Yakumi - Bảo Vệ Dạ Dày

Yakumi - Bảo Vệ Dạ Dày Yakumi - Bảo Vệ Dạ Dày
An Toàn - Hiệu Quả

Đau dạ dày kèm đầy hơi, chướng bụng điều trị thế nào?HỏiChào bác sĩ ạ!Mẹ tôi tiền mãn kinh từ thời điểm khoảng 51 tuổi. ...
22/10/2021

Đau dạ dày kèm đầy hơi, chướng bụng điều trị thế nào?
Hỏi
Chào bác sĩ ạ!
Mẹ tôi tiền mãn kinh từ thời điểm khoảng 51 tuổi. Trước đây mẹ tôi ngủ khoảng 4h/đêm. Tuy nhiên sau khi mãn kinh, mẹ tôi chỉ ngủ từ 1-2h/đêm. Mẹ tôi có tiền sử bệnh đau bao tử và u tuyến giáp. Gần đây bệnh đau bao tử mẹ tôi trở nặng, đầy hơi chướng bụng, ăn không ngon, không muốn ăn, buồn nôn, ho nặng, hay nấc cụt, ợ hơi nhiều, mất ngủ nặng hơn do tâm lý lo lắng. Vậy bác sĩ cho tôi hỏi điều trị mất ngủ, đau bao tử như thế nào? Tôi cảm ơn bác sĩ!
Kiều Thị Mạc (1965)
Trả lời
Chào bạn.
Bác sĩ xin được trả lời câu hỏi: “Điều trị mất ngủ, đau bao tử như thế nào?” như sau:
Các triệu chứng của mẹ bạn như đầy hơi, chướng bụng, nấc cụt, ợ hơi,... liên quan đến các bệnh lý dạ dày, đại tràng như: viêm thực quản trào ngược, viêm dạ dày, viêm loét đại tràng. Mẹ bạn cần phải nội soi dạ dày, nội soi đại tràng và một số xét nghiệm khác để đánh giá kỹ hơn các bệnh lý này.

Biểu hiện đường tiêu hóa của bệnh viêm loét đại tràng chảy máuBài viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương - Khoa Khám b...
22/10/2021

Biểu hiện đường tiêu hóa của bệnh viêm loét đại tràng chảy máu
Bài viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park
Viêm loét đại trực tràng chảy máu là bệnh lý viêm mạn tính gây viêm niêm mạc đại tràng liên tục với đặc trưng trên mô bệnh học là tổn thương u hạt. Bệnh tác động đến trực tràng và đại tràng ở các mức độ khác nhau với từng đợt tiến triển và lui bệnh.
1. Biểu hiện lâm sàng
Viêm loét đại trực tràng chảy máu (VLĐTTCM) là bệnh lý viêm ruột mãn tính tác động đến đại tràng với cơ chế bệnh sinh chưa thật sự rõ ràng.
VLĐTTCM đặc trưng bởi tổn thương viêm lan tỏa trên bề mặt của niêm mạc đại tràng, bắt đầu từ trực tràng lan lên đến các đoạn khác của đại tràng.
Ruột non thường không thấy tổn thương mặc dù đoạn cuối hồi tràng có thể có tổn thương viêm bề mặt. Dựa vào mức độ lan rộng của tổn thương đại tràng, có thể phân loại VLĐTTCM thành các thể: Viêm trực tràng (tổn thương khu trú ở trực tràng), viêm đại tràng sigma - trực tràng hoặc đại tràng trái (lan đến góc lách) hoặc viêm đại tràng lan tỏa/toàn bộ. Mức độ lan rộng của tổn thương không chỉ liên quan đến mức độ nặng mà còn ảnh hưởng đến tiền bạc và lựa chọn điều trị. Triệu chứng và diễn biến bệnh liên quan đến mức độ lan rộng và nặng của tổn thương viêm.
Để tìm hiểu rõ hơn về mức độ biểu hiện của bệnh, những triệu chứng của viêm loét đại tràng chảy máu, hãy tham khảo bài viết dưới đây.
XEM THÊM: Bệnh viêm loét đại tràng chảy máu được tìm ra như thế nào?
2. Các biểu hiện đường tiêu hóa của bệnh viêm loét đại tràng chảy máu
2.1. Viêm loét trực tràng
Viêm loét trực tràng được định nghĩa là tình trạng viêm khu trú ở đoạn trực tràng và là dạng có mức độ lan rộng nhẹ nhất, chiếm từ 25 - 30% các trường hợp khi mới chẩn đoán.
Bệnh nhân thường có biểu hiệu đại tiện ra máu, cảm giác cần đại tiện ngay hoặc đôi khi lại có triệu chứng táo bón do tình trạng luân chuyển phân chậm ở đại tràng phải. Các triệu chứng toàn thân thường hiếm gặp nhưng có thể thấy tổn thương ở da hay khớp kèm theo. Có khoảng 30 - 40% bệnh nhân viêm loét trực tràng sau đó tiến triển thêm ở các đoạn khác của đại tràng.
2.2. Viêm loét đại tràng sigma - trực tràng
Viêm loét đại tràng sigma - trực tràng hay còn gọi là viêm đại tràng trái xảy ra ở 40% các trường hợp.
Bệnh nhân có thể có các triệu chứng xen kẽ giữa táo bón và tiêu chảy kèm theo đầy tức bụng, buồn đại tiện, đại tiện ra máu. Đau quặn bụng hố chậu trái và các triệu chứng ngoài đường tiêu hóa thường gặp hơn so với nhóm viêm loét trực tràng đơn thuần.
2.3. Viêm loét toàn bộ đại tràng
Viêm loét toàn bộ đại tràng được chẩn đoán khi tổn thương viêm lan đếntận đại tràng ngang hoặc đại tràng phải. Bệnh nhân thường có biểu hiện tiêu chảy, đại tiện ra máu, buồn đại tiện, đầy tức bụng, đau quặn khắp bụng hoặc khu trú. Ngoài ra bệnh nhân nhóm này thường gầy sút cân, các triệu chứng toàn thân ngoài đường tiêu hóa và thiếu máu.
>>Xem thêm: Hiệu quả của liệu pháp đơn trị liệu Thiopurine trong viêm loét đại tràng- Bài viết của Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park
2.4. Phình đại tràng nhiễm độc
Phình đại tràng nhiễm độc là biến chứng nặng nhất của viêm loét đại tràng chảy máu khi tổn thương viêm lan từ lớp niêm mạc bề mặt xuống lớp dưới niêm mạc và lớp cơ. Biến chứng này thường xảy ra ở những bệnh nhân viêm đại tràng lan tỏa hoặc viêm đại tràng ở mức độ nặng. Các biểu hiện lâm sàng bao gồm sốt, kiệt sức, đau quặn bụng dữ dội, chướng bụng, cảm giác đau tức khu trú hoặc toàn bụng.
3. Đánh giá mức độ bệnh
Mức độ nặng của các triệu chứng trên lâm sàng phụ thuộc vào độ dàiđoạn đại tràng tổn thương và mức độ viêm. Có thể sử dụng tiêu chuẩn Truelove và Witts truyền thống hoặc cải tiến để đánh giá mức độ nặng của
các triệu chứng lâm sàng và sự cải thiện sau khi điều trị.
Bệnh nhân được đánh giá ở mức độ trung bình khi có các tiêu chuẩn nằm ở giữa mức độ nhẹ và nặng kèm tiêu chuẩn tối cấp được bổ sung thêm ở bảng phân loại cải tiến. Hầu hết các bệnh nhân sẽ có biểu hiện ở mức độ trung bình và khả năng tái phát sau khi đạt được lui bệnh có thể lên đến 90% nếu không theo dõi và điều trị duy trì.
Mức độ nhẹ được định nghĩa là khi bệnh nhân đại tiện

Xét nghiệm máu chẩn đoán bệnh ung thư dạ dàyXét nghiệm máu có thể được sử dụng để sàng lọc ung thư dạ dày. Bên cạnh các ...
22/10/2021

Xét nghiệm máu chẩn đoán bệnh ung thư dạ dày
Xét nghiệm máu có thể được sử dụng để sàng lọc ung thư dạ dày. Bên cạnh các chỉ số về tế bào máu, chất điện giải, chỉ số đánh giá chức năng gan, thận thì xét nghiệm máu tìm chất chỉ điểm ung thư được xem là có ý nghĩa trong chẩn đoán sớm ung thư dạ dày.
1. Xét nghiệm máu trong sàng lọc ung thư dạ dày
1.1. Xét nghiệm máu tìm chất chỉ điểm ung thư
Chất chỉ điểm ung thư là các chất hóa học có thể xuất hiện trong máu ở một số loại ung thư. Do đó, loại xét nghiệm máu này có thể được chỉ định để sàng lọc ung thư dạ dày. Ví dụ, các kháng nguyên carcinoembryonic (CEA) và kháng nguyên CA 19-9 có thể tăng lên trong ung thư dạ dày, cũng như các bệnh ung thư khác.
Tuy nhiên, một số người bị ung thư dạ dày không tăng nồng độ các chất chỉ điểm ung thư hoặc tăng nhưng với tình trạng bệnh lý khác không phải ung thư. Trong trường hợp tăng nồng độ các chất chỉ điểm ung thư, người bệnh vẫn cần thực hiện thêm các xét nghiệm khác để hỗ trợ chẩn đoán chính xác tình trạng sức khỏe đang gặp phải.
1.2. Tổng phân tích tế bào máu (FBC)
Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu (FBC) được sử dụng với mục đích kiểm tra số lượng từng loại tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu).
Hồng cầu có nhiệm vụ mang oxy đi khắp cơ thể. Nếu số lượng hồng cầu thấp, rất có thể bạn bị thiếu máu, đặc biệt là khi có biểu hiện mệt mỏi, khó thở hoặc chóng mặt.
Bạch cầu có vai trò chống lại nhiễm trùng. Bạch cầu có nhiều loại khác nhau như bạch cầu trung tính, tế bào lympho.
Tiểu cầu có tác dụng làm đông máu. Số lượng tiểu cầu thấp có thể gây chảy máu bất thường, chẳng hạn như chảy máu chân răng và chảy máu cam.
Xét nghiệm công thức máu không có phạm vi bình thường chính xác hoàn toàn. Kết quả xét nghiệm có thể chênh lệch nhau một chút giữa các phòng xét nghiệm và cũng khác nhau giữa nam và nữ.
Sơ đồ bảng thể hiện giá trị công thức máu bình thường của nam và nữ
1.3. Urê và chất điện giải
Urê là chất thải được thận loại bỏ khỏi máu và thải ra ngoài theo nước tiểu. Xét nghiệm xác định chỉ số urê trong máu giúp đánh giá chức năng thận đang hoạt động như thế nào. Các chất điện giải như natri, kali, clorua, bicacbonat cũng được thực hiện để xác định mức độ cân bằng điện giải trong cơ thể.
1.4. Kiểm tra chức năng gan (LFTs)
Xét nghiệm chức năng gan (LFTs) giúp kiểm tra hoạt động của gan bằng việc xác định nồng độ của các loại enzym, protein được tạo ra hoặc đào thải bởi gan, chúng gồm có:
Alanine aminotransferase (ALT)
Aspartate aminotransferase (AST)
Phosphatase kiềm (ALP)
Gamma-glutamyl transferase (Gamma GT)
Các chỉ số này giúp xác định các tình trạng tắc nghẽn ở gan hoặc ống mật, lạm dụng rượu. Xét nghiệm cũng có thể giúp xác định chỉ số bilirubin, chỉ số này sẽ tăng lên khi gặp các vấn đề về gan hoặc túi mật. Nồng độ bilirubin cao trong cơ thể có thể gây vàng da và mắt.
LFTs cũng có thể đo nồng độ albumin, một loại protein trong máu. Nồng độ albumin thường thấp trong một số loại ung thư, suy dinh dưỡng hoặc ăn uống kém.
2. Ý nghĩa tổng quát của xét nghiệm máu
Xét nghiệm máu được sử dụng với mục đích:
Kiểm tra sức khỏe tổng quát bao gồm cả chức năng gan và thận
Kiểm tra số lượng tế bào máu
Giúp chẩn đoán nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau
Mẫu máu sẽ được gửi đến phòng xét nghiệm để kiểm tra số lượng các tế bào máu, các loại hóa chất và protein khác nhau trong máu. Từ đó, giúp bác sĩ phát hiện các bất thường trong cơ thể bạn.
3. Chuẩn bị gì trước khi làm xét nghiệm máu
Đối với hầu hết các loại xét nghiệm máu, bạn có thể ăn uống bình thường trước khi đến xét nghiệm. Tuy nhiên, đối với một số loại xét nghiệm máu, bác sĩ sẽ dặn trước bạn cần nhịn ăn trong một khoảng thời gian nào đó trước khi làm xét nghiệm.
4. Xét nghiệm máu được thực hiện như thế nào?
Bạn có thể được lấy máu ở tư thế ngồi hoặc tư thế nằm. Điều dưỡng sẽ chọn tĩnh mạch tốt nhất để lấy máu, chủ yếu là ở cánh tay hoặc bàn tay. Trường hợp sợ kim tiêm, cảm thấy không khỏe khi nhìn thấy máu, bị dị ứng với băng gán, v.v. thì hãy nói với nhân viên y tế để được chăm sóc tốt nhất.
Sau khi đã chọn vein, điều dưỡng viên sẽ đặt một dải băng (garô) quanh cánh tay phía trên khu vực cần lấy mẫu. Bạn có thể cần nắm chặt tay để tìm tĩnh mạch dễ dàng hơn.
Điều dưỡng sẽ làm sạch da, đưa kim tiêm vào tĩnh mạch và rút máu theo đúng số lượng yêu cầu rồi rút dây garô, rút kim tiêm, dán băng cá nhân lên vùng tiêm. Sau khi rút kim, máu sẽ được đổ đầy vào các ống xét nghiệm.
Nếu sợ máu, bạn có thể cần nhìn ra chỗ khác trong khi lấy máu. Nói với bác sĩ hoặc điều dưỡng nếu bạn cảm thấy không khỏe.
Sau khi lấy máu xong, hãy hỏi thời gian chờ kết quả. Một số loại xét nghiệm chỉ cần thực hiện trong thời gian ngắn, nhưng cũng có loại phải mất vài tuần.
5. Rủi ro khi làm xét nghiệm máu
Xét nghiệm máu là một loại xét nghiệm an toàn. Tuy nhiên, sau khi lấy máu bạn có thể gặp các vấn đề sau:
Chảy máu và bầm tím có thể giảm bằng việc ấn mạnh vào vùng tiêm sau khi rút kim tiêm
Cảm thấy đau nhẹ, thường kéo dài trong vài phút
Sưng nề cánh tay, nhờ bác sĩ tư vấn cách để giảm sưng
Choáng váng hoặc ngất xỉu, nói với nhân viên y tế nếu bạn có cảm giác này
Nhiễm trùng, rủi ro này rất hiếm gặp
Xét nghiệm máu có thể được sử dụng để sàng lọc ung thư dạ dày, cùng nhiều các bệnh lý khác. Vì thế để chẩn đoán bệnh lý chính xác, người bệnh cần tuân thủ theo hướng dẫn của bác sĩ.
Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã và đang tiếp tục trang bị đầy đủ các phương tiện chẩn đoán hiện đại như: PET/CT, SPECT/CT, MRI..., xét nghiệm huyết tủy đồ, mô bệnh học, xét nghiệm hóa mô miễn dịch, xét nghiệm gen, xét nghiệm sinh học phân tử, xét nghiệm máu, cũng như có đầy đủ các loại thuốc điều trị đích, thuốc điều trị miễn dịch tiên tiến nhất trong điều trị ung thư. Điều trị ung thư đa mô thức từ phẫu thuật, xạ trị, hoá trị, ghép tế bào gốc tạo máu, liệu pháp nhắm trúng đích, liệu pháp miễn dịch trong điều trị ung thư, các điều trị mới như liệu pháp miễn dịch tự thân, nhiệt trị...
Sau khi có chẩn đoán chính xác bệnh, giai đoạn, người bệnh sẽ được tư vấn lựa chọn những phương pháp điều trị phù hợp và hiệu quả nhất. Quá trình điều trị luôn được phối hợp chặt chẽ cùng nhiều chuyên khoa để đem lại hiệu quả cũng như sự thoải mái cao nhất cho người bệnh. Sau khi trải qua giai đoạn điều trị, bệnh nhân cũng sẽ được theo dõi, tái khám để nhận định việc điều trị ung thư có đem lại hiệu quả hay không?
Đặc biệt, hiện nay để nâng cao chất lượng dịch vụ, Vinmec còn triển khai gói sàng lọc ung thư dạ dày có thể giúp Quý khách hàng phát hiện bệnh lý ung thư từ sớm trước khi chưa có triệu chứng, đem lại tiên lượng điều trị và cơ hội phục hồi bệnh cao.

Bệnh ung thư dạ dày tiến triển nhanh như thế nào?Ung thư dạ dày tiến triển trong bao lâu? Bệnh ung thư dạ dày bắt đầu hì...
22/10/2021

Bệnh ung thư dạ dày tiến triển nhanh như thế nào?
Ung thư dạ dày tiến triển trong bao lâu? Bệnh ung thư dạ dày bắt đầu hình thành ở lớp niêm mạc, dần dần phát triển thành khối u với tính chất chậm rãi trong nhiều năm. Do đó, nếu có các triệu chứng bệnh cùng với các yếu tố nguy cơ khác thì bạn cần đi khám để được sàng lọc và điều trị bệnh ở giai đoạn sớm.
1. Nguyên nhân nào gây bệnh ung thư dạ dày?
Nguyên nhân gây bệnh ung thư dạ dày chưa được biết chính xác nhưng yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh đã được xác định. Trong đó, phổ biến nhất là vi khuẩn H.pylori gây loét dạ dày, tình trạng viêm dạ dày gây thiếu máu kéo dài và polyp dạ dày. Ngoài ra, sự phát triển của ung thư dạ dày còn có thể xảy ra dưới tác động của một số yếu tố khác gồm:
Hút thuốc
Thừa cân hoặc béo phì
Chế độ ăn nhiều thực phẩm hun khói, muối chua hoặc mặn
Phẫu thuật loét dạ dày
Nhóm máu A
Nhiễm vi rút Epstein-Barr
Một số loại gen nhất định
Làm việc trong các ngành công nghiệp than, kim loại, gỗ hoặc cao su
Tiếp xúc với amiăng
2. Bệnh ung thư dạ dày tiến triển nhanh như thế nào?
Ngay từ sớm, sự tiến triển của ung thư dạ dày đã có thể gây ra các triệu chứng như:
Khó tiêu
Cảm thấy đầy hơi sau bữa ăn
Ợ nóng
Buồn nôn nhẹ
Ăn mất ngon
Chỉ bị khó tiêu hoặc ợ chua sau bữa ăn không có nghĩa là bị ung thư. Tuy nhiên, đây là những triệu chứng ban đầu của ung thư, do đó, để thận trọng bạn nên đi khám để điều trị các triệu chứng này, tránh làm tình trạng xấu đi, có thể tạo điều kiện cho ung thư dạ dày tiến triển.
Khi khối ung thư dạ dày tiến triển, bạn có thể gặp các triệu chứng nghiêm trọng hơn, chẳng hạn như:
Đau bụng
Máu trong phân
Nôn mửa
Giảm cân không rõ nguyên nhân
Khó nuốt
Da hoặc mắt hơi vàng
Chướng bụng
Táo bón hoặc tiêu chảy
Suy nhược hoặc cảm thấy mệt mỏi
Ợ nóng
Sự phát triển ung thư dạ dày diễn ra chậm rãi trong nhiều năm, ứng với mỗi giai đoạn lại có những mức độ xâm lấn khác nhau của tế bào ung thư, cụ thể như sau:
Giai đoạn 0: Giai đoạn 0 dùng để chỉ một nhóm tế bào bất thường có thể chuyển thành ung thư trong lớp niêm mạc của dạ dày. Ở giai đoạn này, phẫu thuật thường có thể chữa dứt điểm bệnh. Khi đó, một phần hoặc toàn bộ dạ dày cùng với các hạch bạch huyết gần đó có thể bị cắt bỏ.
Giai đoạn I: Giai đoạn I dùng để chỉ một khối u trong niêm mạc dạ dày và có khả năng ung thư dạ dày tiến triển di căn vào các hạch bạch huyết. Cũng như giai đoạn 0, giải pháp được sử dụng cho giai đoạn I là phẫu thuật cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ dạ dày và các hạch bạch huyết lân cận. Ngoài ra, hóa trị hoặc xạ trị có thể được sử dụng phối hợp trước và sau khi phẫu thuật với mục đích lần lượt là thu nhỏ khối u và tiêu diệt bất kỳ tế bào ung thư nào còn sót lại.
Giai đoạn II: Ở giai đoạn II, các tế bào ung thư đã lan vào các lớp sâu hơn của dạ dày và có thể ung thư dạ dày tiến triển di căn vào các hạch bạch huyết gần đó. Phẫu thuật cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ dạ dày cũng như các hạch bạch huyết gần đó vẫn là phương pháp điều trị chính. Hóa trị và xạ trị trước và sau phẫu thuật cũng được sử dụng để điều trị phối hợp.
Giai đoạn III: Ở giai đoạn III, tế bào ung thư có thể đã lan đến tất cả các lớp của dạ dày và di căn đến các cơ quan gần đó như lá lách hoặc đại tràng. Cấu tạo của tế bào ung thư có thể nhỏ hơn, len lỏi sâu hơn và hệ thống bạch huyết của bạn. Phẫu thuật cắt toàn bộ dạ dày kết hợp với hóa trị hoặc xạ trị thường được sử dụng cho giai đoạn này. Khả năng chữa khỏi có thể có, nếu không, ít nhất nó có thể giúp làm giảm các triệu chứng bệnh. Nếu cơ thể quá yếu để có thể phẫu thuật, bạn có thể được đề nghị hóa trị, xạ trị hoặc kết hợp cả hai, tùy vào mức độ đáp ứng của cơ thể.
Giai đoạn IV: Trong giai đoạn cuối này, ung thư dạ dày tiến triển di căn đã xa và rộng đến các cơ quan như gan, phổi hoặc não. Việc điều trị trở nên rất khó khăn, nhưng bác sĩ có thể giúp bạn kiểm soát tình trạng bệnh và giảm bớt các triệu chứng bệnh.
Nếu khối u chặn một phần của hệ tiêu hóa, bạn có thể được đề nghị sử dụng các biện pháp sau:
Thực hiện thủ thuật phá hủy một phần khối u bằng tia laser trên ống nội soi dạ dày
Đặt stent giữa dạ dày và thực quản hoặc dạ dày và ruột non
Phẫu thuật cắt bỏ dạ dày để tạo đường xung quanh khối u.
Phẫu thuật cắt bỏ một phần dạ dày
Hóa trị, xạ trị hoặc cả hai cũng có thể được sử dụng trong giai đoạn này.
Liệu pháp nhắm trúng đích sử dụng các loại thuốc tấn công các tế bào ung thư, nhưng không gây ảnh hưởng đến các tế bào khỏe mạnh, điều này có thể gây ít tác dụng phụ hơn.
3. Chẩn đoán bệnh ung thư dạ dày
Bệnh ung thư dạ dày thường không được bác sĩ đề nghị kiểm tra định kỳ vì đây là bệnh hiếm gặp. Tuy nhiên, nếu bạn là người có nguy cơ cao, bác sĩ sẽ hướng dẫn cách để bạn theo dõi bệnh.
Để chẩn đoán bệnh ung thư dạ dày, bác sĩ sẽ bắt đầu với việc khám sức khỏe, hỏi tiền sử bệnh để tìm hiểu liệu bạn có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào không, tiền sử gia đình có mắc bệnh ung thư không. Sau đó, bác sĩ có thể đề nghị bạn thực hiện các xét nghiệm sau:
Xét nghiệm máu để tìm các dấu hiệu ung thư trong cơ thể.
Nội soi dạ dày thông qua ống nội soi để quan sát hoạt động của dạ dày
Chụp X quang cản quang ống tiêu hóa trên với Barium để hình ảnh dạ dày được hiện lên rõ ràng hơn
Chụp CT: Sử dụng một loại tia X cực mạnh để chụp ảnh chi tiết bên trong cơ thể
Sinh thiết: Một mẩu mô nhỏ ở dạ dày sẽ được lấy ra để làm xét nghiệm giải phẫu bệnh tìm tế bào ung thư. Sinh thiết thường được thực hiện trong quá trình nội soi dạ dày.
4. Ngăn ngừa ung thư dạ dày bằng cách nào?
Điều trị nhiễm trùng dạ dày: Nếu bạn bị loét do nhiễm H. pylori, hãy tiến hành điều trị. Thuốc kháng sinh có thể tiêu diệt vi khuẩn và các loại thuốc khác sẽ chữa lành vết loét trong niêm mạc dạ dày để giảm nguy cơ ung thư.
Ăn uống lành mạnh: Thêm trái cây tươi và rau quả vào chế độ ăn uống mỗi ngày. Chúng giàu chất xơ và một số vitamin có thể làm giảm nguy cơ ung thư. Tránh các thực phẩm quá mặn, ngâm chua, muối hoặc hun khói như xúc xích, thịt chế biến sẵn cho bữa trưa hoặc pho mát hun khói. Giữ cân nặng ở mức hợp lý vì thừa cân hoặc béo phì cũng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư dạ dày.
Đừng hút thuốc: Nguy cơ ung thư dạ dày tăng gấp đôi nếu bạn sử dụng thuốc lá
Theo dõi việc sử dụng aspirin hoặc NSAID: Nếu bạn dùng aspirin hàng ngày để ngăn ngừa các vấn đề về tim hoặc thuốc NSAID cho bệnh viêm khớp, hãy nói chuyện với bác sĩ để ngăn ngừa gây ảnh hưởng của những loại thuốc này đến dạ dày.
Bệnh ung thư dạ dày là bệnh ung thư đường tiêu hóa ngày càng phổ biến. Việc thăm khám và phát hiện bệnh từ sớm sẽ đem lại cơ hội điều trị bệnh tốt hơn, kéo dài tuổi thọ cho người bệnh.
Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã và đang tiếp tục trang bị đầy đủ các phương tiện chẩn đoán hiện đại như: PET/CT, SPECT/CT, MRI..., xét nghiệm huyết tủy đồ, mô bệnh học, xét nghiệm hóa mô miễn dịch, xét nghiệm gen, xét nghiệm sinh học phân tử, cũng như có đầy đủ các loại thuốc điều trị đích, thuốc điều trị miễn dịch tiên tiến nhất trong điều trị ung thư. Điều trị ung thư đa mô thức từ phẫu thuật, xạ trị, hoá trị, ghép tế bào gốc tạo máu, liệu pháp nhắm trúng đích, liệu pháp miễn dịch trong điều trị ung thư, các điều trị mới như liệu pháp miễn dịch tự thân, nhiệt trị...
Sau khi có chẩn đoán chính xác bệnh, giai đoạn, người bệnh sẽ được tư vấn lựa chọn những phương pháp điều trị phù hợp và hiệu quả nhất. Quá trình điều trị luôn được phối hợp chặt chẽ cùng nhiều chuyên khoa để đem lại hiệu quả cũng như sự thoải mái cao nhất cho người bệnh. Sau khi trải qua giai đoạn điều trị, bệnh nhân cũng sẽ được theo dõi, tái khám để nhận định việc điều trị ung thư có đem lại hiệu quả hay không?

22/10/2021

Khó khăn trong chẩn đoán sớm ung thư dạ dày không do nhiễm H.pylori
Bài viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương - Bác sĩ nội soi tiêu hóa - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park
Ung thư dạ dày không do nhiễm vi khuẩn HP tuy khá thấp nhưng gây khó khăn trong việc chẩn đoán. Tùy thuộc vào các triệu chứng, các bác sĩ sẽ thực hiện thăm khám và sử dụng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh phù hợp.
Chữ viết tắt:
Ung thư dạ dày có liên quan đến H. pylori (HpPGC)
Ung thư dạ dày không do nhiễm H. pylori ( Ung thư dạ dày không do nhiễm H. pylori )
1. Tần suất ung thư dạ dày không do nhiễm H. pylori
Tần suất ung thư dạ dày không do nhiễm H. pylori thấp, nhưng con số này dự kiến ​​sẽ tăng lên và tần suất ung thư dạ dày không do nhiễm H. pylori có thể tăng tương ứng. Hiện nay, ung thư dạ dày không do nhiễm H. pylori vẫn hiếm khi được báo cáo và tần suất thay đổi đáng kể từ 0,66% - 14% các trường hợp ung thư dạ dày . Sự khác biệt trong phạm vi này có thể do sự khác biệt trong định nghĩa về tình trạng không nhiễm H. pylori trong các báo cáo trước đây.
2. Các phương pháp phát hiện H. pylori
Các phương pháp phát hiện H. pylori có độ nhạy và độ đặc hiệu cao và thường được chia thành các phương pháp xâm lấn (dựa trên nội soi) và không xâm lấn. Các xét nghiệm chẩn đoán xâm lấn bao gồm hình ảnh nội soi, mô học, nuôi cấy và phương pháp phân tử. Các xét nghiệm chẩn đoán không xâm lấn bao gồm Test hơi thở tìm H.Pylori C13, xét nghiệm kháng nguyên trong phân, xét nghiệm huyết thanh và phân tử. Độ chính xác của chẩn đoán nhiễm H. pylori khác nhau tùy thuộc vào xét nghiệm. Độ nhạy và độ đặc hiệu của UBT, kháng thể kháng HP-IgG huyết thanh là 95% và 95%, 91% -100% và 50% -91% và 85% -95% và 95% -100%, tương ứng, tuy nhiên, một số xét nghiệm có thể tạo ra âm tính giả do thuốc ức chế Proton Pomp (PPI) hoặc các yếu tố của bệnh nhân, bao gồm cả việc sử dụng kháng sinh trong quá khứ. Để xác nhận H. pylori tình trạng chưa nhiễm bệnh, cần chứng minh nhiều xét nghiệm, ngay cả khi bệnh nhân hiện âm tính với H. pylori. Bởi có khả năng, người bệnh bị nhiễm trùng trong quá khứ, vì thế, đánh giá tình trạng teo dạ dày là cần thiết để phân biệt xác định xem có bị nhiễm trùng trong quá khứ hay không.
3. Chẩn đoán ung thư dạ dày do nhiễm H.pylori bằng nội soi phóng đại với hình ảnh dải hẹp (ME-NBI)
Nội soi phóng đại với hình ảnh dải hẹp (ME-NBI) là một kỹ thuật được phát triển gần đây. Đây là sự kết hợp của nội soi phóng đại và hình ảnh dải hẹp. Nó được sử dụng rộng rãi trong việc phát hiện ung thư thực quản, dạ dày dựa trên các phát hiện vi mô cơ bản về cấu trúc vi mạch (MV) và cấu trúc bề mặt siêu nhỏ (MS) của niêm mạc bề ngoài. Niêm mạc dạ dày được cấu tạo bởi biểu mô tuyến, khác với các tuyến bình thường. Có nhiều hệ thống phân loại khác nhau để mô tả mối tương quan giữa hình ảnh vi mô và hình ảnh thực tế được hiển thị bằng ME-NBI.
4. Mô hình MV (Microvascular) và MS (Microsurface) và đường ranh giới trong chẩn đoán ung thư sớm dạ dày
Mô hình MV (Microvascular – vi mạch) và MS (Microsurface – vi bề mặt) được báo cáo bởi Yao và những người khác, trong đó ba mô hình vi mạch / bề mặt vi mô được mô tả: đều đặn, không đều và không có. Theo các mẫu MS / MV này, người ta có thể phân biệt u tuyến loạn sản độ thấp ở dạ dày với ung thư dạ dày giai đoạn sớm hoặc xác định mức độ lan sang bên và độ sâu xâm lấn khối u của ung thư dạ dày sớm để điều trị cắt bỏ nội soi. Tiêu chuẩn chẩn đoán ung thư dạ dày phụ thuộc vào sự hiện diện của mẫu MS / MV không đều với đường phân giới.
Điều đáng nói là 97% EGC phù hợp với các tiêu chí trên. Kaise và cộng sự đã xem xét tầm quan trọng của các thay đổi MS và MV khác nhau, chẳng hạn như sự biến mất của mẫu MS, sự thay đổi về kích thước tàu và sự không đồng nhất về hình dáng. Các tiêu chuẩn này xác định chẩn đoán ung thư với độ nhạy 69,1% và độ đặc hiệu 85,3%. Để phân biệt giữa ung thư biểu mô tuyến và ung thư biểu mô tuyến không biệt hoá, Nakayoshi đã phân loại các mô hình MV của ung thư dạ dày bề ngoài thành ba nhóm: mô hình mạng lưới nhỏ, mô hình hình xoắn ốc và mô hình chưa được phân loại. Yokoyama và cộng sự nhận thấy rằng mô hình vòng lặp nội nhãn (Karaoke) và sự hiện diện của mạng lưới mịn hoặc các mạch xoắn trên mô hình MV có thể liên quan đến loại phụ mô học, nhưng không rõ liệu các tiêu chí này có thể được áp dụng rộng rãi hay không.
5. Khó khăn trong chẩn đoán ung thư dạ dày không do nhiễm H.pylori
Những thay đổi bất thường về tân sinh trong ung thư dạ dày không do nhiễm H.pylori ME-NBI là do các tế bào khối u chỉ tồn tại trong vùng tăng sinh của niêm mạc và lớp bề mặt được bao phủ bởi biểu mô không ung thư. Đây là lý do tại sao các phát hiện bệnh lý không cho thấy bất thường ở vi mạch / bề mặt vi mô. Về mặt miễn dịch, các tế bào khối u cho thấy một kiểu hình dạ dày. Được biết, ung thư biểu mô tế bào nhẫn dấu hiệu của kiểu hình ruột xâm nhập từ vùng tăng sinh của niêm mạc vào lớp niêm mạc sâu và xâm nhập riêng lẻ vào lớp dưới niêm mạc trong khi duy trì niêm mạc cơ và đôi khi tiến triển thành ung thư dạ dày. Ung thư biểu mô tế bào dạng vòng nhẫn kiểu hình dạ dày tiến triển từ vùng tăng sinh đến lớp bề mặt của niêm mạc, có khả năng ác tính thấp hơn so với kiểu hình ruột.
6. Có thể chẩn đoán nhầm ung thư dạ dày không do nhiễm H. pylori với một số bệnh lý khác
Các báo cáo trước đây về loại ung thư dạ dày không do nhiễm H. pylori biệt hóa hầu hết đã xác định được ung thư biểu mô tuyến dạng tuyến cơ bản và ung thư dạ dày kiểu hình dạ dày với chứng teo cơ mức độ thấp. Tuy nhiên, với số lượng ít các báo cáo, rất khó để xác định các đặc điểm bệnh lý lâm sàng nhất quán của ung thư dạ dày không do nhiễm H. pylori.
Điều đáng chú ý là, ngoài ung thư biểu mô tế bào vòng nhẫn đơn thuần và ung thư biểu mô tuyến cơ bản, thường thấy trong các báo cáo trước đây, nghiên cứu của các tác giả còn bao gồm ung thư biểu mô tuyến dạng thấp kiểu hình dạ dày, ung thư biểu mô tuyến kiểu ổ và ung thư biểu mô tuyến ruột. Sự xuất hiện của các loại ung thư biểu mô tuyến cơ bản đã được báo cáo bên cạnh loại không biệt hóa trong các báo cáo trước đây của ung thư dạ dày không do nhiễm H. pylori. Khối u này có kiểu hình dạ dày và ung thư biểu mô tuyến cấp thấp xảy ra ở tuyến cơ bản trên lớp niêm mạc giữa hoặc ngay trên lớp cơ niêm mạc. Khối u được bao phủ bởi biểu mô không phải ung thư, do đó, nó thể hiện hình thái giống khối u dưới niêm mạc (giống SMT) và đôi khi thâm nhiễm vào lớp dưới niêm mạc.
Trong những năm gần đây, chẩn đoán NBI đã trở nên không thể thiếu trong chẩn đoán ung thư dạ dày. Ở Nhật Bản, hệ thống phân loại VS (kiến trúc vi mạch và cấu trúc bề mặt vi mô) của Yao được trích dẫn rộng rãi. Hơn nữa, phân loại của Yokoyama và cộng sự rất hữu ích vì nó có thể hỗ trợ xác định ung thư dạ dày sớm trong hình ảnh NBI.
Tuy nhiên, trong loại ung thư dạ dày không do nhiễm H. pylori này, có nhiều trường hợp không thể được đặc trưng bởi phân loại ung thư dạ dày thông thường bằng NBI. Ví dụ, trong ung thư biểu mô tuyến dạng tuyến cơ bản, đường phân ranh giới (dermacation line) không rõ ràng vì khối u được bao phủ bởi biểu mô không tân sinh, nên mô hình bất thường vi cấu trúc bề mặt (là những phát hiện NBI thường xuyên và điển hình của ung thư biểu mô tuyến biệt hóa) không thể được xác định. Ngoài ra, ung thư biểu mô tế bào vòng nhẫn thuần túy không biểu hiện mô hình xoắn ốc điển hình, một dạng biến đổi vi bề mặt của ung thư dạ dày. Các trường hợp này được phân loại theo hệ thống phân loại NBI. Do đó, ung thư dạ dày không do nhiễm H. pylori có thể không phù hợp với hệ thống phân loại NBI thông thường.

Biểu hiện đường tiêu hóa của bệnh viêm loét đại tràng chảy máuBài viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương - Khoa Khám b...
22/10/2021

Biểu hiện đường tiêu hóa của bệnh viêm loét đại tràng chảy máu
Bài viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park
Viêm loét đại trực tràng chảy máu là bệnh lý viêm mạn tính gây viêm niêm mạc đại tràng liên tục với đặc trưng trên mô bệnh học là tổn thương u hạt. Bệnh tác động đến trực tràng và đại tràng ở các mức độ khác nhau với từng đợt tiến triển và lui bệnh.
1. Biểu hiện lâm sàng
Viêm loét đại trực tràng chảy máu (VLĐTTCM) là bệnh lý viêm ruột mãn tính tác động đến đại tràng với cơ chế bệnh sinh chưa thật sự rõ ràng.
VLĐTTCM đặc trưng bởi tổn thương viêm lan tỏa trên bề mặt của niêm mạc đại tràng, bắt đầu từ trực tràng lan lên đến các đoạn khác của đại tràng.
Ruột non thường không thấy tổn thương mặc dù đoạn cuối hồi tràng có thể có tổn thương viêm bề mặt. Dựa vào mức độ lan rộng của tổn thương đại tràng, có thể phân loại VLĐTTCM thành các thể: Viêm trực tràng (tổn thương khu trú ở trực tràng), viêm đại tràng sigma - trực tràng hoặc đại tràng trái (lan đến góc lách) hoặc viêm đại tràng lan tỏa/toàn bộ. Mức độ lan rộng của tổn thương không chỉ liên quan đến mức độ nặng mà còn ảnh hưởng đến tiền bạc và lựa chọn điều trị. Triệu chứng và diễn biến bệnh liên quan đến mức độ lan rộng và nặng của tổn thương viêm.
Để tìm hiểu rõ hơn về mức độ biểu hiện của bệnh, những triệu chứng của viêm loét đại tràng chảy máu, hãy tham khảo bài viết dưới đây.
XEM THÊM: Bệnh viêm loét đại tràng chảy máu được tìm ra như thế nào?
2. Các biểu hiện đường tiêu hóa của bệnh viêm loét đại tràng chảy máu
2.1. Viêm loét trực tràng
Viêm loét trực tràng được định nghĩa là tình trạng viêm khu trú ở đoạn trực tràng và là dạng có mức độ lan rộng nhẹ nhất, chiếm từ 25 - 30% các trường hợp khi mới chẩn đoán.
Bệnh nhân thường có biểu hiệu đại tiện ra máu, cảm giác cần đại tiện ngay hoặc đôi khi lại có triệu chứng táo bón do tình trạng luân chuyển phân chậm ở đại tràng phải. Các triệu chứng toàn thân thường hiếm gặp nhưng có thể thấy tổn thương ở da hay khớp kèm theo. Có khoảng 30 - 40% bệnh nhân viêm loét trực tràng sau đó tiến triển thêm ở các đoạn khác của đại tràng.
2.2. Viêm loét đại tràng sigma - trực tràng
Viêm loét đại tràng sigma - trực tràng hay còn gọi là viêm đại tràng trái xảy ra ở 40% các trường hợp.
Bệnh nhân có thể có các triệu chứng xen kẽ giữa táo bón và tiêu chảy kèm theo đầy tức bụng, buồn đại tiện, đại tiện ra máu. Đau quặn bụng hố chậu trái và các triệu chứng ngoài đường tiêu hóa thường gặp hơn so với nhóm viêm loét trực tràng đơn thuần.
2.3. Viêm loét toàn bộ đại tràng
Viêm loét toàn bộ đại tràng được chẩn đoán khi tổn thương viêm lan đếntận đại tràng ngang hoặc đại tràng phải. Bệnh nhân thường có biểu hiện tiêu chảy, đại tiện ra máu, buồn đại tiện, đầy tức bụng, đau quặn khắp bụng hoặc khu trú. Ngoài ra bệnh nhân nhóm này thường gầy sút cân, các triệu chứng toàn thân ngoài đường tiêu hóa và thiếu máu.
>>Xem thêm: Hiệu quả của liệu pháp đơn trị liệu Thiopurine trong viêm loét đại tràng- Bài viết của Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park
2.4. Phình đại tràng nhiễm độc
Phình đại tràng nhiễm độc là biến chứng nặng nhất của viêm loét đại tràng chảy máu khi tổn thương viêm lan từ lớp niêm mạc bề mặt xuống lớp dưới niêm mạc và lớp cơ. Biến chứng này thường xảy ra ở những bệnh nhân viêm đại tràng lan tỏa hoặc viêm đại tràng ở mức độ nặng. Các biểu hiện lâm sàng bao gồm sốt, kiệt sức, đau quặn bụng dữ dội, chướng bụng, cảm giác đau tức khu trú hoặc toàn bụng.
3. Đánh giá mức độ bệnh
Mức độ nặng của các triệu chứng trên lâm sàng phụ thuộc vào độ dàiđoạn đại tràng tổn thương và mức độ viêm. Có thể sử dụng tiêu chuẩn Truelove và Witts truyền thống hoặc cải tiến để đánh giá mức độ nặng của
các triệu chứng lâm sàng và sự cải thiện sau khi điều trị.
Bệnh nhân được đánh giá ở mức độ trung bình khi có các tiêu chuẩn nằm ở giữa mức độ nhẹ và nặng kèm tiêu chuẩn tối cấp được bổ sung thêm ở bảng phân loại cải tiến. Hầu hết các bệnh nhân sẽ có biểu hiện ở mức độ trung bình và khả năng tái phát sau khi đạt được lui bệnh có thể lên đến 90% nếu không theo dõi và điều trị duy trì.
Mức độ nhẹ được định nghĩa là khi bệnh nhân đại tiện

Address

Nguyễn Trãi
Hanoi
100000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Yakumi - Bảo Vệ Dạ Dày posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Share on Facebook Share on Twitter Share on LinkedIn
Share on Pinterest Share on Reddit Share via Email
Share on WhatsApp Share on Instagram Share on Telegram