17/07/2019
ĐÔNG BỆNH HẠ TRỊ - THIÊN CỨU
Trong quá trình thực tiễn lâm sàng, các bậc tiền nhân của nền y học phương đông qua nhiều thế hệ đã không ngừng kế thừa và phát triển, tìm ra những phương pháp chữa bệnh khác nhau, và hình thành hệ thống lý luận của nền y học phương đông.
YHCT cho rằng con người và thế giới tự nhiên có mối liên quan mật thiết với nhau, là một thể thống nhất song hành cùng nhau, khí huyết lưu thông trong cơ thể con người có một quy luật nhất định và chịu sự chi phối, ảnh hưởng, có mối tương quan mật thiết với khí hậu của đất trời, cùng với sự vận hành của thiên nhiên, sự biến đổi của 4 mùa, cơ thể con người cũng có sự thay đổi theo. Từ đó hình thành quan điểm “ thiên nhân hợp nhất”.
Quan điểm này cũng đồng nhất với y học hiện đại,
Căn cứ vào đây, YHCT đưa ra phương pháp điều trị “xuân hạ dưỡng dương, đông bệnh hạ trị” để dưỡng sinh, phòng bệnh, đây cũng là một trong những nguyên tắc điều trị, nhấn bệnh điều trị bệnh phải chú trọng đến khí hậu thời tiết, và mối tương quan đến thời gian điều trị bệnh, thể hiện phòng bệnh hơn chữa bệnh.
Đông bệnh là chỉ các bệnh hay phát vào mùa đông, hoặc mùa đông nặng lên, lúc thời tiết lạnh giá, cơ thể gặp phải hàn tà phát sinh bệnh, như viêm phế quản, hen suyễn, phong thấp, viêm khớp dạng thấp…
Hạ trị: chọn thời điểm nóng nhất trong năm, dùng các vị thuốc thích hợp để điều trị. Mùa hạ tiết trời nóng nhất cũng là lúc dương khí thịnh nhất, tương ứng với dương khí của con người cũng bộc lộ ra bên ngoài, đối với những bệnh nhân cơ địa dương hư, hoặc nội hàn nghiêm trọng dùng phương pháp ôn lý khử hàn (dùng kết hợp các loại thuốc bổ dưỡng, phối hợp ẩm thực, các liệu pháp dùng thuốc bên ngoài như thiên cứu, cứu ngĩa…) nhằm đạt đến tác dụng bài trừ hàn khí tích tụ trong cơ thể, nâng cao chính khí, điều hòa âm dương, hồi phục sức khỏe.
Đông bệnh hạ trị thể hiện sâu sắc lý luận “bệnh hoãn trị bản” của Y học cổ truyền. Lấy việc điều trị căn nguyên của các bệnh hay mắc vào mùa đông làm mục tiêu điều trị, mặt khác đây cũng là cách tích trữ lại dương khí cho mùa thu đông, dương khí đầy đủ, chính khí sung túc, đến thu đông sẽ không bị hàn tà làm tổn thương, xâm nhập vào cơ thể, từ đó phòng được “đông bệnh”.
Thiên cứu liệu pháp nổi bật được rút ra từ lý luận “Đông bệnh hạ trị”, là trí tuệ dưỡng sinh tư cổ chí kim của nền y học cổ truyền. Dựa vào tính năng của thuốc đông dược, mượn dương khí của trời đất bổ trợ, kích hoạt dương khí của cơ thể, từ đó đẩy các tà độc bên trong cơ thể ra ngoài, điều trị được căn nguyên của bệnh.
Thiên cứu được ghi chép đầu tiên trong “Kinh sở tuế thời ký” Nam bắc triều, sau đó có Vương Chấp đời Tống ghi chép trong “ Châm cứu tư sinh kinh”. Thiên cứu ứng dụng ngày này là do từng bước tiên tiến hóa phương pháp Thiên cứu của Trương Lộ đời Thanh.
Thiên trong thiên cứu có nghĩa là thiên thời hoặc tam phục thiên (khoảng thời gian nóng nhất trong năm), là phương pháp căn cứ vào Thiên chi địa can để tính toán thời gian điều trị, vào thời gian Tam phục, thời tiết cực nóng, lỗ chân lông sẽ mở ra, thuốc thông qua bì phù, lỗ chân lông, tuyến mồ hôi thẩm thấu vào mạch máu, theo khí huyết lưu thông mà đến các tạng phủ từ đó phát huy được hiệu quả điều trị).
Cứu trong Thiên cứu là chỉ tác dụng dùng ôn nhiệt để khử hàn dưỡng dương, thiên cứu được thực hiện thông qua việc dùng những vị thuốc được phối ngũ đặc biệt, dán lên những vị trí huyệt nhất định, có thể duy trì hiệu quả ôn kinh tán hàn, sơ thông kinh lạc, hoạt huyết thông mạch, điều tiết công năng tạng phủ, từ đó có thể cải thiện các triệu chứng lâm sàng, lại có thể nâng cao sức đề kháng cho cơ thể.
Thiên cứu được ứng dụng trên lâm sàng điều trị hiệu quả các bệnh như đau dạ dày thể thư hàn, viêm mũi dị ứng, cảm mạo phong hàn, hen suyễn, các chứng ho ở trẻ nhỏ, hội chứng ruột kích thích, đau xương khớp, thoái cột sống cổ, cột sống thắt lưng, khớp gối, đau đầu do lạnh… đặc biệt thích hợp với những người có cơ địa hư hàn, dương khí không đủ (triệu chứng như da trắng nhợt, chân tay lạnh, mệt mỏi, ăn uống kém, hay ra mồ hôi, đoản hơi, đi ngoài phân nát lỏng, tiểu đêm nhiều lần…).
Khoa điều trị cao cấp đã ứng dụng Thiên cứu trong điều trị một số bệnh trên với các vị thuốc được dùng như Tế tân, Bán hạ chế, Nhục quế, Sinh khương, Bạch giới tử… các vị thuốc tán thành bột mịn, thêm dấm với lượng vừa đủ, rồi dán vào các huyệt theo công thức huyệt (thông thường 4-8 huyệt thành một tổ hợp, trung bình 6 huyệt) được lựa chọn.
Thời gian ứng dụng trong năm: Tam phục thiên (bao gồm sơ phục, trung phục và mạt phục) thường rơi vào trung tuần tháng 7 đến trung tuần tháng 8 dương lịch. Mỗi một phục thiệp dán 1 lần với 1 tổ hợp huyệt, mỗi năm dán ít nhât 3 lần (3 phục thiên), có thể thêm 1 lần trước và sau tam phục tổng 5 lần, điều trị liên tục ít nhất 3 năm.
Điểm cần lưu ý: Tránh dùng thiên cứu cho người có cơ địa mẫn cảm với thành phần của thuốc, phụ nữ có thai, người có cơ địa nhiệt thịnh.Trong vòng 3 ngày sau thiên cứu, nên hạn chế đồ ăn sống lạnh, cay nóng để tránh ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.