Bs Võ Tá Sơn - Maternal Fetal Medicine specialist

Bs Võ Tá Sơn - Maternal Fetal Medicine specialist Bs Võ Tá Sơn - chuyên khám tư vấn, siêu âm chẩn đoán và can thiệp bào thai 0978846100
(2)

Chuyên siêu âm 5D sàng lọc dị tật thai
Siêu âm thai đo độ mờ da gáy (NT)
Siêu âm 5D chụp mặt thai nhi
Siêu âm Doppler động mạch tử cung sàng lọc tiền sản giật
Siêu âm hình thái học thai nhi 12 - 13 tuần
Siêu âm hình thái học thai nhi 16 - 18 tuần
Siêu âm hình thái học thai nhi 20 - 22 tuần
Siêu âm hình thái học thai nhi 30 - 32 tuần
Siêu âm sàng lọc dị tật tim bẩm sinh thai nhi
Siêu âm thai đánh giá thai chậm tăng trưởng
Siêu âm theo dõi phát triển của thai nhi
Siêu âm chẩn đoán dị tật thai nhi
Xét nghiệm sàng lọc dị tật thai nhi Double test, Triple test
Xét nghiệm sàng lọc trước sinh không xâm lấn NIPT
Xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung HPV DNA, Thin Prep Pap Test
Siêu âm phụ khoa
Khám phụ khoa
Khám thai
Quản lý thai kỳ
Liên hệ 0978846100

29/12/2025

THAI CHẬM TĂNG TRƯỞNG NẶNG KHỞI PHÁT CỰC SỚM VÀ BẤT THƯỜNG PHÁT TRIỂN VỎ NÃO

Thai 27 tuần, đến khám vì chậm tăng trưởng nặng. Trước đó chưa có bất kỳ xét nghiệm sàng lọc nào kể cả NIPT và tiền sản giật.

Trên siêu âm ghi nhận cân nặng dưới bách phân vị 1, tuy nhiên, đường kính ngang tiểu não được bảo tồn ở bách phân vị 15.

Bánh nhau hình cầu, cấu trúc kém đồng nhất kèm tăng trở kháng động mạch tử cung, điều này gợi ý rằng thai chậm tăng trưởng do nguyên nhân bánh nhau thiểu dưỡng.

Với dữ liệu này thường nghĩ đến kết cục lành tính hơn cho thai nhi.

Tuy nhiên, siêu âm hệ thần kinh chi tiết cho thấy các rãnh não rất kém phát triển. Rãnh Sylvius 2 bên chỉ tương ứng với tuổi thai khoảng 21 tuần.

Với phát hiện này, tiên lượng phát triển thần kinh của thai nhi là rất dè dặt.

CHÚNG TA RÚT RA ĐƯỢC GÌ TỪ CA NÀY?

1. Sàng lọc và dự phòng tiền sản giật là cách đơn giản và hiệu quả duy nhất để dự phòng thai chậm tăng trưởng khởi phát sớm. Bộ Y tế đã có khuyến cáo sàng lọc thường quy cho tất cả bà bầu trong quý 1.

2. Bằng chứng bánh nhau thiểu dưỡng không phải là một lá bài miễn tử cho các bất thường di truyền và cấu trúc cho thai chậm tăng trưởng khởi phát sớm.

3. Siêu âm hệ thần kinh chi tiết đánh giá sự phát triển cấu trúc não là cần thiết trong bối cảnh thai chậm tăng trưởng khởi phát sớm.

Bs Võ Tá Sơn

28/12/2025

Tràn dịch màng phổi thai nhi

Tràn dịch màng phổi thai nhi (fetal pleural effusion) là tình trạng tích tụ dịch bất thường trong khoang màng phổi của thai, có thể xuất hiện từ quý I nhưng thường được phát hiện ở quý II–III. Đây là một bệnh cảnh không đồng nhất, mức độ từ nhẹ, thoáng qua đến nặng, tiến triển thành phù thai và tử vong chu sinh nếu không được theo dõi và can thiệp kịp thời.

Nguyên nhân

Nguyên nhân được chia thành đơn độc (nguyên phát) và thứ phát. Tràn dịch màng phổi nguyên phát (thường gọi là tràn dưỡng chấp thai nhi) liên quan đến rối loạn phát triển hoặc dẫn lưu hệ bạch huyết ngực. Tràn dịch thứ phát có thể do bất thường nhiễm sắc thể (đặc biệt là lệch bội), dị tật tim – phổi, nhiễm trùng bào thai (parvovirus B19, CMV…), thiếu máu thai, u trung thất, hội chứng truyền máu song thai, hoặc là một phần của phù thai không do miễn dịch.

Chẩn đoán

Siêu âm tiền sản là phương tiện chẩn đoán chính, với hình ảnh dịch trống âm bao quanh phổi, có thể một bên hoặc hai bên, gây xẹp phổi và đẩy trung thất nếu lượng dịch nhiều. Cần đánh giá kèm theo: tim thai (cấu trúc và chức năng), Doppler động mạch não giữa (thiếu máu), dấu hiệu phù thai, lượng nước ối, bánh nhau và tìm dị tật phối hợp. Xét nghiệm di truyền xâm lấn (karyotype, CMA ± WES) + xét nghiệm nhiễm trùng bào thai được khuyến cáo khi tràn dịch không đơn độc hoặc tiến triển. Trong một số trường hợp, chọc hút dịch màng phổi giúp phân tích thành phần dịch (gợi ý dưỡng chấp).

Xử trí

Chiến lược xử trí phụ thuộc vào tuổi thai, mức độ tràn dịch và diễn tiến. Các trường hợp nhẹ, đơn độc có thể theo dõi sát vì một tỷ lệ sẽ tự thoái triển. Khi tràn dịch tiến triển nhanh, gây xẹp phổi, lệch trung thất hoặc phù thai, can thiệp trong tử cung được cân nhắc, bao gồm chọc tháo dịch lặp lại hoặc đặt shunt ngực–ối (thoracoamniotic shunt) nhằm dẫn lưu liên tục. Điều trị nguyên nhân (ví dụ truyền máu trong thiếu máu thai) là cần thiết khi xác định được căn nguyên. Theo dõi sau can thiệp tập trung vào tái tích tụ dịch, biến chứng thủ thuật và sự phát triển phổi.

Kết cục

Tiên lượng phụ thuộc mạnh vào căn nguyên, thời điểm khởi phát và sự hiện diện của phù thai. Tràn dịch đơn độc, phát hiện muộn và đáp ứng tốt với theo dõi hoặc can thiệp có kết cục thuận lợi, nhiều trẻ sinh ra với chức năng hô hấp tốt. Ngược lại, tràn dịch xuất hiện sớm, hai bên, kèm phù thai hoặc bất thường di truyền có nguy cơ tử vong chu sinh cao. Can thiệp kịp thời, theo dõi đa chuyên khoa và chăm sóc sau sinh phù hợp giúp cải thiện đáng kể kết cục cho những trường hợp được lựa chọn đúng.

Bs Võ Tá Sơn

THOÁT VỊ RỐN KHỔNG LỒ - GIANT OMPHALOCELEGiới thiệuThoát vị rốn khổng lồ (Giant Omphalocele - GO) là một dị tật thành bụ...
23/12/2025

THOÁT VỊ RỐN KHỔNG LỒ - GIANT OMPHALOCELE

Giới thiệu

Thoát vị rốn khổng lồ (Giant Omphalocele - GO) là một dị tật thành bụng bẩm sinh nghiêm trọng, đặc trưng bởi sự thoát vị của các tạng trong ổ bụng vào gốc dây rốn, được bao bọc bởi một túi màng. Tình trạng này đặt ra những thách thức đáng kể trong quản lý sơ sinh và có liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao. Tiên lượng của trẻ mắc GO phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm kích thước của khối thoát vị, sự hiện diện của các dị tật bẩm sinh khác, và các biến chứng sau sinh.

Tỷ lệ sống sót và tử vong

Tỷ lệ sống sót chung cho trẻ sơ sinh mắc thoát vị rốn nói chung đã được báo cáo vào khoảng 75% đến 81% [1]. Tuy nhiên, đối với nhóm thoát vị rốn khổng lồ, kết cục có thể phức tạp hơn. Một nghiên cứu năm 2025 trên 46 bệnh nhân thoát vị rốn cho thấy 89% sống sót đến khi sinh, nhưng tỷ lệ tử vong chung là 37% [2]. Một nghiên cứu cũ hơn từ năm 2004 theo dõi 17 thai kỳ mắc GO cho thấy chỉ có 8 trẻ được sinh sống, trong đó 2 trẻ (25%) tử vong trong năm đầu đời [3].

Các Yếu Tố Tiên Lượng

Nhiều yếu tố trước và sau sinh đã được xác định là có giá trị tiên lượng quan trọng đối với kết cục của bệnh nhân GO. Việc xác định sớm các yếu tố này, đặc biệt là thông qua các phương tiện chẩn đoán hình ảnh trước sinh như MRI, có thể giúp tư vấn cho gia đình và chuẩn bị chiến lược quản lý sau sinh.

Một nghiên cứu toàn diện năm 2020 của Nolan và cộng sự đã phân loại các yếu tố nguy cơ dẫn đến kết cục không thuận lợi [4]. Gần đây hơn, nghiên cứu của Manohar và cộng sự năm 2025 đã sử dụng MRI trước sinh để xác định các yếu tố dự báo tử vong [2].

Yếu tố Tiên Lượng

Các dị tật lớn kèm theo
- Dị tật tim lớn
- Hội chứng di truyền/phức hợp
Biến chứng hô hấp
- Tăng áp phổi (PH)
- Suy hô hấp tại sinh
- Thể tích phổi/gan (O/E TFLV) < 42%
Đặc điểm thoát vị
- Thoát vị lách
- Tỷ lệ thoát vị gan > 77%
- Vỡ túi thoát vị sau sinh
Đặc điểm sơ sinh
- Cân nặng sinh thấp
- Tuổi thai thấp

Ngược lại, tuổi thai cao hơn và cân nặng khi sinh lớn hơn được xác định là các yếu tố bảo vệ, làm giảm đáng kể tỷ lệ kết cục không thuận lợi [4].

Các Biến chứng Chính Sau Sinh

Biến chứng hô hấp

Các vấn đề về hô hấp là nguyên nhân chính gây bệnh và tử vong ở trẻ sơ sinh mắc GO. Chúng bao gồm thiểu sản phổi (pulmonary hypoplasia), suy hô hấp và tăng áp phổi (pulmonary hypertension - PH). Một bài tổng quan năm 2019 nhấn mạnh rằng suy hô hấp tại thời điểm sinh là một yếu tố dự báo tử vong độc lập [5].

Tăng áp phổi (PH) là một biến chứng đặc biệt nghiêm trọng. Một nghiên cứu năm 2022 cho thấy PH có liên quan độc lập đến tỷ lệ tử vong gia tăng ở bệnh nhân GO. Trong nhóm bệnh nhân bị PH, các yếu tố như cân nặng khi sinh thấp, áp lực động mạch phổi tâm thu (PASP) cao và không đáp ứng với liệu pháp giãn mạch phổi có liên quan đến tỷ lệ tử vong cao hơn [6].

Biến chứng Tiêu hóa và Dinh dưỡng

Các vấn đề về ăn uống và tiêu hóa rất phổ biến ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ mắc GO. Một nghiên cứu dài hạn của Biard và cộng sự (2004) cho thấy các vấn đề như trào ngược dạ dày-thực quản (GERD), khó khăn trong ăn uống và chậm tăng trưởng là những thách thức y tế lớn [3]. Những vấn đề này thường đòi hỏi can thiệp y tế kéo dài và có thể ảnh hưởng đến sự phát triển chung của trẻ.

Kết cục Dài hạn và Chất lượng Cuộc sống

Mặc dù phải đối mặt với nhiều thách thức trong giai đoạn sơ sinh, nhiều trẻ em mắc GO có thể đạt được chất lượng cuộc sống tốt về lâu dài. Một nghiên cứu của Baerg và Munoz (2019) cho thấy những người sống sót sau khi mắc omphalocele có thể đạt được tình trạng sức khỏe và chất lượng cuộc sống tương đương với dân số chung [7].

Tuy nhiên, gánh nặng y tế vẫn còn đáng kể. Nghiên cứu tương tự cho thấy 70% bệnh nhân phải nhập viện lại ít nhất một lần và một phần ba tiếp tục cần dùng thuốc, chủ yếu là thuốc điều trị các bệnh lý hô hấp [7]. Một vấn đề đáng chú ý khác là sự không hài lòng về mặt thẩm mỹ, đặc biệt ở những bệnh nhân có tiền sử GO, điều này có thể ảnh hưởng đến tâm lý và xã hội của họ khi lớn lên [7].

Kết luận

Kết cục sau sinh của thoát vị rốn khổng lồ rất đa dạng và phụ thuộc vào một loạt các yếu tố, trong đó sự hiện diện của các dị tật kèm theo và mức độ nghiêm trọng của các biến chứng hô hấp là quan trọng nhất. Tăng áp phổi và suy hô hấp là những yếu tố tiên lượng tử vong hàng đầu. Chẩn đoán trước sinh bằng MRI có thể cung cấp thông tin tiên lượng có giá trị, giúp định hướng tư vấn cho gia đình và lập kế hoạch chăm sóc sau sinh.

Mặc dù giai đoạn sơ sinh đầy thách thức với tỷ lệ phẫu thuật và nằm viện kéo dài, các nghiên cứu dài hạn cho thấy những trẻ sống sót có thể có chất lượng cuộc sống tốt. Tuy nhiên, trẻ vẫn cần được theo dõi y tế chặt chẽ, đặc biệt là các vấn đề về hô hấp, tiêu hóa và các mối quan tâm về thẩm mỹ.

Tài liệu tham khảo

[1] Raymond, S. L., Downard, C. D., St. Peter, S. D., Baerg, J., Qureshi, F. G., Bruch, S. W., ... & Islam, S. (2019 ). Outcomes in omphalocele correlate with size of defect. Journal of Pediatric Surgery, 54(8), 1546-1550.
[2] Manohar, K., Mesfin, F. M., Belchos, J., Brown, B. P., Colgate, C., Timsina, L., ... & Gray, B. W. (2025 ). Beyond the womb: prenatal MRI’s prognostic abilities for morbidity and mortality in neonates with omphaloceles. Journal of Perinatology, 45(12), 1700-1706.
[3] Biard, J. M., Wilson, R. D., Johnson, M. P., Hedrick, H. L., Schwarz, U., Flake, A. W., ... & Adzick, N. S. (2004 ). Prenatally diagnosed giant omphaloceles: short-and long-term outcomes. Prenatal Diagnosis, 24(6), 434-439.
[4] Nolan, H. R., Wagner, M. L., Jenkins, T., & Lim, F. Y. (2020 ). Outcomes in the giant omphalocele population: A single center comprehensive experience. Journal of Pediatric Surgery, 55(9), 1866-1871.
[5] Liu, T. X., Du, L. Z., Ma, X. L., Chen, Z., & Shi, L. P. (2022 ). Giant omphalocele associated pulmonary hypertension: A retrospective study. Frontiers in Pediatrics, 10, 940289.
[6] Duggan, E., & Puligandla, P. S. (2019 ). Respiratory disorders in patients with omphalocele. Seminars in Pediatric Surgery, 28(2), 115-117.
[7] Baerg, J. E., & Munoz, A. N. (2019). Long term complications and outcomes in omphalocele. Seminars in Pediatric Surgery, 28(2), 89-94.

Bs Võ Tá Sơn

NHIỄM TRÙNG BÀO THAI CMV cytomegalovirusHình ảnh vôi hoá mạch máu thể vân ở thai 29 tuầnCMV, là một thành viên trong gia...
13/12/2025

NHIỄM TRÙNG BÀO THAI CMV cytomegalovirus

Hình ảnh vôi hoá mạch máu thể vân ở thai 29 tuần

CMV, là một thành viên trong gia đình virus herpes, là loại virus hay gặp nhất gây nhiễm trung bẩm sinh, ảnh hưởng tới 0.2 – 2.2% các trẻ sinh sống. Đây là nguyên nhân không di truyền của điếc do thần kinh (sensorineural hearing loss – SNHL) và là một nguyên nhân lớn gây khiếm khuyết thần kinh.

Khoảng 10 – 15% trẻ sơ sinh nhiễm CMV bẩm sinh sẽ có triệu chứng lúc sinh, và lên tới 25% trẻ bị ảnh hưởng có tổn thương dài hạn.

Sự dự đoán chính xác trước sinh của tiên lượng xấu cho các trẻ bị ảnh hưởng đã được chứng minh là khó khăn.

Sự ước đoán phần lớn dựa vào 3 yếu tố:

(i) thời gian nhiễm bệnh;
(ii) sự hiện diện của các loại bất thường; và
(iii) các chỉ số xét nghiệm.

Nhìn chung, các thai nhi nhiễm CMV có thể được phân loại vào một trong 3 nhóm sau: (i) các thai nhi không có triệu chứng; (ii) các thai nhi có triệu chứng nhẹ và trung bình; và (iii) các thai nhi có triệu chứng nặng.

(i) Các thai nhi không có triệu chứng được xác định khi không có các bất thường trên siêu âm, MRI não bình thường và các chỉ số sinh học bình thường, đặc biệt là số lượng tiểu cầu máu thai nhi. Tiên lượng nhìn chung là tốt ở nhóm này nhưng vẫn có nguy cơ SNHL.

(ii) Các thai nhi có triệu chứng nhẹ và trung bình được xác định là những thai nhi với bất thường sinh học đơn độc (trên mẫu máu thai nhi), hoặc không có các bất thường não trên siêu âm hoặc với bất thường trên siêu âm đơn độc, như ruột non tăng âm, giãn não thất bên nhẹ hoặc nốt vôi hóa đơn độc. Trong nhóm này, tiên lượng là không chắc chắn, và theo dõi sâu hơn (với siêu âm và MRI) có thể giúp cải thiện khả năng tiên lượng.

Các lựa chọn điều trị, như liệu pháp kháng virus, hiện đang được đánh giá, nhưng việc sử dụng vẫn còn bị giới han trong bối cảnh các thử nghiệm lâm sàng.

Lựa chọn chấm dứt thai kỳ cũng có thể được đưa ra.

(iii) Các thai nhi có triệu chứng nặng được định nghĩa với các bất thường nặng trên siêu âm (ví dụ như tật đầu nhỏ, giãn não thất bên >= 15mm, bất thường chất trắng và sự tạo khoang, xuất huyết nội sọ, chậm phát triển vỏ não, thiểu sản thuỳ nhộng, bất thường thể chai) đi kèm với giảm tiểu cầu. Tiên lượng cho nhóm này là xấu, và việc tư vấn lựa chọn chấm dứt thai kỳ nên được thực hiện.

CMV bẩm sinh nên được khẳng định lúc sinh, sau khi chẩn đoán trước sinh mẹ nhiễm, thậm chí ngay cả khi việc chẩn đoán nhiễm trùng thai nhi đã được khẳng định bằng xét nghiệm xâm lấn. Trẻ nhỏ nên được lấy mẫu nước tiểu hoặc nước bọt để làm CMV PCR sớm nhất khi có thể sau sinh và sẽ rất quan trọng khi lấy mẫu trong vòng 3 tuần từ lúc sinh để khẳng định nhiễm trùng bẩm sinh chứ không phải nhiễm sau sinh.

Xem bài chi tiết:
https://www.votason.net/2020/06/guideline-cytomegalovirus-isuog-2020.html

XÉT NGHIỆM GENE CHO THAI NHI CÓ ĐỘ MỜ DA GÁY DÀYVì sao nghiên cứu này được thực hiện?Tăng độ mờ da gáy (NT) của thai nhi...
07/12/2025

XÉT NGHIỆM GENE CHO THAI NHI CÓ ĐỘ MỜ DA GÁY DÀY

Vì sao nghiên cứu này được thực hiện?

Tăng độ mờ da gáy (NT) của thai nhi liên quan đến nguy cơ cao hơn mắc các rối loạn di truyền bao gồm bất thường nhiễm sắc thể và bệnh lý đơn gene. Mặc dù các xét nghiệm phát hiện bất thường nhiễm sắc thể và các biến thể số lượng bản sao (CNV) thường được khuyến cáo, nhưng hiện chưa có đồng thuận về chiến lược tối ưu để phát hiện bệnh lý đơn gen ở các thai nhi có NT tăng.

Các phát hiện chính

Tỷ lệ chẩn đoán của phân tích nhiễm sắc thể bằng microarray (CMA) ở nhóm thai có NT ≥ 3,0 mm và NT ≥ 3,5 mm lần lượt là 17,63% (107/607) và 23,84% (82/344).

Giải trình tự exome (WES) mang lại giá trị chẩn đoán bổ sung 10,42% (10/96) cho các bệnh đơn gen ở nhóm thai NT ≥ 3,5 mm.

Ở các trường hợp NT ≥ 3,0 mm nhưng CMA hoặc WES âm tính, hơn 90% trẻ sinh ra khỏe mạnh trong giai đoạn theo dõi đến 48–60 tháng tuổi.

Giá trị gia tăng của nghiên cứu

Trong bối cảnh đã thực hiện tầm soát bất thường nhiễm sắc thể và CNV thường quy, WES nên được xem như chiến lược mở rộng để chẩn đoán trước sinh các bệnh đơn gen ở thai nhi có tăng NT.

Y HỌC CHÍNH XÁC MANG ĐẾN CƠ HỘI TIÊN LƯỢNG KẾT CỤC THAI NHI TỐT HƠN.

Bs Võ Tá Sơn

GIÃN NÃO THẤTKhông lành tính như bạn nghĩThai lần đầu, sàng lọc NIPT bình thường hết.Lúc 30 tuần khám ở địa phương phát ...
04/12/2025

GIÃN NÃO THẤT
Không lành tính như bạn nghĩ

Thai lần đầu, sàng lọc NIPT bình thường hết.
Lúc 30 tuần khám ở địa phương phát hiện giãn não thất.
Cứ nghĩ một vài tuần rồi sẽ giảm thôi.

Đến khám lần đầu lúc 36 tuần 4 ngày, ghi nhận các dấu hiệu:
+ Thai nhỏ ở khoảng bách phân vị thứ 10
+ Giãn não thất bên 2 bên 10 - 14mm
+ Dính lòng não thất sừng chẩm
+ B**g thành não thất bên
+ Thể chai mỏng
+ Vôi hoá mạch máu thể vân
+ Nang dưới nội mạc tuỷ 2 bên
+ Gan lách to
+ Ruột tăng âm
+ Vi vôi hoá bánh nhau

Các hình ảnh đều hướng tới nhiễm trùng CMV bào thai (cytomegalovirus).

Xét nghiệm máu mẹ:
CMV IgG: dương tính >500 U/ml
CMV IgM: âm tính

Chọc ối được tiến hành nhằm khẳng định thai nhi có thật sự nhiễm CMV hay không ở tuổi thai gần 37 tuần.
Kết quả CMV PCR mẫu nước ối dương tính.

Ở tuổi thai này thì các lựa chọn cho thai kỳ là rất hạn chế.
Thai phụ được tư vấn về các nguy cơ có thể xảy ra với thai nhi và được dùng kháng virus mạnh nhằm làm hạn chế các tổn thương do CMV gây ra.

BÀN LUẬN

+ Khi phát hiện giãn não thất, thai phụ cần được siêu âm hệ thần kinh chi tiết để đánh giá toàn diện cấu trúc não nhằm phát hiện các bất thường não khác đi kèm.
+ Sau khi đã làm siêu âm hệ thần kinh chi tiết, nếu thấy cần thiết, lúc này bác sĩ sẽ chỉ định chụp cộng hưởng từ não thai nhi (MRI).
+ Các xét nghiệm chọc ối tìm bất thường nhiễm sắc thể, gene, nhiễm trùng bào thai có thể được chỉ định sau khi làm siêu âm chi tiết.
+ Chọc ối không có giới hạn trên, vẫn thực hiện bình thường nếu bác sĩ lâm sàng thấy thực sự cần thiết.
+ Điều trị CMV khi đã có các dấu hiệu trên siêu âm với kháng virus mạnh chỉ là điều trị cứu vãn. Phát hiện sớm, điều trị chủ động sẽ cho kết cục thai nhi tốt hơn rất nhiều.
+ Muốn phát hiện sớm, cần thực hiện xét nghiệm huyết thanh học ở quý 1, siêu âm hình thái kỹ lưỡng, khám trung tâm Y học bào thai ngay khi có bất thường.
+ NIPT dành cho CMV đang được nghiên cứu, vẫn chưa có sản phẩm thương mại cho tới lúc này. Nhưng đây là công cụ đầy hứa hẹn.
+ Y học bào thai là một ngành khoa học mới, cần thực hiện bài bản với sự thận trọng cao nhất.

Bs Võ Tá Sơn



Tham khảo:
[1] HƯỚNG DẪN XỬ TRÍ NHIỄM CYTOMEGALOVIRUS TRONG THAI KỲ ISUOG 2020
https://www.votason.net/2020/06/guideline-cytomegalovirus-isuog-2020.html
[2] Nhiễm Cytomegalovirus (CMV) trong thai kỳ: Những điều mẹ bầu cần biết
https://www.votason.net/2023/12/nhiem-cytomegalovirus-cmv-trong-thai-ky.html

GIÃN NÃO THẤT BÊNCó một vấn đề rất quan trọng trong thực hành lâm sàng giãn não thất chính là đo kích thước sừng sau não...
02/12/2025

GIÃN NÃO THẤT BÊN

Có một vấn đề rất quan trọng trong thực hành lâm sàng giãn não thất chính là đo kích thước sừng sau não thất bên.

Thông thường chúng ta chỉ đo được chính xác kích thước não thất bên đầu xa trên mặt cắt NGANG chuẩn. Còn não thất bên đầu gần thì chúng ta "bó tay" vì bóng cản xương sọ.

Một vài đồng chí cố gắng đo kích thước não thất bên đầu gần trên mặt cắt XIÊN, nhưng như vậy vô hình chung chúng ta làm tăng kích thước não thất bên đầu gần lên 2-3mm. Điều này làm cho 1 thai nhi có kích thước não thất bình thường được chẩn đoán thành "giãn não thất". 🥲

Vậy đâu là giải pháp để đánh giá chính xác kích thước não thất bên 2 bên trên siêu âm?

Siêu âm 3D ngả âm đạo thu hình ảnh khối của não, và chỉ với vài thao tác căn chỉnh đơn giản, bạn thu được hình ảnh mặt cắt NGANG chuẩn như bên dưới. Nhưng khác với hình ảnh 2D bị bóng cản đầu gần không nhìn thấy, ở hình ảnh xuất ra từ khối 3D này, não thất bên 2 bên rõ mồn một như nhau.

Siêu âm hệ thần kinh chi tiết thai nhi bằng siêu âm 3D qua ngả âm đạo - Giải pháp chẩn đoán sớm bất thường não thai nhi với hình ảnh có độ phân giải cực cao.

Giảm chẩn đoán dương tính giả "giãn não thất"
Giảm lo lắng cho thai phụ
Và còn rất nhiều thứ khác nữa ❤️

Bs Võ Tá Sơn

VACCINE CÚM VÀ THAI KỲ🍎NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾTCúm mùa trong thai kỳ có nguy cơ cao hơn gây bệnh nặng dẫn đến nhập viện. Cúm ...
23/11/2025

VACCINE CÚM VÀ THAI KỲ

🍎NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

Cúm mùa trong thai kỳ có nguy cơ cao hơn gây bệnh nặng dẫn đến nhập viện. Cúm cũng có thể gây hại cho thai nhi đang phát triển. Nếu bạn đang mang thai, bạn nên tiêm vắc xin cúm dạng tiêm (flu shot) và không dùng dạng xịt mũi. Tiêm vắc xin cúm trong thai kỳ giúp bảo vệ cả mẹ bầu và em bé khỏi bệnh cúm. Vắc xin cúm có thể được tiêm trong bất kỳ thời điểm nào của thai kỳ. Việc tiêm vắc xin cúm sớm có thể được cân nhắc ở tam cá nguyệt thứ ba nếu có sẵn, bởi điều này giúp bảo vệ trẻ trong những tháng đầu đời khi trẻ còn quá nhỏ để được tiêm chủng.

🍏NẾU BẠN ĐANG MANG THAI, BẠN NÊN TIÊM VACCINE CÚM

Cúm mùa trong thai kỳ có nguy cơ cao hơn gây bệnh nặng dẫn đến nhập viện. Cúm cũng có thể gây hại cho thai nhi. Một triệu chứng thường gặp của cúm — sốt — trong một số nghiên cứu đã liên quan đến dị tật ống thần kinh và các hậu quả bất lợi khác cho thai nhi. Tiêm vắc xin khi mang thai giúp bảo vệ trẻ sau sinh vì kháng thể được truyền sang thai nhi trong thai kỳ. Khi bạn tiêm vắc xin cúm trong lúc mang thai hoặc cho con bú, cơ thể bạn tạo ra kháng thể chống cúm và các kháng thể này được truyền cho trẻ qua sữa mẹ.

🍎VACCINE CÚM LÀ BIỆN PHÁP BẢO VỆ TỐT NHẤT CHỐNG CÚM

Tiêm vắc xin cúm là bước đầu tiên và quan trọng nhất để phòng ngừa cúm. Nếu đang mang thai, bạn nên tiêm vắc xin dạng tiêm chứ không phải dạng xịt mũi. Tiêm vắc xin cúm trong thai kỳ giúp bảo vệ cả mẹ và bé.

Một nghiên cứu năm 2013 cho thấy trong mùa cúm 2010–2011 và 2011–2012, việc tiêm vắc xin giúp giảm nguy cơ nhiễm cúm gây viêm đường hô hấp cấp tính trong thai kỳ đến một nửa — tương đương với hiệu quả vắc xin ở người lớn 18–64 tuổi. Một nghiên cứu năm 2018 cho thấy tiêm vắc xin cúm trong thai kỳ làm giảm trung bình 40% nguy cơ nhập viện vì cúm.

Tiêm vắc xin cúm trong thai kỳ cũng giúp bảo vệ trẻ trong những tháng đầu đời khỏi mắc cúm và nhập viện liên quan đến cúm, khi trẻ còn quá nhỏ để tiêm phòng.

Vắc xin cúm có thể được tiêm vào bất cứ thời điểm nào trong thai kỳ. Có thể cân nhắc tiêm sớm hơn trong tam cá nguyệt 3 nếu vắc xin có sẵn.

🍏ĐỘ AN TOÀN CỦA VACCINE CÚM TRONG THAI KỲ

Vắc xin cúm dạng tiêm đã được sử dụng cho hàng triệu người trong nhiều năm với hồ sơ an toàn rất tốt. Có nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh sự an toàn của vắc xin cúm với phụ nữ mang thai và thai nhi. CDC tiếp tục giám sát dữ liệu an toàn này.

🍎LƯU Ý

Nếu bạn mang thai, bạn không cần giấy phép hoặc đồng ý bằng văn bản của bác sĩ khi tiêm vắc xin cúm tại nơi làm việc, nhà thuốc hoặc địa điểm ngoài phòng khám.
Không nên sử dụng vắc xin cúm dạng xịt mũi trong thai kỳ.

🍏SẨY THAI

Nhiều nghiên cứu cho thấy người tiêm vắc xin cúm trong thai kỳ không có nguy cơ cao hơn bị sảy thai.

Một nghiên cứu sử dụng dữ liệu Vaccine Safety Datalink (VSD) trên ba mùa cúm (2012–2013, 2013–2014, 2014–2015) cho thấy không có nguy cơ tăng sảy thai sau tiêm.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm chứng kết quả của một nghiên cứu nhỏ trước đó (dữ liệu 2010–2012) từng gợi ý mối liên quan giữa tiêm vắc xin cúm sớm và sảy thai — nhưng nghiên cứu cũ này có nhiều hạn chế, như cỡ mẫu nhỏ. Đây cũng là nghiên cứu duy nhất từng ghi nhận mối liên quan này; các nghiên cứu khác đều không ghi nhận nguy cơ tăng sảy thai.

Do cúm mang nguy cơ nghiêm trọng trong thai kỳ và vắc xin giúp phòng bệnh, ACIP, ACOG và CDC vẫn khuyến cáo tiêm vắc xin cúm trong bất kỳ tam cá nguyệt nào.

🍎TÁC DỤNG PHỤ

Tác dụng phụ thường gặp khi tiêm vắc xin cúm trong thai kỳ tương tự người không mang thai, thường nhẹ và bao gồm:

Đau, đỏ hoặc sưng tại vị trí tiêm

Đau đầu

Sốt

Đau cơ

Buồn nôn

Mệt mỏi

Nếu xuất hiện, các triệu chứng thường bắt đầu sớm sau tiêm và chỉ kéo dài 1–2 ngày.

Tiêm vắc xin, tương tự tiêm các loại thuốc khác, đôi khi có thể gây ngất. Hiếm gặp hơn, vắc xin có thể gây phản ứng dị ứng nặng. Người có dị ứng đe dọa tính mạng với thành phần vắc xin không nên tiêm.

🍏AI KHÔNG NÊN TIÊM VACCINE CÚM

Người có dị ứng nặng, đe dọa tính mạng với bất kỳ thành phần nào của vắc xin (trừ protein trứng) không nên tiêm loại vắc xin đó.

Người từng có phản ứng dị ứng nặng với liều vắc xin cúm trước đó cần trao đổi với bác sĩ để quyết định có nên tiêm tiếp hay không.

🍎DỊ ỨNG TRỨNG

Phụ nữ mang thai bị dị ứng trứng ở mọi mức độ có thể tiêm bất kỳ loại vắc xin cúm dạng tiêm nào phù hợp lứa tuổi và tình trạng sức khỏe.

Vắc xin dạng xịt mũi không được dùng trong thai kỳ.

Từ mùa cúm 2023–2024, người dị ứng trứng không cần các biện pháp giám sát đặc biệt ngoài những khuyến cáo chung dành cho mọi loại vắc xin.

Tất cả vắc xin nên được tiêm ở nơi có khả năng nhận biết và xử trí nhanh các phản ứng dị ứng.

🍏THEO DÕI ĐỘ AN TOÀN CỦA VACCINE CÚM TRONG THAI KỲ

CDC và FDA theo dõi liên tục tính an toàn của các vắc xin được cấp phép tại Hoa Kỳ.

VAERS (Hệ thống Báo cáo Sự kiện Bất lợi Sau Tiêm vắc xin) được sử dụng để ghi nhận các sự kiện bất lợi sau tiêm. Đây là hệ thống cảnh báo sớm giúp phát hiện tín hiệu an toàn.

Vaccine Safety Datalink (VSD) là dự án của CDC với 13 tổ chức y tế nhằm theo dõi an toàn và thực hiện nghiên cứu về vắc xin.

🍎CÁC NGHIÊN CỨU CỦA CDC VỀ VACCINE CÚM TRONG THAI KỲ

Nhiều nghiên cứu của CDC và đối tác cho thấy vắc xin cúm an toàn đối với phụ nữ mang thai và thai nhi:

Tổng quan báo cáo VAERS cho thấy không có bằng chứng liên quan giữa biến chứng thai kỳ hoặc kết cục bất lợi của thai nhi với tiêm vắc xin cúm.

Nghiên cứu lớn sử dụng dữ liệu VSD (2012–2015) không thấy nguy cơ tăng sảy thai.
Một nghiên cứu VSD khác (2005–2007) cũng cho kết quả tương tự.
Nghiên cứu duy nhất gợi ý nguy cơ tăng (2010–2012) có cỡ mẫu nhỏ và kết quả không chính xác. Nghiên cứu theo dõi lớn sau đó đã không tìm thấy mối liên quan giữa tiêm vắc xin và sảy thai.

Nghiên cứu VSD 2002–2009 không ghi nhận nguy cơ tăng biến chứng thai kỳ (như nhiễm trùng ối, tiền sản giật, tăng huyết áp thai kỳ).

Nghiên cứu VSD 2004–2005 và 2008–2009 cho thấy không khác biệt về tỷ lệ sinh non hoặc trẻ nhỏ so với tuổi thai giữa nhóm tiêm và không tiêm.

Nghiên cứu năm 2017 cho thấy tiêm vắc xin cúm trong tam cá nguyệt 1 không làm tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh lớn.

Nghiên cứu VSD 2007–2015 không tìm thấy liên quan giữa tiêm vắc xin cúm trong thai kỳ và thai lưu.

Tham khảo:
https://www.cdc.gov/flu/vaccine-safety/vaccine-pregnant.html

Bs Võ Tá Sơn

Hướng dẫn miễn dịch RSV cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏNHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾTĐể phòng ngừa bệnh RSV nặng ở trẻ sơ sinh, hoặc tiê...
22/11/2025

Hướng dẫn miễn dịch RSV cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

Để phòng ngừa bệnh RSV nặng ở trẻ sơ sinh, hoặc tiêm vắc xin RSV cho mẹ (Abrysvo của Pfizer) hoặc kháng thể đơn dòng RSV tác dụng kéo dài cho trẻ sơ sinh (nirsevimab hoặc clesrovimab) đều được khuyến cáo. Hầu hết trẻ sơ sinh không cần cả hai (tiêm vắc xin cho mẹ và dùng kháng thể RSV cho trẻ).

Việc sử dụng kháng thể RSV cho trẻ sơ sinh được khuyến cáo từ tháng 10 đến tháng 3 hằng năm tại hầu hết các bang ở Hoa Kỳ. Thời điểm tối ưu để sử dụng là ngay trước mùa RSV (tháng 10–11) hoặc trong tuần đầu sau sinh nếu trẻ sinh trong khoảng tháng 10 đến tháng 3 (tốt nhất là trong thời gian nằm viện sau sinh).

Kháng thể RSV cho trẻ sơ sinh có hiệu quả cao trong phòng ngừa nhập viện liên quan đến RSV.

Tác dụng phụ thường nhẹ như đau, đỏ, hoặc sưng tại vị trí tiêm và nhanh chóng cải thiện. Các phản ứng quá mẫn ít gặp nhưng đã được ghi nhận với các sản phẩm kháng thể tương tự.

TỔNG QUAN

Nirsevimab và clesrovimab là kháng thể đơn dòng có tác dụng phòng bệnh RSV nặng và được khuyến cáo sử dụng cho trẻ sơ sinh. Nirsevimab cũng được khuyến cáo cho một số trẻ nhỏ.

Kháng thể đơn dòng không phải là vắc xin. Chúng không kích hoạt hệ miễn dịch mà bản thân kháng thể mang lại khả năng bảo vệ.

Nhân viên y tế nên trao đổi với cha mẹ về cả vắc xin RSV cho mẹ (Abrysvo của Pfizer) và kháng thể RSV cho trẻ sơ sinh để cân nhắc sản phẩm phù hợp nhất cho từng gia đình.

KHUYẾN CÁO

1. Khuyến cáo cho trẻ sơ sinh

Kháng thể RSV được khuyến cáo cho trẻ dưới 8 tháng tuổi sinh ra trong hoặc chuẩn bị bước vào mùa RSV đầu tiên (thường từ mùa thu đến mùa xuân) nếu:

Mẹ không tiêm vắc xin RSV trong thai kỳ, hoặc

Không rõ tình trạng mẹ có tiêm vắc xin RSV hay không, hoặc

Trẻ sinh trong vòng 14 ngày sau khi mẹ tiêm vắc xin RSV.

Tuổi của trẻ tại thời điểm tiêm được sử dụng để xác định khả năng đủ điều kiện. Trừ trường hợp đặc biệt, trẻ không cần kháng thể RSV nếu sinh sau ≥14 ngày kể từ khi mẹ tiêm vắc xin RSV.

Lý tưởng nhất, trẻ sinh trong khoảng tháng 10–3 sẽ nhận kháng thể RSV ngay trong đợt nằm viện sau sinh. Tuy nhiên, việc tiêm có thể thực hiện tại bất kỳ cơ sở y tế nào, bao gồm các lần khám sức khỏe định kỳ.

Đối với trẻ nằm viện kéo dài ngay trước hoặc trong mùa RSV, có thể xem xét tiêm kháng thể trong thời gian nằm viện để phòng RSV liên quan đến chăm sóc y tế.

2. Khuyến cáo cho một số trẻ nhỏ (8–19 tháng)

Nirsevimab được khuyến cáo cho trẻ 8–19 tháng có nguy cơ cao bị RSV nặng và bước vào mùa RSV thứ hai:

Trẻ có bệnh phổi mạn tính do sinh non cần điều trị (corticoid, lợi tiểu, oxy bổ sung) bất kỳ thời điểm nào trong vòng 6 tháng trước mùa RSV thứ hai

Trẻ suy giảm miễn dịch nặng

Trẻ bị xơ nang (cystic fibrosis) kèm:

Bằng chứng bệnh phổi nặng, hoặc

Cân nặng theo chiều dài < bách phân vị 10

Trẻ thuộc người bản địa Alaska hoặc người Mỹ bản địa

Trẻ ≥8 tháng không có nguy cơ cao thì không nên sử dụng nirsevimab. CDC không khuyến cáo nirsevimab cho người ≥20 tháng tuổi.

Clesrovimab không được khuyến cáo cho trẻ trên 8 tháng tuổi và chưa được FDA phê duyệt dùng cho mùa RSV thứ hai.

AAP có khuyến cáo riêng về palivizumab trong bối cảnh xuất hiện nirsevimab. Từ 31/12/2025, palivizumab sẽ không còn được sử dụng.

CÁC YẾU TỐ CẦN CÂN NHẮC THÊM

1. Thời điểm theo mùa

Kháng thể RSV nên được tiêm từ tháng 10 đến hết tháng 3 tại phần lớn Hoa Kỳ.

Trẻ sinh từ 1/10 đến 31/3 nên được tiêm trong tuần đầu sau sinh.

Trong tháng 3, mọi trẻ đủ điều kiện chưa tiêm đều nên được tiêm càng sớm càng tốt.

Trẻ sinh ngoài thời gian này (tháng 4–9) hoặc trẻ 8–19 tháng nguy cơ cao thì nên tiêm trước mùa RSV (tháng 10–11).

Tại các vùng có thời điểm lưu hành RSV khác biệt, Sở Y tế địa phương có thể điều chỉnh hướng dẫn.

2. Lưu ý

Các khuyến cáo ACIP về thời điểm tiêm có tính linh hoạt để tối ưu hóa khả năng tiếp cận và thanh toán.

Ở vùng khí hậu nhiệt đới hoặc RSV không theo mùa (Hawaii, Guam, Puerto Rico, Alaska…), kháng thể RSV có thể được tiêm trước tháng 10 hoặc sau tháng 3 tùy vào tình hình dịch tễ.

3. Sử dụng phán đoán lâm sàng

Nhân viên y tế có thể điều chỉnh thời điểm tiêm dựa trên:

Lịch di chuyển đến vùng có RSV lưu hành cao

Nguy cơ trẻ bỏ lỡ lần hẹn

Các điều kiện cá thể hóa khác

4. Khi nào cần cân nhắc tiêm cho trẻ sinh từ mẹ đã tiêm vắc xin RSV

Kháng thể RSV có thể cân nhắc trong các trường hợp hiếm nếu lợi ích tăng thêm được xem là cần thiết:

Mẹ có tình trạng suy giảm miễn dịch → đáp ứng vắc xin kém

Mẹ có bệnh lý làm giảm vận chuyển kháng thể qua nhau (ví dụ: HIV)

Trẻ phải trải qua tuần hoàn ngoài cơ thể, ECMO, phẫu thuật tim làm mất kháng thể mẹ

Trẻ có nguy cơ rất cao (tim bẩm sinh nặng, cần oxy khi xuất viện…)

LIỀU DÙNG

Nirsevimab

Address

Hanoi
100000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bs Võ Tá Sơn - Maternal Fetal Medicine specialist posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Bs Võ Tá Sơn - Maternal Fetal Medicine specialist:

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram

Chuyên sàng lọc, chẩn đoán và can thiệp dị tật thai nhi

SIÊU ÂM SÀNG LỌC BẤT THƯỜNG THAI NHI PHÁT HIỆN TỪ GIAI ĐOẠN RẤT SỚM

GIAI ĐOẠN CỰC SỚM NGAY TỪ 12 TUẦN

THƯỜNG QUY 22 TUẦN

SIÊU ÂM ĐÁNH GIÁ SỨC KHỎE THAI NHI 32 TUẦN