Thiết bị phục hồi chức năng

Thiết bị phục hồi chức năng Bán và cho thuê các loại trang thiết bị y tế Chuyên bán và cho thuê Thiết bị y tế

Máy xung kích chất lượng lever cao 🥰🥰🥰
11/02/2026

Máy xung kích chất lượng lever cao 🥰🥰🥰

Máy sóng ngắn HQ giá rẻ nhất thị trường!Liên hệ: 0944969191
29/11/2022

Máy sóng ngắn HQ giá rẻ nhất thị trường!
Liên hệ: 0944969191

Máy siêu âm trị liệu ST-10a đã trở lại để phục cho các bác sĩ, các phòng khám.🔰Vẫn tự tin là máy siêu âm điều trị đáp ứn...
13/08/2022

Máy siêu âm trị liệu ST-10a đã trở lại để phục cho các bác sĩ, các phòng khám.
🔰Vẫn tự tin là máy siêu âm điều trị đáp ứng 3 trong 1:
💪Mạnh: Với công suất lên đến 2W/cm2 có thể đánh bay giọt nước ngay tức khắc.
👌 Bền: cái này rất nhiều y bác sĩ sử dụng đều nhận định được độ bền của máy theo thời gian.
👍 Giá rẻ nhất: trong tất cả dòng sản phẩm của Hàn Quốc. ST-10A có giá tốt nhất.
⁉️ Bạn đã có suy nghĩ chọn máy siêu âm điều trị chưa?
👉 Tư vấn: Mr. Nam 0944 969 191

10/08/2022

Các tác dụng trong siêu âm trị liệu :
👉 Nhiệt trong siêu âm có thể mang đến sự thư giãn, giảm đau nhức ở các phần được điều trị, tăng hoạt động của tế bào, làm giãn mạch máu, gia tăng tuần hòa, tăng quá trình đào thải, giải quyết được hoàn toàn hiện tượng viêm.

🍀 Siêu âm liên tục 1,5W/cm2 sau 5 phút có thể tạo ra sự thay đổi nhiệt ở tổ chức phần mềm tăng 3,30C, bao khớp có thể tăng 6,3C, xương có thể tăng 9,3độ C.

🍀 Siêu âm trị liệu liên tục tại các mức nhiệt nông hoặc sâu có thể điều trị các cơn co thắt, giảm đau. Siêu âm xung hoặc liên tục có thể làm lành các mô bị tổn thương một cách nhanh chóng, điều trị chấn thương hoặc viêm cấp mô mềm, viêm cấp thần kinh ngoại biên, loét da, gãy xương.

👉Tác dụng cơ học :
Dưới tác động của sóng siêu âm, các ion nội và ngoại bào vận động liên tục, góp phần thay đổi tính thấm và hoạt tính của màng tế bào.
🍀 Chùm sóng siêu âm tần số càng lớn (3MHz) sẽ gây nên sự đổi thay áp lực nhanh gấp 4 lần so với tần số thấp hơn (1MHz).

Lh 0944969191

THIẾT BỊ ĐIỀU TRỊ BẰNG SÓNG SIÊU ÂM (Ultrasound Stimulation) 2 đầu phátModel: CWM-302Hãng sản xuất: CHUNGWOO - Hàn QuốcT...
04/11/2021

THIẾT BỊ ĐIỀU TRỊ BẰNG SÓNG SIÊU ÂM (Ultrasound Stimulation) 2 đầu phát
Model: CWM-302
Hãng sản xuất: CHUNGWOO - Hàn Quốc
Thiết bị điều trị bằng sóng siêu âm 1Mhz với tác động nhiệt để thúc đẩy phục hồi, tái tạo tế bào theo từng phần của cơ thể bệnh nhân. Đối với những trường hợp đặc biệt, chức năng của đầu dò 3Mhz sẽ thêm chế độ cho phép làm mềm sẹo phì đại và những tác động bề mặt
- Hệ thống cảm ứng dễ dàng điều chỉnh
- 4 chế độ làm việc khác nhau (biến điện xung/nối tiếp/rung/đoạn ngắn)
- Sử dụng cho nhiều tần số hơn với đầu dò 1Mhz và 3Mhz
- Bắt đầu điều chỉnh từ mức 0, có khả năng ngăn cản việc quá tải điện
Thông số kỹ thuật:
- Năng lượng đầu ra: 0 -7W
- Thời gian: 1-30 phút, có thể điều chỉnh
- Tiêu thụ điện năng: 50W
- Kích thước: 290 (W) x 235 (D) x 100(H)
- Cân nặng: 3.2kg
- Năng lượng: AC 110 – 240V, 50/60Hz
- Thiết bị bảo vệ shock điện: Class 1 BF

09/10/2019
Kéo giãn cột sống 1. Đại cương.1.1. Đặc điểm giải phẫu của cột sống. - Cột sống bao gồm 32-33 đốt sống, chia thành 5 đoạ...
30/01/2018

Kéo giãn cột sống
1. Đại cương.

1.1. Đặc điểm giải phẫu của cột sống.

- Cột sống bao gồm 32-33 đốt sống, chia thành 5 đoạn: đoạn cổ có 7 đốt, đoạn lưng có 12 đốt, đoạn thắt lưng có 5 đốt, đoạn cùng có 5 đốt dính vào nhau, và đoạn cụt có 3-4 đốt.

- Đoạn vận động là một đơn vị cấu trúc và chức năng của cột sống, bao gồm: khoang gian đốt, nửa phần thân đốt sồng trên và đốt sống dưới, dây chằng dọc trước, dây chằng dọc sau, dây chằng vàng, khớp đốt sống và tất cả phần mềm tương ứng (Hình 4.17).


+ Đĩa đệm gian đốt: là một đĩa sụn sợi, độ dày tùy thuộc đoạn cột sống, đoạn cổ dày 3mm, đoạn lưng 5mm và đoạn thắt lưng 9mm. Cấu trúc của đĩa đệm bao gồm: mâm sụn dính vào thân đốt, vòng sợi gồm những sợi sụn rất chắc và đàn hồi quấn vào nhau như hình xoắn ốc tạo thành những vòng đồng tâm xung quanh nhân nhày, nhân nhày có hình cầu hoặc bầu dục nằm trong vòng sợi, khi vận động cột sống về 1 phía (nghiêng, cúi, ưỡn) thì nhân nhày sẽ dịch chuyển về phía đối diện, nếu vận động cột sống đột ngột, quá mức thì nhân nhày không kịp dịch chuyển theo sẽ bị kẹt lại hoặc bật ra khỏi vị trí của nó trong vòng sụn gây nên thoát vị đĩa đệm.

+ Khớp liên đốt: do các mỏm khớp thẳng của các đốt sống tiếp khớp với nhau.

+ Các dây chằng: Dây chằng dọc trước bám ở mặt trước các đốt ống và đĩa đệm, dây chằng dọc sau bám vào mặt sau thân đốt (trong ống sống) và đĩa đệm, ngoài ra còn các dây chằng vàng, dây chằng liên g*i, dây chằng liên ngang. Các vị trí có dây chằng bám là những vị trí rất vững chắc ít khi nhân nhày thoát vị ra các vị trí này, mà thường thoát vị ra các điểm yếu không có dây chằng bám, vị trí hay gặp là ở phía sau bên cột sống.

+ Lỗ ghép: tạo bởi khuyết dưới của đốt sống trên và khuyết trên của đốt sống dưới, lỗ ghép cho các dây thần kinh sống đi từ tủy sống ra ngoài, khi cột sống bị thoái hóa hay thoát vị đĩa đệm các rễ hay dây thần kinh sống sẽ bị chèn ép gây đau.

1.2. Đặc điểm sinh lý cột sống.

1.2.1. Đường cong sinh lý:

ở người trưởng thành, cột sống có 4 đoạn cong là cổ, ngực thắt lưng và cùng cụt. Các đoạn cong này đảm bảo cho cột sống vận động rất linh hoạt.

1.2.2. Chức năng của cột sống: có 3 chức năng:

- Chức năng bảo vệ tủy sống: khi chấn thương hay tổn thương cột sống sẽ ảnh hưởng đến tủy sống.

- Chức năng làm trụ cột cho các xương khác dính vào tạo nên bộ khung xương của cơ thể. Do làm trụ cột nên cột sống phải chịu một trọng tải rất lớn cả lúc nghỉ ngơi lẫn khi hoạt động, phần lớn trọng tải này lại do đĩa đệm chịu đựng. Bởi vậy đĩa đệm là một tổ chức có tính đàn hồi và khả năng chịu lực cao, tuy nhiên khả năng biến dạng và tính chịu nén cũng chỉ có giới hạn. ở đoạn thắt lưng trong tư thế nằm đĩa đệm chịu được tải trọng là 15-25kg lực, ở tư thế đứng là 100kg lực, tư thế cúi là 150kg lực, nếu cúi bê vật nặng 20kg thì áp lực nội đĩa đệm có thể lên tới 200kg lực. Khi chịu trọng tải lớn, áp lực nội đĩa đệm tăng lên và làm cho chiều cao đĩa đệm có thể giảm đi.

- Chức năng vận động:

+ Sự vận động của cột sống theo 3 trục:

· Trục ngang: thực hiện động tác gấp và duỗi.

· Trục dọc: thực hiện động tác nghiêng trái, nghiêng phải.

· Trục đứng: thực hiện động tác xoay trái xoay phải.

+ Cử động của các đoạn cột sống:

· Đoạn cổ: vận động linh hoạt nhất gồm cả 3 động tác trên.

· Đoạn lưng: đoạn này có các xương sườn bám vào nên cử động rất hạn chế.

· Đoạn thắt lưng: chủ yếu là động tác gấp duỗi, động tác nghiêng và xoay hạn chế và là đoạn chịu lực chính của toàn bộ cột sống.

· Đoạn cùng cụt: cố định không cử động.

2. Tác dụng của kéo giãn cột sống.

2.1. Tác dụng cơ học:

- Làm giãn cơ tích cực: trong bệnh lý đau cột sống, sự kích thích rễ thần kinh và đau làm cơ co cứng phản xạ, sự co cứng co tác động trở lại làm cho đau càng trầm trọng hơn. Kéo giãn cột sống trước tiên lực sẽ tác động lên cơ gây giãn cơ thụ động, giảm co cứng cơ và cắt đứt vòng xoáy bệnh lý đau. Tuy nhiên nếu khi kéo nếu tăng giảm lực quá nhanh có thể gây kích thích làm tăng co cơ, do đó cần tăng giảm lực từ từ đặc biệt là trong bệnh lý đau cấp.

- Làm giảm áp lực nội đĩa đệm: lực kéo giãn dọc theo cột sống sẽ tác động vào nhiều điểm khác nhau của đoạn cột sống làm các khoang đốt được giãn rộng và có thể cao thêm trung bình 1,1mm, làm áp lực nội đĩa đệm giảm, và dẫn đến hệ quả là:

+ Làm tăng thẩm thấu nuôi dưỡng đĩa đệm, giúp nhân nhày và đĩa đệm căng phồng trở lại, tăng dinh dưỡng cho đĩa đệm do đó làm giảm quá trình thoái hóa của đĩa đệm.

+ Có thể giúp thu nhỏ thể tích đĩa đệm bị lồi hoặc thoát vị nếu khối thoát vị chưa bị xơ hóa.

Tuy nhiên cần chú ý nếu kéo với lực quá lớn, thời gian quá dài làm áp lực nội đĩa đệm giảm quá nhiều dẫn đến tăng thẩm thấu dich vào đĩa đệm có thể gây phù nề đĩa đệm làm đau tăng.

- Điều chỉnh sai lệch của khớp đốt sống và cột sống: trong thoái hóa hoặc thoát vị đĩa đệm do chiều cao khoang gian đốt giảm làm di lệch diện khớp đốt sống. Sự di lệch này tuy nhỏ nhưng nó sẽ thúc đẩy quá trính thoái hóa và kích thích gây đau tăng lên. Kéo giãn cột sống làm điều chỉnh di lệch, tăng tính linh hoạt của khớp đốt sống và giải phóng sự khóa cứng của các khớp đốt sống.

- Giải phóng sự chèn ép lên các rễ và dây thần kinh sống: do làm tăng kích thước lỗ tiếp hợp, giảm thể tích khối thoát vị… từ đó làm giảm kích thích rễ và giảm đau.

2.2. Tác dụng điều trị:

- Giảm đau: do làm giãn cơ, giảm áp lực nội đĩa đệm làm tăng cường nuôi dưỡng đĩa đệm, giải phóng chèn ép rễ thần kinh, tăng nuôi dưỡng cục bộ.

- Tăng tầm vận động của đoạn cột sống bị hạn chế, khôi phục lại hình dáng giải phẫu bình thường của cột sống.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho đĩa đệm mới bị thoát ở mức độ nhẹ và vừa có thể trở lại vị trí cũ.

3. Chỉ định và chống chỉ định.

3.1. Chỉ định:

- Thoái hóa đốt sống chèn ép thần kinh gây đau lưng, đau thần kinh tọa, đau cổ vai cánh tay.

- Thoát vị đĩa đệm vừa và nhẹ.

- Sai khớp đốt sống nhẹ.

- Đau lưng do các nguyên nhân khác.

- Vẹo cột sống.

- Viêm cột sống dính khớp ở giai đoạn chưa dính khớp.

3.2. Chống chỉ định:

- Có tổn thương và chèn ép tủy, bệnh ống tủy.

- Lao cột sống, u ác tính, viêm tấy áp xe vùng lưng.

- Bệnh loãng xương, tăng huyết áp.

- Chấn thương cột sống có gãy xương biến dạng.

- Viêm đa khớp dạng thấp.

- Phụ nữ có thai hoặc đang có kinh nguyệt.

- Hội chứng đuôi ngựa.

- Thoái hóa cột sống, bệnh viêm cột sống dính khớp có các cầu xương nối các đốt sống.

Nguồn: dieutridau

[Vật lý trị liệu] Các bài tập vật lý trị liệu cho người bị tai biến mạch máu nãoChia sẻ các bài tập vật lý trị liệu sau ...
29/01/2018

[Vật lý trị liệu] Các bài tập vật lý trị liệu cho người bị tai biến mạch máu não

Chia sẻ các bài tập vật lý trị liệu sau tai biến và các thống kê về tai biến mạch máu não hiện nay:

Theo thống kê hiện nay, có khoảng 20% bệnh nhân tai biến mạch máu não tử vong trong vòng 1 tháng, 5-10% trong vòng 1 năm, 20-30% có thể tự đi lại; 20-25% cần sự hỗ trợ của người khác, 15-25% bị liệt và phải phụ thuộc hoàn toàn vào người khác. hỗ trợ điều trị sau các cơn đột quỵ bằng phương pháp vật lý trị liệu là cách đơn giản giúp bệnh nhân phục hồi chức năng vận động do di chứng của bệnh để lại. Dưới đây là những bài tập vật lý trị liệu cho người bị tai biến mạch máu não.

Tai biến mạch máu não, hay đột quỵ, là bệnh lý tổn thương một phần não xảy ra đột ngột do mạch máu nuôi não bị tắc nghẽn hoặc bị vỡ. Nguyên nhân dẫn đến tai biến mạch mãu não có thể là tắc mạch máu não hoặc vỡ mạch máu não. Trong đó 80% tai biến mạch máu não là do tắc mạch máu não.

Việc hỗ trợ điều trị phục hồi bằng các phương pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng sau các cơn tai biến mạch máu não thường được quan tâm lên hàng đầu. Quá trình phục hồi phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như mức độ liệt, sức khỏe người bệnh, ở những người trẻ thì tiến trình hồi phục sẽ nhanh hơn so với những bệnh nhân lớn tuổi.

Tập vật lý trị liệu giúp người bệnh hồi phục chức năng vận động, duy trì lực của cơ và lưu thông máu huyết. Bệnh nhân cần tập bên bị liệt, đồng thời được khuyến khích tập bên còn khỏe duy trì lực cơ. Nếu không duy trì vận động, bệnh nhân sẽ dễ bị cứng khớp.

Đặc biệt, đối với bệnh nhân bị liệt nửa người, việc chăm sóc đúng cách có thể giúp bệnh nhân sớm hòa nhập với xã hội mà còn hạn chế được những biến chứng nguy hiểm khác như: viêm loét da do nằm lâu, viêm phổi, trầm cảm,… Thời gian tập luyện để phục hồi tốt nhất là trong năm đầu tiên. Bệnh nhân nên được luyện tập dần từng động tác, từ đơn giản đến phức tạp, kết hợp chế độ dinh dưỡng hợp lý.

=> Quá trình tập vật lý trị liệu đối với bệnh nhân tai biến mạch máu não

Giai đoạn đầu:

Giúp bệnh nhân thực hiện các bài tập nhẹ nhàng, đều đặn để vận động được tay chân bên liệt.

Tập lăn nghiêng sang 2 bên: Bệnh nhân nằm ngửa, người hỗ trợ điều trị giúp bệnh nhân nâng chân, tay bên liệt lên, đưa ra phía trước rồi lăn người sang bên lành. Tập lăn nghiêng sang bên liệt thì làm ngược lại.

Tập vận động vai, tay: bệnh nhân nằm ngửa, cài các ngón tay 2 bên vào nhau. Ngón cái bên liệt ở ngoài ngón cái bên lành. Duỗi thẳng 2 tay ra trước, đưa 2 tay lên phía đầu và xuống phía chân, càng xa càng tốt.

Tập dồn trọng lượng lên chân liệt: bệnh nhân nằm ngửa, 2 gối gập. Người nhà giúp giữ chân liệt cho khỏi đổ. Bệnh nhân nâng chân lành lên khỏi mặt giường để dồn trọng lượng lên chân liệt.

Làm cầu: Bệnh nhân nằm ngửa, 2 gối gập. Người nhà giúp giữ chân liệt cho khỏi đổ. Bệnh nhân cố gắng tự nâng mông lên khỏi mặt giường. Giữ 2 bên hông ngang nhau rồi nâng chân lành lên khỏi mặt giường để toàn bộ trọng lượng dồn lên chân liệt.

Giai đoạn sau:

Việc tập luyện được thực hiện ở những tư thế khác nhau như: nằm, ngồi, đứng, quỳ, vận động trên đệm, tập lăn, tập chuyển tư thế từ nằm sang quỳ chống tay, tập đứng lên. Trong khi tập, bệnh nhân cần chú ý là luôn phối hợp với thở sâu. Ở giai đoạn này, bệnh nhân cần chú trọng thực hiện những bài tập chống tình trạng co cứng cơ.

Phòng ngừa co rút khớp vai: bệnh nhân nằm ngửa, cài các ngón tay 2 bên vào nhau, ngón cái bên liệt ở ngoài ngón cái bên lành. Duỗi thẳng 2 tay ra trước, đưa 2 tay lên quá đầu cho đến khi 2 tay chạm vào mặt giường rồi đưa tay xuống phía chân.

Phòng ngừa khuỷu tay, cổ tay và ngón tay bị co rút:

Bài tập 1: Giúp bệnh nhân đứng cạnh bàn, cài các ngón tay 2 bên vào nhau. Xoay ngửa lòng bàn tay và áp lòng bàn tay xuống mặt bàn. Duỗi thẳng 2 tay, ngả người về phía trước để dồn trọng lượng lên 2 tay cho tới khi khớp cổ tay duỗi tối đa.

Bài tập 2: bệnh nhân ngồi. Dùng tay lành làm duỗi các ngón tay bên liệt và làm duỗi cổ tay rồi đặt xuống mặt giường cạnh thân. Dùng tay lành giữ khớp khuỷu bên liệt duỗi thẳng và nghiêng người sang bên liệt để dồn trọng lượng lên tay liệt.

Bài tập 3: Cài các ngón tay 2 bên vào nhau. Đưa 2 bàn tay lên sát cằm, dùng lực của bàn tay làm duỗi tối đa cổ tay bên liệt. Có thể tựa vào má và cằm rồi giữ yên trong thời gian lâu.

Phòng ngừa co cứng chân ở tư thế duỗi: bệnh nhân nằm ngửa, cài các ngón tay 2 bên vào nhau. Co 2 gối lại và vòng 2 tay qua 2 gối. Kéo 2 gối về phía ngực và nâng đầu lên. Sau đó, trở về vị trí ban đầu.

Phòng ngừa co rút gân gót và gấp ngón chân: dùng một cuộn băng thun đặt dưới ngón chân bên liệt. Đứng lên, bước chân lành ra phía trước, phía sau.

Bệnh nhân có thể vịn vào một chỗ nếu đứng chưa vững.

Ngoài các bài tập trên, tinh thần thoải mái vui vẻ là rất quan trong đối với bệnh nhân đột quỵ. Vì vậy, cần hạn chế tối đa những muộn phiền, bức xúc, sang chấn tâm lý cho bệnh nhân. Người nhà nên hiểu được vấn đề này để tránh gây áp lực lên bệnh nhân sau khi bị đột quỵ. Ngoài ra, bệnh nhân đột quỵ cũng tự tạo cho mình tâm lý thoải mái, không tự ti mặc cảm, luôn tưởng tượng bản thân đang luyện tập, sẽ mang lại những lợi ích tương tự đối với bệnh nhân đột quỵ trong việc cử động tay và thực hiện các hoạt động cơ bản hàng ngày.
Nguồn: https://www.phuchoichucnang.com/vat-ly-tri-lieu-cac-bai-tap-vat-ly-tri-lieu-cho-nguoi-bi-tai-bien-mach-mau-nao/

Cần tư vấn thiết bị vui lòng liên hệ: Mr Nam 0944969191
25/12/2017

Cần tư vấn thiết bị vui lòng liên hệ: Mr Nam 0944969191

Bán và cho thuê các loại trang thiết bị y tế

14/04/2017

PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO NGƯỜI TÂM THẦN PHÂN LIỆT

KĐS - Tâm thần phân liệt là bệnh loạn thần nặng tiến triển từ từ, có khuynh hướng dẫn đến mạn tính. Người bệnh thường tách ra khỏi cuộc sống chung quanh, thu dần vào thế giới nội tâm, tình cảm trở nên khô lạnh, khả năng học tập và làm việc ngày càng giảm sút... Vì vậy, sau các biện pháp điều trị bệnh, việc phục hồi chức năng tâm lý xã hội và lao động nghề nghiệp là vấn đề cần được quan tâm.
Phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần phân liệt sau điều trị là quá trình thực hiện, tạo nên cơ hội cho bệnh nhân vốn chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống hàng ngày đạt được các mục đích tối ưu về chức năng sinh hoạt giao tiếp, tâm lý xã hội, lao động nghề nghiệp để có thể hòa nhập với cộng đồng và môi trường ở chung quanh.
Phục hồi chức năng tâm lý xã hội
Sự cần thiết phải phục hồi và cách thức phục hồi:
Bệnh nhân tâm thần phân liệt sau khi được điều trị có thể hết các triệu chứng rối loạn tâm thần nhưng không học tập, làm việc và lao động được; có nội tâm bất ổn định làm ảnh hưởng đến sinh hoạt. Người bệnh thường có khuynh hướng sống ngày càng tách rời, xa lánh xã hội ở chung quanh; khó hòa nhập với cộng đồng và bệnh có khả năng tiến triển trở thành mạn tính. Trên cơ sở tồn tại này, xã hội cũng có xu hướng bỏ rơi bệnh nhân và thường xem họ không thể giúp ích được gì cho xã hội.
Để giúp cho việc phục hồi chức năng của người bệnh tâm thần phân liệt sau điều trị, nhân viên y tế cần giải thích cho người bệnh, gia đình bệnh nhân về bệnh lý mắc phải; đồng thời nên chấp nhận bệnh tâm thần phân liệt, xây dựng các chương trình phục hồi chức năng tâm lý và lao động nghề nghiệp cho từng người bệnh. Ngoài ra, phải giải thích cho người bệnh tầm quan trọng của việc dùng thuốc và cách dùng thuốc; hướng dẫn xử trí các tác dụng phụ của thuốc. Cần giúp cho người bệnh, người nhà của bệnh nhân biết cách ứng xử với những biểu hiện bất thường có thể phát hiện.

Một số điểm cần lưu ý khi phục hồi:
Cần lưu ý người bệnh tâm thần phân liệt bỏ nhà đi lang thang dễ có nguy cơ bệnh nặng thêm và bị nhiều ảnh hưởng khác do không được chăm sóc. Phải thuyết phục làm sao để gia đình, người thân của bệnh nhân ứng xử với người bệnh thuận lợi; bệnh nhân cảm thấy có được sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương, đùm bọc; có không khí ấm áp, cảm giác an toàn khi sống với người thân. Trên thực tế, người bệnh không thể thực hiện được các hoạt động, công việc như trước khi bị bệnh; vì vậy bác sĩ điều trị và người thân của bệnh nhân phải quan tâm tìm hiểu khả năng sinh hoạt, làm việc của người bệnh; trên cơ sở này giúp họ có thể làm được những việc có ích mà họ có thể làm được.
Người bệnh không thể thực hiện sinh hoạt một cách hoàn chỉnh, công việc hay nôn nóng; do đó cần hướng dẫn cho người thân trong gia đình hiểu là phải kiên nhẫn, chia công việc ra từng công đoạn cho người bệnh dễ thực hiện, dần dần làm từ việc đơn giản đến việc phức tạp để có thể thực hiện phù hợp, khỏi bồn chồn và nôn nóng. Đối với những hành vi, cách cư xử khác thường của người bệnh; nhân viên y tế cần giải thích cho gia đình bệnh nhân có sự hiểu biết cần thiết để không nên căng thẳng, không nên phê phán và tranh luận hoặc trừng phạt hay xa lánh họ; tìm cách hướng dẫn người bệnh tránh thực hiện những hành vi, cách cư xử khác thường đó.
Nên động viên, khuyến khích, biểu dương, khen ngợi khi người bệnh làm được một việc tốt hoặc có sự cư xử phù hợp với những vấn đề mà người thân và gia đình mong muốn để họ vẫn cảm thấy rằng bản thân mình được yêu mến, sống còn có ích; dễ chấp nhận sự hướng dẫn điều trị, chăm sóc của bác sĩ và gia đình hơn. Hướng dẫn, giúp đỡ người bệnh để họ có thể quyết định thực hiện được một cách đúng đắn trước một công việc nào đó rất quan trọng và cần thiết. Bác sĩ điều trị, gia đình và người thân của bệnh nhân phải thường xuyên, tiếp tục nói chuyện với người bệnh, để cho họ tham gia vào những cuộc nói chuyện trong gia đình; cần lắng nghe để người bệnh có thể nói được hết những suy nghĩ, tâm tư, cảm giác và thể hiện là mọi người trong nhà đều hiểu được họ.
Trong sinh hoạt hàng ngày, cần giúp đỡ và hướng dẫn người bệnh thực hiện được những công việc thông thường, biết tự chăm sóc cho bản thân mình, có thể làm được những việc đơn giản như tắm giặt, vệ sinh cá nhân; gấp chăn màn, quần áo; quét nhà, thu xếp, dọn dẹp gọn gàng nơi ăn chốn ở của họ... Không nên để bệnh nhân ở trong tình trạng thụ động, cần giúp đỡ và hỗ trợ họ đi lại, đi chơi đây đó, giao tiếp, ứng xử, làm việc phù hợp với khả năng của họ. Tránh những tình huống có thể ảnh hưởng, làm cho tình trạng bệnh lý của người bệnh càng nặng thêm như bị những cảm xúc căng thẳng, lo lắng, sợ hãi, buồn phiền; có những lời nói, cử chỉ, hành vi, thái độ thiếu thân thiện, không thận trọng của người chung quanh; tránh các cảm xúc đau buồn đột ngột, những xung đột trong mối quan hệ trong gia đình và cộng đồng xã hội đối với bản thân họ.
Khi tình trạng bệnh lý của người bệnh trở nên xấu hơn qua cách cư xử khác thường của bệnh nhân như: trầm lặng, không ăn uống, thu mình lại hoặc trở nên hiếu động, nói luôn miệng hoặc bị kích động, sợ hãi; có ý định gây thương tích cho bản thân hay dọa nạt, tấn công người khác thì gia đình cần nhanh chóng đưa người bệnh đến các bệnh viện chuyên khoa để được xử trí điều trị phù hợp.
Phục hồi chức năng lao động nghề nghiệp
Sự cần thiết phải phục hồi:
Người bệnh tâm thần phân liệt sau khi được điều trị có thể giảm bớt hoặc mất đi các triệu chứng bệnh lý, chức năng tâm lý xã hội có khả năng được hồi phục nhưng không thể lao động, làm việc được; trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội dẫn đến sự buồn chán đối với bản thân. Vì vậy, việc phục hồi chức năng lao động nghề nghiệp cho người bệnh sẽ giúp khắc phục được tình trạng này.
Lao động nghề nghiệp sẽ giúp cho người bệnh phát huy khả năng hoạt động tâm thần, hướng suy nghĩ của bệnh nhân vào công việc; hạn chế bớt việc suy nghĩ lan man, giúp họ quên đi bệnh tật, quên các cảm giác khó chịu do tình trạng ảo giác và hoang tưởng gây ra. Công việc và lao động nghề nghiệp cũng giúp người bệnh thoát khỏi hoàn cảnh ăn không ngồi rồi, đi lang thang, phá phách; giúp họ tự tin vào bản thân, xóa bỏ mặc cảm, ăn ngon và ngủ yên hơn. Đồng thời chính công việc và lao động nghề nghiệp cũng sẽ làm cho mọi người ở chung quanh giảm bớt những suy nghĩ sai lầm về người bệnh.
Cách thức phục hồi:
Trên thực tế, tùy theo từng trường hợp người bệnh và hoàn cảnh, môi trường sống của mỗi bệnh nhân để chọn lựa cho họ loại hình lao động nghề nghiệp thích hợp, phục hồi công việc cũ trước đây người bệnh vẫn làm như chăn nuôi, trồng trọt, lao động tiểu thủ công nghiệp... Có thể dạy cho bệnh nhân một công việc mới đơn giản, dễ thực hiện và phù hợp điều kiện hoàn cảnh. Lưu ý các công việc để người bệnh bắt đầu trở lại làm là những việc nhẹ nhàng, đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp hoặc có thể chia công việc ra làm nhiều công đoạn để giúp họ dễ dàng làm và hoàn thành từng công đoạn một. Khi khởi đầu, cần có người hướng dẫn, kèm cặp, giúp đỡ; bảo đảm an toàn cho người bệnh khi lao động, làm việc. Nên có sự đánh giá, động viên, khen ngợi và khuyến khích họ để thúc đẩy công việc thực hiện tốt hơn.
Một vấn đề cũng cần được quan tâm là tổ chức thời gian phục hồi lao động nghề nghiệp phải phù hợp với tình hình sức khỏe của người bệnh, khả năng làm việc của từng người; đồng thời nên động viên bệnh nhân cố gắng, kiên nhẫn trong công việc và giúp cho họ có được thu nhập từ chính lao động nghề nghiệp của mình để tạo niềm tin nỗ lực phấn đấu.

Lời khuyên của thầy thuốc

Hiện nay theo các nhà khoa học, bệnh tâm thần phân liệt chiếm tỉ lệ khoảng từ 0,3 - 1% dân số ở các nước và có khuynh hướng phát triển ở nhóm tuổi còn trẻ từ 18 - 40, đây là lứa tuổi lao động chính của gia đình và xã hội. Vì vậy, sau khi người bệnh được điều trị giảm bớt hoặc khỏi hẳn những triệu chứng bệnh lý lâm sàng, gia đình bệnh nhân kể cả nhân viên y tế ở các cơ sở y tế chuyên khoa cần quan tâm đến việc thực hiện phục hồi chức năng tâm lý xã hội và lao động nghề nghiệp nhằm giúp bệnh nhân có điều kiện tiếp cận với môi trường sống ở chung quanh, hòa nhập vào cộng đồng như những người bình thường khác để họ không còn là gánh nặng của gia đình và xã hội nữa.

BS. NGUYỄN TRÂM ANH

Kể ra cái máy kéo giãn này cũng thông minh lắm. Hai chế độ kéo hoạt động song song nhau và hoàn toàn tự động. Có thể tha...
26/12/2016

Kể ra cái máy kéo giãn này cũng thông minh lắm. Hai chế độ kéo hoạt động song song nhau và hoàn toàn tự động. Có thể thay đổi chế độ phụ thuộc thao tác của bác sỹ.
Đầu tư ít hiệu quả cao tại sao không thử.
Website www.tatthanhmed.com

Address

P802 Sakura Tower, 47 Vu Trong Phung Street, Thanh Xuan District
Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thiết bị phục hồi chức năng posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Thiết bị phục hồi chức năng:

Share