút thuốc lá. Trọng lượng cơ thể thấp và rối loạn hô hấp ở trẻ em cũng góp phần gây nguy cơ bị COPD.

Yếu tố di truyền
Rối loạn di truyền nguyên nhân được xác định rõ ràng nhất là thiếu hụt alpha-1 antitrypsin, đây là nguyên nhân quan trọng gây khí thũng ở những người không hút thuốc và làm tăng rõ rệt khả năng mắc bệnh ở những người hút thuốc.

Trong những năm gần đây, đã có 30 biến thể di truyền được tìm thấy có liên quan đến COPD hoặc suy giảm chức năng phổi ở các quần thể được lựa chọn, nhưng không có kết quả nào được chứng minh là có hậu quả như alpha-1 antitrypsin.

Tài liệu tham khảo về căn nguyên
1. Wheaton AG, Liu Y, Croft JB, et al: Chronic Obstructive Pulmonary Disease and Smoking Status - United States, 2017. MMWR Morb Mortal Wkly Rep 68(24):533–538, 2019.

2. Bhatt SP, Kim YI, Harrington KF, et al. Smoking duration alone provides stronger risk estimates of chronic obstructive pulmonary disease than pack-years. Thorax 2018;73(5):414-421.

3. Ortiz-Quintero B, Martínez-Espinosa I, Pérez-Padilla R: Mechanisms of Lung Damage and Development of COPD Due to Household Biomass-Smoke Exposure: Inflammation, Oxidative Stress, MicroRNAs, and Gene Polymorphisms. Cells 12(1):67, 2022.

Sinh lý bệnh của COPD
Các yếu tố khác nhau gây ra giới hạn luồng không khí và các biến chứng khác của COPD.

Viêm
Các phơi nhiễm đường hít có thể khởi phát phản ứng viêm ở đường hô hấp và phế nang dẫn đến bệnh ở những người dễ bị nhạy cảm. Quá trình này được cho là được điểu chỉnh bởi sự gia tăng hoạt tính của protease và sự giảm hoạt tính antiproteinase. Các protease tại phổi, như elastase của bạch cầu trung tính, metalloproteinase của gian bào, và cathepsin, làm giảm elastin và mô liên kết trong quá trình sửa chữa mô thông thường. Hoạt tính của chúng thường được cân bằng bởi các chất chống oxy hoá, như alpha-1 antitrypsin, chất ức chế leukoproteinase có nguồn gốc từ biểu mô đường thở, elafin và chất ức chế men metalloproteinase. Ở những bệnh nhân COPD, bạch cầu trung tính được hoạt hóa và các tế bào viêm khác giải phóng proteases như một phần của quá trình viêm; hoạt tính protease vượt quá hoạt tính antiprotease, hậu quả là sự phá hủy mô liên kết và tăng tiết chất nhầy.

Việc kích hoạt bạch cầu trung tính và đại thực bào cũng dẫn đến sự tích tụ các gốc tự do, anion superoxide và hydrogen peroxide, ức chế các chất kháng protease và gây co thắt phế quản, phù nề niêm mạc và tăng tiết chất nhầy. Tổn thương oxy hóa do bạch cầu trung tính gây ra, giải phóng các peptide thần kinh chức năng (ví dụ: bomesin) và giảm mức độ yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF) có thể góp phần phá hủy nhu mô phổi theo chương trình.

Đáp ứng viêm ở COPD tăng lên theo mức độ nặng của bệnh, và khi bệnh ở giai đoạn nặng, đáp ứng viêm không được giải quyết hoàn toàn mặc dù đã ngừng hút thuốc. Tình trạng viêm mạn tính này dường như không đáp ứng với corticosteroid, đặc biệt là ở những bệnh nhân tiếp tục hút thuốc lá (1).

Áp lực cơ học lên phế nang do giãn quá mức có thể khiến phế nang nhạy cảm với protease, dẫn đến phá hủy vách phế nang và khí phế thũng tiến triển. Điều này đặc biệt đáng chú ý ở các thùy trên của phổi (2).

Nhiễm trùng
Nhiễm trùng đường hô hấp (bệnh mà bệnh nhân COPD dễ mắc phải) có thể làm tăng tiến triển tình trạng phá hủy phổi.

Vi khuẩn, đặc biệt là Haemophilus influenzae, xâm chiếm đường hô hấp dưới của khoảng 30% số bệnh nhân mắc COPD (3). Ở những bệnh nhân bị ảnh hưởng nặng hơn (ví dụ, những bệnh nhân nhập viện trước đó), việc có Pseudomonas aeruginosa hoặc các vi khuẩn gram âm khác cư trú là phổ biến. Hút thuốc lá và tắc nghẽn đường thở có thể dẫn đến suy giảm làm sạch chất nhầy ở đường hô hấp dưới, điều này dẫn tới nhiễm trùng. Lặp đi lặp lại các đợt nhiễm trùng làm tăng gánh nặng của đáp ứng viêm, làm tăng quá trình tiến triển bệnh. Tuy nhiên, không có bằng chứng là việc sử dụng kháng sinh dài hạn làm chậm sự tiến triển của COPD.

Hạn chế luồng không khí
Đặc điểm sinh bệnh học chủ yếu của COPD là hạn chế luồng không khí do hẹp đường dẫn khí và/hoặc tắc nghẽn, mất phản xạ co giãn, hoặc cả hai.

Hẹp đường dẫn khí và tắc nghẽn gây ra bởi đáp ứng viêm trung gian tăng tiết chất nhầy, nhầy niêm mạc, phù niêm mạc, co thắt phế quản, xơ dày thành đường thở, và tái cấu trúc các đường thở nhỏ hoặc các cơ chế này kết hợp nhau. Vách phế nang bị phá hủy, làm giảm sự gắn kết nhu mô với đường thở và do đó tạo điều kiện xẹp đường thở trong thì thở ra.

Các khoang phế nang mở rộng đôi khi ghép với nhau thành kén khí, được định nghĩa là khoảng khí có đường kính ≥ 1 cm. Kén hơi có thể hoàn toàn trống rỗng hoặc có các sợi mô phổi đi ngang qua các kén hơi đó ở những vùng khí thũng nặng cục bộ; đôi khi các kén hơi chiếm toàn bộ một nửa lồng ngực. Những thay đổi này dẫn đến sự mất đàn hồi và sự tăng thể tích phổi.

Tăng sức đề kháng đường thở làm tăng công hít thở. Tăng thể tích phổi, mặc dù nó làm giảm sự đề kháng đường thở, cũng làm tăng công của việc thở. Công việc thở nhiều hơn có thể dẫn đến giảm thông khí phế nang với tình trạng thiếu oxy và tăng CO2 máu, mặc dù tình trạng thiếu oxy và tăng CO2 máu cũng có thể do thông khí/tưới máu (V/Q) không phù hợp.

Các biến chứng
Ngoài giới hạn luồng không khí và thỉnh thoảng có suy hô hấp, các biến chứng bao gồm

Tăng áp động mạch phổi

Nhiễm trùng đường hô hấp

Giảm cân và các bệnh lý đồng mắc khác

Tình trạng thiếu oxy phế nang mạn tính làm tăng trương lực mạch máu phổi, nếu lan tỏa sẽ gây tăng áp động mạch phổi và bệnh tâm phế. Tăng áp lực mạch máu phổi có thể tăng lên do sự phá huỷ của giường mao mạch phổi do phá hủy vách phế nang.

Nhiễm trùng hô hấp do virut hoặc vi khuẩn thường xảy ra ở những bệnh nhân COPD và gây ra một tỷ lệ lớn các đợt cấp của bệnh. Hiện nay người ta cho rằng nhiễm khuẩn cấp tính là do việc xâm nhập của các chủng vi khuẩn mới hơn là sự phát triển quá mức của vi khuẩn định cư mạn tính.

Giảm cân có thể xảy ra, có lẽ là do không đủ lượng calo nạp vào và tăng mức độ lưu hành của yếu tố hoại tử khối u (TNF)-alpha. Tình trạng sụt cân này có thể là do sự không phù hợp giữa tiêu hao calo và lượng dinh dưỡng đưa vào vì tiêu hao calo có thể cao khi có tăng cao các cytokine gây viêm và tình trạng thiếu oxy trong máu.

Các rối loạn cùng tồn tại hoặc phức tạp khác ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống và/hoặc thời gian sống thêm bao gồm loãng xương, trầm cảm, lo lắng, bệnh động mạch vành, rối loạn nhịp tim, ung thư phổi và các bệnh ung thư khác, teo cơ và trào ngược dạ dày thực quản. Mức độ của rối loạn là hậu quả của COPD, hút thuốc, và viêm hệ thống đi kèm là không rõ ràng.

Tài liệu tham khảo sinh bệnh học
1. Adcock IM, Bhatt SP, Balkissoon R, Wise RA: The Use of Inhaled Corticosteroids for Patients with COPD Who Continue to Smoke Ci******es: An Evaluation of Current Practice. Am J Med 135(3):302–312, 2022. doi:10.1016/j.amjmed.2021.09.006

2. Suki B, Sato S, Parameswaran H, Szabari MV, Takahashi A, Bartolák-Suki E: Emphysema and mechanical stress-induced lung remodeling. Physiology (Bethesda) 28(6):404–413, 2013. doi:10.1152/physiol.00041.2013

3. Short B, Carson S, Devlin AC, et al: Non-typeable Haemophilus influenzae chronic colonization in chronic obstructive pulmonary disease (COPD). Crit Rev Microbiol 47(2):192–205, 2021. https://doi.org/10.1080/1040841X.2020.1863330

Triệu chứng và Dấu hiệu của COPD
COPD cần nhiều năm để bộc lộ và tiến triển.

Ho có đờm thường là triệu chứng ban đầu, phát triển ở những người hút thuốc và ở độ tuổi 40 và 50.

Khó thở tiến triển, dai dẳng, khi gắng sức hoặc trầm trọng hơn khi bị nhiễm trùng đường hô hấp, xuất hiện khi bệnh nhân ở độ tuổi cuối 50 hoặc 60.

Triệu chứng thường tiến triển nhanh chóng ở những bệnh nhân tiếp tục hút thuốc lá và ở những người bị phơi nhiễm thuốc lá lâu hơn. Đau đầu buổi sáng phát triển trong các chứng bệnh nặng hơn và báo hiệu sự tăng CO2 hay thiếu oxy ban đêm.

Dấu hiệu COPD bao gồm thở khò khè, thì thở ra kéo dài, tăng thể tích phổi biểu hiện như giảm tiếng tim và phổi, và tăng đường kính trước sau của lồng ngực (lồng ngực hình thùng).

Các dấu hiệu của bệnh tiến triển bao gồm thở mím môi, sử dụng cơ hô hấp phụ, chuyển động ngược chiều vào trong của khung xương sườn dưới khi cảm hứng (dấu hiệu Hoover) và tím tái. Các dấu hiệu của bệnh tâm phế bao gồm giãn tĩnh mạch cổ, tiếng tim thứ hai tách đôi với phần tiếng van động mạch phổi nổi bật, tiếng thổi do suy van ba lá và phù ngoại biên. Thấy thất phải đập mạnh lên thường ít gặp ở COPD vì phổi bị tăng thể tích.

Bệnh nhân bị khí phế thũng nặng bị giảm cân và trải qua sự mất khối lượng cơ do tình trạng giảm hoạt động, giảm oxy, hoặc giải phóng các chất trung gian gây viêm, như TNF-alpha.

Có thể xảy ra tràn khí màng phổi tự phát (có thể liên quan đến vỡ kén khí) và nên nghi ngờ ở bất cứ bệnh nhân nào bị COPD có tình trạng phổi đột ngột nặng lên.

Các triệu chứng có thể được phân loại theo hoạt động nào gây khó thở (xem bảng Đo lường tình trạng khó thở bằng Bảng câu hỏi mMRC).

Bảng
Đo lường tình trạng khó thở bằng cách sử dụng Bảng câu hỏi sửa đổi của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Anh (mMRC)

Đo lường tình trạng khó thở bằng cách sử dụng Bảng câu hỏi sửa đổi của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Anh (mMRC)
Mức độ

Khó thở

Khó thở khi tập luyện gắng sức mạnh

Xảy ra khi vội vã trên đường bằng hoặc đi lên dốc nhẹ

Đi bộ chậm hơn so với những người ở cùng độ tuổi trên đường bằng

hoặc là

Phải ngừng lại để thở khi đi bộ với cùng tốc độ của họ lên đường bằng

Phải ngừng lại để thở sau khi đi bộ khoảng 100 mét hoặc sau vài phút trên đường bằng

Ngăn người đó ra khỏi nhà

hoặc là

Xảy ra khi mặc quần áo hoặc cởi quần áo

Phỏng theo Mahler DA, Wells CK: Evaluation of clinical methods for rating dyspnea. Chest 93:580–586, 1988.

Các đợt cấp
Các đợt cấp tính xảy ra rải rác trong quá trình mắc COPD và được báo hiệu bằng mức độ nặng của các triệu chứng tăng lên. Nguyên nhân cụ thể của bất kỳ đợt cấp nào không phải lúc nào cũng xác định được, nhưng các đợt cấp thường được cho là do các vi rút gây các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp trên, viêm phế quản cấp do vi khuẩn hoặc tiếp xúc với các chất kích thích hô hấp. Khi COPD tiến triển, các đợt cấp tính có xu hướng trở nên thường xuyên hơn, trung bình khoảng 1 đợt đến 3 đợt/năm.

Chẩn đoán COPD
Chẩn đoán hình ảnh lồng ngực

Đo chức năng hô hấp

Chẩn đoán được gợi ý dựa trên bệnh sử, khám thực thể, kết quả chẩn đoán hình ảnh ngực và được xác nhận bằng các xét kiểm tra chức năng phổi. Các triệu chứng tương tự có thể là do hen, suy tim và giãn phế quản (Xem bảng Chẩn đoán phân biệt của COPD). COPD và hen đôi khi dễ bị nhầm lẫn và có thể cùng tồn tại.

Bảng
Chẩn đoán phân biệt COPD
Các bệnh lý hệ thống có thể có một phần hạn chế luồng khí gợi ý COPD; các bệnh lý này bao gồm nhiễm HIV, lạm dụng các loại thuốc bất hợp pháp (đặc biệt là co***ne và amphetamine), bệnh sarcoid, hội chứng Sjögren, viêm tiểu phế quản tắc nghẽn, bệnh u cơ trơn mạch bạch huyết và u hạt do tăng bạch cầu ái toan. COPD có thể được phân biệt với các bệnh phổi kẽ bằng hình ảnh chụp ngực cho thấy dấu hiệu tăng dần trong bệnh phổi kẽ và xét nghiệm chức năng phổi cho thấy khiếm khuyết thông khí hạn chế hơn là khiếm khuyết thông khí tắc nghẽn. Ở một số bệnh nhân, COPD và ILD cùng tồn tại (kết hợp xơ phổi và khí phế thũng [CPFE]), trong đó thể tích phổi được giữ nguyên một cách tương đối, nhưng sự trao đổi khí suy giảm nghiêm trọng.

Kiểm tra chức năng hô hấp
Bệnh nhân nghi ngờ bị COPD nên được kiểm tra chức năng hô hấp để xác định giới hạn luồng không khí, để định lượng mức độ nặng và khả năng hồi phục, và để phân biệt COPD với các rối loạn khác. (Một số chuyên gia khuyên nên sàng lọc chức năng phổi sàng lọc cho tất cả bệnh nhân có tiền sử hút thuốc.) Xét nghiệm đo chức năng hô hấp cũng rất hữu ích cho việc theo dõi tiến triển của bệnh và theo dõi đáp ứng điều trị. Các xét nghiệm chẩn đoán chính là

FEV1: Thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên sau khi hít vào gắng sức

Dung tích sống thở mạnh (FVC): Tổng lượng không khí đã thở ra với sự gắng sức lớn nhất.

Vòng lặp lưu lượng-thể tích: Ghi lại đồng thời phế dung kế của luồng không khí và thể tích trong thời gian hết hạn tối đa bắt buộc và cảm hứng

Giảm FEV1, FVC, và tỷ lệ FEV1/FVC là dấu hiệu xác nhận giới hạn luồng không khí. Vòng lặp lưu lượng-thể tích hiển thị dạng lõm trong đường thở ra.

Có 2 con đường cơ bản mà COPD có thể phát triển và biểu hiện với các triệu chứng trong cuộc sống sau này:

Trong con đường đầu tiên, bệnh nhân có thể có chức năng phổi bình thường ở tuổi trưởng thành sớm, sau đó FEV1 giảm nhanh hơn (≥ 60 mL/năm).

Với con đường thứ hai, bệnh nhân bị suy giảm chức năng phổi ở tuổi trưởng thành sớm, thường liên quan đến bệnh hen suyễn hoặc các bệnh hô hấp khác ở trẻ em. Ở những bệnh nhân này, COPD có thể biểu hiện sự suy giảm FEV1 bình thường theo tuổi tác (khoảng 30 mL/năm).

Mặc dù mô hình con đường thứ hai này hữu ích về mặt khái niệm nhưng vẫn có thể có nhiều quỹ đạo riêng lẻ (1). Khi FEV1 giảm xuống dưới khoảng 1 L, bệnh nhân sẽ khó thở trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (mặc dù khó thở có liên quan chặt chẽ hơn đến căng phồng phổi quá mức do động học [căng phồng phổi quá mức tiến triển do thở ra không hoàn toàn] hơn là mức độ hạn chế luồng khí). Khi FEV1 giảm xuống dưới khoảng 0,8 L, bệnh nhân có nguy cơ bị thiếu oxy máu, tăng CO2 máu và bệnh tâm phế.

FEV1 và FVC được đo dễ dàng bằng phép đo phế dung phòng mạch. Giá trị tham chiếu chuẩn được xác định theo độ tuổi, giới tính và chiều cao của bệnh nhân. Khuyến nghị không nên sử dụng chủng tộc để tính toán các giá trị tham chiếu dự đoán (2). Mức độ nặng hạn chế luồng khí ở bệnh nhân COPD và FEV1/FVC < 0,70 có thể được phân loại dựa trên FEV1 sau dùng thuốc giãn phế quản (3):

Nhẹ: dự đoán ≥ 80%

Trung bình: 50% đến 79% dự đoán

Nặng: 30% đến 49% dự đoán

Rất nặng: dự đoán < 30%

Bổ sung đo chức năng hô hấp là cần thiết chỉ trong những trường hợp cụ thể, chẳng hạn như trước khi làm thủ thuật giảm thể tích phổi. Các xét nghiệm khác có thể bao gồm

Tăng dung tích toàn phổi

Tăng dung tích cặn chức năng

Tăng thể tích khí cặn

Giảm dung tích sống

Giảm khả năng khuếch tán carbon monoxide (DLCO)

Phát hiện về tăng dung tích toàn phổi, dung tích cặn chức năng và thể tích khí cặn có thể giúp phân biệt COPD khỏi bệnh phổi hạn chế, các bệnh có các thể tích đó giảm đi.

DLCO giảm không đặc hiệu và giảm trong các rối loạn khác ảnh hưởng đến giường mạch phổi, chẳng hạn như bệnh phổi kẽ, nhưng có thể giúp phân biệt khí phế thũng với hen suyễn, trong đó DLCO bình thường hoặc tăng cao.

Phương pháp chẩn đoán hình ảnh
Phim X-quang ngực có thể có những dấu hiệu đặc trưng. Ở bệnh nhân khí phế thũng, những thay đổi có thể bao gồm tăng thể tích phổi biểu hiện vòm hoành nằm ngang (tức là tăng góc được hình thành bởi xương ức và màng phổi phía trước trên phim chụp nghiêng từ giá trị bình thường là 45° đến > 90°), mạch máu rốn phổi thon vào nhanh và bóng khí (tức là, khoảng thấu quang > 1 cm bao quanh bởi đường cong, viền mỏng). Các phát hiện điển hình khác bao gồm mở rộng vùng trời sau màng cứng và bóng tim hẹp. Sự thay đổi khí phế thũng xuất hiện chủ yếu ở đáy phổi gợi ý thiếu alpha-1 antitrypsin. Phổi có thể bình thường hoặc tăng sáng thứ phát do giảm nhu mô. Ở những bệnh nhân bị viêm phế quản tắc nghẽn mạn tính, phim X quang ngực có thể bình thường hoặc có thể cho thấy sự gia tăng các dấu hiệu mạch máu phế quản hai đáy do dày thành phế quản.

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (phim X-quang phổi)

Hình ảnh
Được sự cho phép của nhà xuất bản. Theo Barnes P. Trong Bone's Atlas of Pulmonary and Critical Care Medicine. Biên tập bởi J Crapo. Philadelphia, Current Medicine, 2005.

COPD có túi khí

Rốn phổi đậm gợi ý động mạch phổi ở trung tâm phình to có thể biểu hiện tăng áp động mạch phổi. Phì đại thất phải xảy ra trong bệnh tâm phế có thể bị che lấp bởi tình trạng căng phồng phổi quá mức hoặc có thể biểu hiện dưới dạng lấn bóng tim vào khoang sau xương ức hoặc do bóng tim ngang rộng hơn so với các phim X quang ngực trước đó.

CT ngực có thể tiết lộ những bất thường không rõ ràng trên phim X quang ngực và cũng có thể gợi ý các rối loạn kèm theo hoặc các rối loạn gây biến chứng, chẳng hạn như viêm phổi, bệnh bụi phổi hoặc ung thư phổi. CT giúp đánh giá mức độ và sự phân bố khí phế thũng, ước tính bằng phương pháp quan sát hoặc phân tích mật độ phổi. Chỉ định chụp CT ở bệnh nhân COPD bao gồm đánh giá các thủ thuật giảm thể tích phổi, nghi ngờ các rối loạn kèm theo hoặc rối loạn gây biến chứng không rõ ràng hoặc bị loại trừ trên phim X-quang ngực, nghi ngờ ung thư phổi và sàng lọc ung thư phổi. Đường kính động mạch phổi mở rộng lớn hơn đường kính động mạch chủ lên gợi ý tăng áp động mạch phổi (4).

Các xét nghiệm bổ trợ
Nên đo nồng độ alpha-1 antitrypsin ở bệnh nhân < 50 tuổi bị COPD có triệu chứng và ở bệnh nhân thuộc mọi lứa tuổi bị COPD không hút thuốc để phát hiện tình trạng thiếu hụt alpha-1 antitrypsin. Các chỉ định khác về sự thiếu hụt alpha-1 antitrypsin bao gồm tiền sử gia đình có tiền sử COPD hay bệnh gan không giải thích được, phân bố khí phế thũng thùy dưới và COPD liên quan đến viêm mạch máu do kháng thể kháng bào tương bạch cầu (ANCA). Nếu nồng độ alpha-1 antitrypsin thấp, chẩn đoán cần được xác nhận bằng xét nghiệm di truyền để xác định kiểu hình alpha-1 antitrypsin.

ECG, thường được thực hiện để loại trừ các nguyên nhân gây khó thở do tim, điển hình cho thấy điện thế QRS thấp với một trục tim thẳng đứng gây ra bởi khí phế thũng và tăng điện thế sóng P hoặc trục sóng P chuyển phải của do tâm nhĩ phải phì đại ở bệnh nhân khí phế thũng nặng. Dấu hiệu phì đại thất phải bao gồm sóng R hoặc R′ cao bằng hoặc cao hơn sóng S ở chuyển đạo V1; sóng R nhỏ hơn sóng S ở chuyển đạo V6; trục lệch phải > 110° không có blốc nhánh phải; hoặc phối hợp nào đó của những dấu hiệu này. Nhịp nhanh nhĩ đa ổ, loạn nhịp có thể kèm theo COPD, biểu hiện như nhịp tim nhanh với sóng P đa hình và các khoảng PR thay đổi.

Siêu âm tim đôi khi hữu ích để đánh giá chức năng thất phải và tăng áp động mạch phổi, mặc dù không khí bẫy gây khó khăn về mặt kỹ thuật ở bệnh nhân COPD. Siêu âm tim thường được chỉ định khi nghi ngờ có bệnh của tâm thất trái hoặc bệnh lý van tim.

Hemoglobin và hematocrit có rất ít giá trị chẩn đoán trong đánh giá COPD nhưng có thể cho thấy đa hồng cầu (Hemtocrit > 48%) nếu bệnh nhân bị hạ oxy máu mạn tính. Bệnh nhân bị thiếu máu (vì các lý do khác với COPD) có khó thở nặng không tương xứng. Công thức bạch cầu có thể hữu ích. Các bằng chứng ngày càng tăng cho thấy bạch cầu ái toan dự đoán đáp ứng với corticosteroid dạng hít.

Chất điện giải trong huyết thanh có ít giá trị nhưng có thể cho thấy nồng độ bicarbonate cao nếu bệnh nhân bị tăng CO2 mạn tính. Khí máu tĩnh mạch rất hữu ích để chẩn đoán tăng CO2 máu cấp tính hoặc mạn tính.

Đánh giá đợt cấp
Bệnh nhân bị đợt cấp tính thường có sự kết hợp của tình trạng tăng ho, đờm, khó thở và công thở, cũng như độ bão hòa oxy thấp được xác định bằng đo độ bão hòa oxy trong mạch, toát mồ hôi, nhịp tim nhanh, lo lắng và tím tái. Bệnh nhân bị các đợt cấp đi kèm với việc ứ đọng CO2 có thể bị hôn mê hoặc ngủ gà, có biểu hiện rất khác nhau.

Tất cả các bệnh nhân cần phải nằm viện vì bị đợt cấp cần được làm xét nghiệm để xác định thiếu oxy máu và tăng CO2. Tăng CO2 có thể tồn tại mà không có giảm oxy máu.

Các dấu hiệu về áp suất riêng phần oxy động mạch (PaO2) < 50 mm Hg, hoặc áp suất riêng phần carbon dioxide trong máu động mạch (PaCO2) > 50 mm Hg, hoặc áp suất riêng phần carbon dioxide trong máu tĩnh mạch (PvCO2) > 55 mm Hg ở bệnh nhân với toan máu do hô hấp (pH < 7,35) xác định suy hô hấp cấp tính. Một số bệnh nhân biểu hiện nồng độ PaO2 và PaCO2 lâu dài như vậy trong trường hợp không có suy hô hấp cấp tính.

Phim chụp X quang ngực thường được thực hiện để kiểm tra viêm phổi hoặc tràn khí màng phổi. Siêu âm tại giường (POCUS) có thể là một thủ thuật bổ trợ hữu ích để chẩn đoán nhanh viêm phổi hoặc tràn khí màng phổi. Ở những bệnh nhân khởi phát triệu chứng cấp tính, chụp CT mạch ngực được thực hiện để kiểm tra thuyên tắc mạch phổi. Rất hiếm khi, trong số những bệnh nhân dùng corticosteroid hệ thống kéo dài, thâm nhiễm có thể biểu hiện viêm phổi do Aspergillus.

Đờm màu vàng hoặc xanh là một chỉ số đáng tin cậy của bạch cầu trung tính trong đờm và cho thấy vi khuẩn cư trú hoặc nhiễm khuẩn.

Cấy đờm thường được thực hiện ở bệnh nhân nhập viện nhưng thường không cần thiết ở bệnh nhân ngoại trú. Trong các mẫu từ bệnh nhân ngoại trú, nhuộm Gram thường cho thấy bạch cầu trung tính với một hỗn hợp của vi khuẩn, thường là các cầu khuẩn gram dương (Streptococcus pneumoniae), trực khuẩn gram âm (H. influenzae), hoặc cả hai. Tuy nhiên, nuôi cấy và kiểm tra đờm trên kính hiển vi thường không cần thiết đối với bệnh nhân ngoại trú. Các vi sinh vật hội sinh ở hầu họng khác, chẳng hạn như Moraxella catarrhalis (trước đây gọi là Branhamella catarrhalis), đôi khi gây ra các đợt cấp. Ở những bệnh nhân nhập viện, các vi khuẩn gram âm kháng thuốc (ví dụ: Pseudomonas) hoặc hiếm khi là Staphylococcus có thể được xác định trong các mẫu bệnh phẩm nuôi cấy.

Trong mùa cúm, xét nghiệm cúm nhanh sẽ dẫn hướng điều trị bằng thuốc chống cúm và bảng xét nghiệm vi rút đường hô hấp đối với vi rút hợp bào hô hấp (RSV), rhinovirus và metapneumovirus có thể cho phép điều chỉnh liệu pháp kháng khuẩn. Xét nghiệm tìm COVID-19 và xem xét các liệu pháp đặc hiệu với COVID-19 cũng được chỉ định.

Protein phản ứng C (CRP) trong huyết thanh rất hữu ích trong việc hướng dẫn sử dụng kháng sinh trong đợt cấp. Trong các thử nghiệm lâm sàng, việc sử dụng kháng sinh có thể giảm ở những bệnh nhân có CRP thấp mà không có bằng chứng về tác hại (5, 6).

Tài liệu tham khảo chẩn đoán
1. Lange P, Celli B, Agusti A, et al: Lung-function trajectories leading to chronic obstructive pulmonary disease. N Engl J Med 373(2):111–122, 2015.

2. Bhakta NR, Bime C, Kaminsky DA, et al: Race and ethnicity in pulmonary function test interpretation: An Official American Thoracic Society Statement. Am J Respir Crit Care Med 207(8):978–995, 2023. doi:10.1164/rccm.202302-0310ST

3. Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (GOLD): Diagnosis and assessment. Global Strategy for the Prevention, Diagnosis, and Management of COPD: 2024 report.

4. Iyer AS, Wells JM, Vishin S, et al: CT scan-measured pulmonary artery to aorta ratio and echocardiography for detecting pulmonary hypertension in severe COPD. Chest 145(4):824–832, 2014.

5. Butler CC, Gillespie D, White P, et al: C-Reactive protein testing to guide antibiotic prescribing for COPD exacerbations. N Engl J Med 381(2):111–120, 2019. doi: 10.1056/NEJMoa1803185

6. Prins HJ, Duijkers R, van der Valk P, et al: CRP-guided antibiotic treatment in acute exacerbations of COPD in hospital admissions. Eur Respir J 53(5):1802014, 2019. doi: 10.1183/13993003.02014-2018

Điều trị COPD
(Xem thêm Điều trị COPD ổn định và Điều trị đợt cấp của COPD.)

Cai thuốc lá

Thuốc giãn phế quản đường hít, thuốc corticosteroid, hoặc cả hai

Chăm sóc hỗ trợ (ví dụ, liệu pháp oxy, phục hồi chức năng hô hấp)

Quản lý COPD bao gồm điều trị bệnh giai đoạn ổn định và phòng ngừa và điều trị các đợt cấp. Điều trị tâm phế mạn, một biến chứng thường gặp của COPD nặng, kéo dài, được thảo luận ở bài khác.

Cai thuốc lá rất quan trọng trong điều trị COPD.

Điều trị COPD giai đoạn ổn định nhằm phòng các đợt cấp và cải thiện chức năng và sinh lý phổi. Điều trị làm giảm các triệu chứng nhanh chóng bằng các thuốc chủ yếu là beta-adrenergic tác dụng ngắn và giảm đợt cấp bằng corticosteroid dạng hít, thuốc beta-adrenergic tác dụng kéo dài, thuốc kháng cholinergic tác dụng kéo dài hoặc một dạng phối hợp (xem bảng Điều trị COPD bằng thuốc).

Phục hồi chức năng hô hấp bao gồm đào tạo tập thể dục có cấu trúc và giám sát, tư vấn dinh dưỡng, và giáo dục tự quản lý.

Liệu pháp oxy được chỉ định cho một số bệnh nhân.

Điều trị các đợt cấp đảm bảo đủ oxy và pH máu gần bình thường, đảo ngược sự tắc nghẽn đường thở, và điều trị bất kỳ nguyên nhân nào gây đợt cấp.

Tiêm chủng cúm, phế cầu, COVID-19 và vi rút hợp bào hô hấp (RSV – ở bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên) cũng nên được khuyến nghị làm một biện pháp phòng ngừa.

Chăm sóc cuối đời
Với bệnh nhân tình trạng bệnh rất nặng, việc gắng sức là không đảm bảo và các hoạt động sinh hoạt hàng ngày được sắp xếp để tiêu tốn năng lượng tối thiểu. Ví dụ, bệnh nhân có thể sắp xếp sống trên một tầng của nhà, có một số bữa ăn nhỏ thay vì ăn nhiều hơn một lúc, và tránh mang giày phải buộc dây. Chăm sóc cuối đời cần được thảo luận, bao gồm việc tiếp tục thông khí cơ học, sử dụng thuốc giảm nhẹ và chỉ định một người ra quyết định y khoa thay thế trong trường hợp bệnh nhân mất khả năng.

Tiên lượng về COPD
Mức độ nặng của tắc nghẽn đường thở dự đoán sự sống còn ở bệnh nhân COPD. Với FEV1 dự đoán từ 35% đến 55%, tỷ lệ tử vong trong 5 năm là 40% (1). Đối với dự đoán FEV1 dưới 35%, tỷ lệ tử vong trong 5 năm là 55% (1).

Dự đoán chính xác hơn về nguy cơ tử vong có thể bằng cách đồng thời đo chỉ số khối cơ thể (B), mức độ tắc nghẽn đường thở (O, đó là FEV1), khó thở (D, được đo bằng cách sử dụng thang điểm của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Anh Quốc sửa đổi (mMRC)), và khả năng gắng sức (E, được đo bằng nghiệm pháp đi bộ 6 phút); đây là chỉ số BODE. Ngoài ra, tuổi già và sự hiện diện của bệnh tim, thiếu máu, nhịp tim nhanh khi nghỉ ngơi, tăng CO2 máu hoặc hạ oxy máu dự đoán thời gian sống thêm giảm, trong khi đáp ứng đáng kể với thuốc giãn phế quản dự đoán thời gian sống thêm được cải thiện. Những yếu tố nguy cơ tử vong ở bệnh nhân bị đợt cấp phải nhập viện bao gồm tuổi già, PaCO2 cao và sử dụng corticosteroid đường uống thường xuyên.

Công cụ tính toán lâm sàng
Chỉ số BODE dự đoán thời gian sống thêm COPD

Công cụ tính toán lâm sàng
Bệnh nhân có nguy cơ tử vong cao là những bệnh nhân có giảm cân rõ rệt không rõ nguyên nhân hoặc suy giảm chức năng nghiêm trọng (ví dụ những người gặp khó thở với việc tự chăm sóc, chẳng hạn như mặc quần áo, tắm hoặc ăn uống).

Tỷ lệ tử vong trong COPD có thể do các bệnh đi kèm (ví dụ: bệnh tim mạch, ung thư) hoặc các bệnh gian phát hơn là do sự tiến triển của bệnh nền ở những bệnh nhân đã ngừng hút thuốc. Tử vong thường do suy hô hấp cấp, viêm phổi, ung thư phổi, bệnh tim, hoặc tắc mạch phổi.

Tài liệu tham khảo về tiên lượng bệnh
1. Almagro P, Martinez-Camblor P, Soriano JB, et al: Finding the best thresholds of FEV1 and dyspnea to predict 5-year survival in COPD patients: the COCOMICS study. PLoS One 9(2):e89866, 2014. doi: 10.1371/journal.pone.0089866

Những điểm chính
Hút thuốc lá ở những người nhạy cảm là nguyên nhân chính gây ra bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) ở các nước phát triển.

Chẩn đoán COPD và phân biệt nó với các bệnh lý có đặc điểm tương tự (ví dụ: hen, suy tim) chủ yếu dựa vào thông tin lâm sàng thường quy, chẳng hạn như các triệu chứng (đặc biệt là diễn biến theo thời gian), tuổi khởi phát, các yếu tố nguy cơ và kết quả kiểm tra thường quy (ví dụ: phim X quang ngực, kiểm tra chức năng phổi).

Giảm FEV1, FVC và tỷ lệ FEV1/FVC sau thuốc giãn phế quản là những dấu hiệu đặc trưng.

Phân loại bệnh nhân dựa trên các triệu chứng và nguy cơ gây đợt cấp thành một trong 3 nhóm và sử dụng danh mục đó để dẫn hướng điều trị.

Làm giảm triệu chứng nhanh chóng bằng các thuốc chủ yếu là beta-adrenergic tác dụng ngắn và giảm các đợt cấp bằng corticosteroid dạng hít, thuốc beta-adrenergic tác dụng kéo dài, thuốc kháng cholinergic tác dụng kéo dài hoặc phối hợp.

Khuyến khích cai thuốc lá bằng sử dụng nhiều biện pháp can thiệp.

Tiêm chủng cúm, phế cầu, COVID-19 và vi rút hợp bào hô hấp ([RSV] ở bệnh nhân ≥ 60 tuổi) cũng nên được thực hiện như một biện pháp phòng ngừa.

Address

25 Đinh Núp, Trung Hòa, Cầu Giấy
Hanoi
100000

Telephone

+84923956087

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Máy Thở Và Phụ Kiện posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram

ĐÈN NẤM MOVING 11 MẮT LAZE VÀ LED 36 ĐỘ

ĐÈN NẤM MOVING 11 MẮT LAZE VÀ LED 36 ĐỘ