Phẫu Thuật Tim Mạch Lồng Ngực Bệnh Viện Đa Khoa Xanh Pôn

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • Phẫu Thuật Tim Mạch Lồng Ngực Bệnh Viện Đa Khoa Xanh Pôn

Phẫu Thuật Tim Mạch Lồng Ngực Bệnh Viện Đa Khoa Xanh Pôn Can thiệp tim mạch lồng ngực- ung bướu - mạch máu trung tâm và ngoại biên

17/12/2017
26/11/2017
18/11/2017
18/11/2017

fil:///C:/Users/Admin/Downloads/IASLC%208th%20Edition%20Staging%20of%20Lung%20CA.pdf

03/11/2017

Thuốc kháng ung thư bằng con đường ức chế enzym Tyrosine Kinase

Giới thiệu (Abstract)

Ngày nay, quá trình điều trị các dạng ung thư chủ yếu dựa vào các thuốc (hoá trị), các tia phóng xạ (xạ trị), và phẫu thuật. Sự kết hợp giữa việc dùng thuốc và xạ trị giúp gia tăng tác dụng của xạ trị, giảm di căn, và giữ lại được chức năng của mô chứa tế bào ung thư. Bên cạnh đó, các liệu pháp này cũng tồn tại hạn chế như phạm vi điều trị hẹp, phải điều trị nội trú, và đặc biệt là độc tính và các tác dụng phụ có hại cho sức khoẻ, ví dụ như các thuốc dẫn xuất platin gây mệt mỏi, nôn mửa, và rối loạn chức năng thận, gan, giảm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, và đôi khi có thể ảnh hưởng đến chức năng tim trong một số ít trường hợp. Chính vì thế việc phát triển các họ thuốc mới với tác dụng chọn lọc lên tế bào ung thư đồng thời có ít hoặc không có độc tính và tác dụng phụ lên tế bào lành (Targeted Therapy) đã được nghiên cứu hơn 30 năm nay. Một trong những thành quả đạt được là việc phát triển họ thuốc trị ung thư bằng con đường ức chế các enzym Tyrosine Kinase (Tyrosine Kinase Inhibitors – TKIs). Thuốc TKIs được đưa vào cơ thể bằng đường uống, do đó, bệnh nhân không cần phải nhập viện để được điều trị. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày quá trình phát triển và hiệu quả của thuốc điều trị ung thư bằng con

đường ức chế enzym Tyrosine Kinase từ thế hệ đầu tiên Imatinib (Glivec®, Novartis) được cấp phép bởi Cục Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) vào năm 2001 (với tên gọi Gleevec® cho thị trường Hoa Kỳ) để điều trị ung thư bạch cầu dòng tuỷ mạn tính. Bên cạnh đó bài viết cũng sẽ đề cập đến các thế hệ thuốc ức chế enzym Tyrosine Kinase được phát triển gần đây và có triển vọng.
1. Giới thiệu chung về họ enzym Tyrosine Kinase

Tyrosine Kinases (TKs) là một họ enzym được phát hiện lần đầu cách đây hơn 30 năm [1]. Tính đến nay, khoảng 58 enzym TKs đã được định danh [2] và nhiều nghiên cứu được tiến hành để tìm hiểu về hoạt động của họ enzym này. TKs đóng vai trò quan trọng trong các quá trình sinh trưởng, chuyển hóa, phân chia, và tồn tại của tế bào (Hình 1) [3]. Đột biến di truyền làm cho các enzym này gia tăng số lượng quá mức và có khả năng tự kích hoạt trong tế bào dẫn đến sự tăng trưởng và nhân đôi một cách mất kiểm soát của các tế bào liên quan [4]. Đây là tiền đề của việc hình thành các tế bào ung thư [5]. Một số nghiên cứu đã chỉ ra sự liên quan của enzym TKs với các loại ung thư như ung thư xương [6], ung thư phổi [7], và ung thư máu [8]. Trong bài viết này, chúng tôi đưa ra một số ví dụ về các loại thuốc điều trị ung thư bằng con đường ức chế enzym TKs.



Hình 1: Khả năng ức chế enzym Tyrosine Kinase của các thuốc họ TKIs.

2. Thuốc Glivec® (Gleevec®)(Imatinib) trong điều trị bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính (Chronic Myelogenous Leukemia – CML)
Từ tuỷ xương, các tế bào tạo máu dòng tuỷ sẽ trưởng thành và phân chia thành các dạng tế bào máu khác nhau, được phát tán vào máu, hệ bạch huyết và đóng vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch, tuần hoàn. Bệnh bạch cầu dòng tuỷ mạn tính (CML) là sự hình thành và gia tăng số lượng nhanh chóng các tế bào bạch cầu dòng tuỷ chưa trưởng thành và được phát tán vào máu dẫn đến giảm số lượng các tế bào bạch cầu trưởng thành và giảm khả năng miễn dịch. Theo thống kê của Viện Ung thư Quốc Gia Hoa Kỳ, mỗi năm, cứ 1 triệu người thì có 18 người nhiễm bệnh và 3 người tử vong vì nó. Một trong các nguyên nhân chính gây ra căn bệnh này là do sự chuyển đoạn nhiễm sắc thể t(9;22) tạo nên một nhiễm sắc thể 22 ngắn hơn bình thường. Nhiễm sắc thể này được gọi tên là nhiễm sắc thể Philadelphia (Ph) và chứa gen gây ung thư BCR-ABL trong các tế bào bạch cầu dòng tuỷ [9]. Gen này được tìm thấy trong khoảng 95% người bệnh bạch cầu dòng tuỷ mạn tính và khoảng 30% người bệnh bạch cầu cấp dòng tuỷ (Chronic

Myelogenous Leukemia – AML) [10]. Gen BCR-ABL thông qua quá trình dịch mã và phiên mã (transcription and translation) sẽ tạo ra một enzym thuộc họ TKs, được gọi tên là BCR-ABL Tyrosine Kinase. Do đó, việc ức chế enzym BCR-ABL Tyrosine Kinase trở thành mục tiêu chủ yếu của việc điều trị bệnh bạch cầu dòng tuỷ mạn tính.
Từ đầu thập niên 90, các nghiên cứu đã được tiến hành để tìm ra thuốc có khả năng ức chế enzym BCR-ABL Tyrosine Kinase. Điển hình như nghiên cứu của nhóm Anafi và cộng sự dựa trên dẫn xuất của Tyrphostin [11], nhóm tác giả Mihiro căn cứ vào tác dụng của chất kháng sinh Herbimycin A [12], hay của nhóm tác giả Carlo-Stella phát triển từ hoạt chất họ flavonoid là Genistein [13].
Từ cuối thập niên 80, các nhà khoa học của hãng Novartis đã bắt tay vào nghiên cứu thuốc có khả năng ức chế enzym BCR-ABL Tyrosine Kinase. Năm 2001, thuốc Glivec® (tên khoa học Imatinib, dẫn xuất đa vòng chứa nhân pyrimidin, Hình 2) do hãng dược Novartis, Thuỵ Sĩ sản xuất đã được cấp phép bởi Cục Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) (riêng tại thị trường Hoa Kỳ, thuốc có tên gọi là Gleevec®, Hình 3) và là thuốc đầu tiên trong nhóm ức chế enzym Tyrosine Kinase được dùng cho điều trị bệnh bạch cầu dòng tuỷ mạn tính [14]. Thuốc có khả năng gây ức chế enzym BCR-ABL Tyrosine Kinase bằng cách cạnh tranh với phân tử ATP trong việc liên kết với enzym này [15]. Các thử nghiệm sinh học chứng tỏ Imatinib có tác dụng ức chế một cách chọn lọc lên các enzym ABL Tyrosine Kinases, trong đó có BCR-ABL Tyrosine Kinase. Ngoài ra, Imatinib hầu như không có tác động lên bất cứ loại enzym nào khác thuộc họ TKs [16]. Imatinib đã hoàn toàn tiêu diệt được tế bào bạch cầu ung thư trong tuỷ sau 18 tháng điều trị ở khoảng 76% trong số 1106 bệnh nhân thử nghiệm dùng, đồng thời bệnh đã không tiến triển nặng thêm trên 97% số bệnh nhân trong quá trình theo dõi thử nghiệm lâm sàng [17].

Dù các kết quả đạt được rất khả quan, Imatinib cũng tồn tại nhiều hạn chế, ví dụ tỉ lệ kháng thuốc đã tăng lên gần 50% [18]. Do đó, quá trình nghiên cứu thuốc mới ức chế enzym BCR-ABL Tyrosine Kinase đã được tiến hành và thu được những kết quả ban đầu như Dasatinib (Sprycel®, Bristol-Myers Squibb) và Nilotinib (Tasigna®, Novartis). Hai loại thuốc này có cùng cơ chế tác dụng giống như Imatinib là ức chế enzyme BCR-ABL Tyrosine Kinase và được cấp phép bởi FDA trong điều trị bệnh bạch cầu dòng tuỷ mạn tính như là thuốc thế hệ thứ hai [19–22]. Một trong hai thuốc này được dùng trong trường hợp người bệnh điều trị bằng Imatinib không mang lại hiệu quả [23–27].


Hình 2: Cấu trúc của Imatinib (Glivec® hay Gleevec®) [16] Hình 3: Thuốc Gleevec® [14]

3. Các thuốc họ TKIs khác đang có trên thị trường

a. Iressa® (Gefitinib) do hãng AstraZeneca (Thuỵ Điển) sản xuất, sử dụng trong điều trị

ung thư phổi không tế bào nhỏ (Non-Small Cell Lung Cancer - NSCLC )

Ung thư phổi là loại ung thư có tỉ lệ mắc bệnh và gây tử vong ở nam giới cao nhất thế giới hiện nay. Trong đó, ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm đến 85% [28]. Phương pháp điều trị ban đầu là dùng thuốc hoá trị thuộc họ platin bằng đường truyền tĩnh mạch [29]. Ở giai đoạn 2, có thể dùng docetaxel cũng bằng đường tĩnh mạch [30,31]. Tuy nhiên các thuốc này không tấn

công tế bào ung thư một cách chọn lọc, có nhiều tác dụng phụ và tác động cả đến các tế bào lành [32,33].
Các nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh rằng phần lớn ung thư phổi không tế bào nhỏ có liên quan đến sự gia tăng số lượng đột biến của một enzym có tên gọi Epidermal Growth Factor Receptor – Tyrosine Kinase (EGFR-TK) thuộc họ TKs [34]. Khi mang đột biến, enzym này có khả năng tự kích hoạt và từ đó khởi động một chuỗi các phản ứng dây chuyền nhằm kích thích sự tăng trưởng và phân chia của các tế bào ung thư phổi [35]. Do đó, việc ức chế enzym này trở thành một mục tiêu quan trọng trong việc điều trị bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ.
Thuốc Iressa® (Gefitinib, dẫn xuất quinazolin, Hình 4 và 5) được phát triển bởi hãng dược phẩm AstraZeneca đã chứng minh được tác dụng ức chế enzym EGFR-TK. Gefitinib được bắt đầu thử nghiệm lâm sàng pha I vào năm 1997 nhằm đánh giá độ an toàn và dược động học trên nhóm bệnh nhân và người tình nguyện. Thuốc có tác dụng ức chế tốt enzym EGFR ngay cả ở liều thấp hơn nhiều so với liều gây độc. Gefitinib tiếp tục được thử nghiệm lâm sàng pha II với tên gọi IDEAL1 và IDEAL2. Tỉ lệ sống sau 1 năm điều trị của Gefitinib là 29,9% so với 5,5% ở các bệnh nhân dùng thuốc hoá trị liệu. Vì vậy, thuốc được cấp phép sử dụng ở Nhật Bản năm 2002 và ở Hoa Kỳ bởi FDA năm 2003 [36,37]. Thuốc dùng đường uống với liều 250 mg hoặc 500 mg, 1 lần/ngày [38] và có thể dùng riêng lẻ hoặc kết hợp với các loại thuốc khác bằng đường truyền tĩnh mạch [39]. Bên cạnh đó, Gefitinib cũng đang được nghiên cứu lâm sàng cho vài loại ung thư khác như ung thư đầu, cổ, ung thư đại tràng, và ung thư vú [36,39].



Hình 4: Cấu trúc của Gefitinib [36] Hình 5: Thuốc Iressa® [37]

b. Sutent® (Sunitinib, hãng Pfizer) dùng trong bệnh ung thư biểu mô thận (Renal

Carcinoma) và ung thư dạ dày-ruột (Gastrointestinal Stromal Tumors)

Theo thống kê tại Mỹ, trong tổng số ca ung thư thận thì ung thư biểu mô thận chiếm 85% [40]. Điều trị bằng thuốc hoá trị truyền qua đường tĩnh mạch không mang lại hiệu quả cao (chỉ từ 4 – 6%) do sự kháng thuốc mạnh trong các tế bào cầu thận [41]. Một phương pháp điều trị khác mang lại hiệu quả khả quan hơn là dùng các thuốc điều hoà miễn dịch như interferon-alpha, interkeukin-2, hoặc có thể dùng phương pháp cấy tế bào gốc [42,43]. Qua nghiên cứu cho thấy, đặc trưng của bệnh ung thư biểu mô thận là sự gia tăng số lượng vượt trội của một loại protein thuộc họ TKs có tên gọi là Vascular Endothelial Growth Factor Receptor - isoform 2 (VEGFR-2) [44]. Trong các tế bào ung thư, VEGFR-2 kích thích sự tăng trưởng tế bào và tạo mạch máu mới (Angiogenesis) để nuôi sống tế bào ung thư [45]. Do đó, việc ức chế protein này mang lại triển vọng cao trong việc điều trị ung thư biểu mô thận.
Bệnh ung thư dạ dày-ruột hình thành do sự gia tăng số lượng đột biến của mô trung bào trong cấu tạo dạ dày-ruột [46]. Phương pháp điều trị chủ yếu là phẫu thuật cắt bỏ các mô tế bào ung thư. Giống như ung thư biểu mô thận, ung thư dạ dày-ruột cũng có đặc trưng là sự gia tăng số lượng đột biến của một loại protein thuộc họ TKs có tên gọi là c-KIT [47]. Protein đột biến

này có khả năng tự kích hoạt nhằm kích thích sự tăng trưởng và phân chia tế bào ung thư một cách nhanh chóng [48]. Do đó, ức chế protein này cũng là một hướng đi khả quan trong điều trị bệnh ung thư dạ dày-ruột.
Thuốc Sutent® (Sunitinib, dẫn xuất chứa vòng indolinamide-pyrrol, Hình 6 và 7) do hãng dược phẩm Pfizer sản xuất được chỉ định dùng trong trường hợp bệnh ung thư biểu mô thận và cả ung thư dạ dày-ruột [49]. Sunitinib có khả năng ức chế protein VEGFR-2 và c-KIT, do đó ức chế sự tăng trưởng, phân chia, và tạo mạch máu mới ở các mô tế bào ung thư [50].
Thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân ung thư biểu mô thận: Thử nghiệm lâm sàng pha I được tiến hành trên 28 bệnh nhân vào năm 2006. Kết quả đã xác định được liều gây độc ở mức ≥ 75 mg/ngày. Vì thế, Sunitinib được thử nghiệm lâm sàng với liều 50 mg/ngày [51]. Trong thử nghiệm lâm sàng pha II, thời gian điều trị trung bình của 63 bệnh nhân tham gia là 9 tháng. Kết quả là bệnh nhân kéo dài thời gian không tiến triển bệnh (progression-free) được 8,7 tháng, tốt hơn rất nhiều nếu so với 2,4 tháng khi điều trị bằng thuốc điều hoà miễn dịch [52]. Trong thử nghiệm lâm sàng pha III, 750 người bệnh được chọn ngẫu nhiên và chia thành 2 nhóm bằng nhau để so sánh tác dụng của Sunitinib so với thuốc điều hoà miễn dịch (interferon-alpha). Kết quả là bệnh nhân dùng thuốc Sunitinib làm chậm được sự tiến triển bệnh 11 tháng so với 5 tháng khi dùng thuốc interferon-alpha [53].
Thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân ung thư dạ dày-ruột: Thử nghiệm lâm sàng pha I/II được thực hiện trên 97 bệnh nhân ung thư dạ dày-ruột ở nhiều trung tâm khác nhau. Kết quả là bệnh nhân kéo dài thời gian không tiến triển bệnh khoảng 8 tháng và kéo dài thời gian sống thêm khoảng 20 tháng [54]. Do đó, thử nghiệm lâm sàng pha III được tiến hành trên 312 bệnh nhân, chia làm 2 nhóm: nhóm 1 gồm 207 người sử dụng thuốc Sunitinib và nhóm 2 gồm 105 người

không sử dụng thuốc. Kết quả là nhóm sử dụng thuốc kéo dài thời gian không tiến triển bệnh thêm được 6,3 tháng so với 1,5 tháng của nhóm không dùng thuốc [50].
Nhờ vào các kết quả thử lâm sàng mà Sunitinib là thuốc đầu tiên được cấp phép bởi FDA cho điều trị cả 2 loại ung thư nói trên. Thuốc được khuyên dùng với liều 50 mg, 1 lần/ ngày trong vòng 4 tuần, sau đó tạm dừng 2 tuần trước khi bắt đầu đợt điều trị 4 tuần tiếp theo. Các tác dụng phụ được ghi nhận gồm có: viêm da, mệt mỏi, và tăng lipid (mỡ) máu.


Hình 6: Cấu trúc của Sunitinib [49] Hình 7: Thuốc Sutent® [55]

4. Các hợp chất khác thuộc họ TKIs đang được thử nghiệm lâm sàng

a. Canertinib

Phần lớn các loại ung thư mô cứng (solid tumor) như ung thư phổi, ung thư thực quản, ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, và ung thư não có liên quan đến sự gia tăng số lượng bất thường của một họ protein là erbB (còn gọi là họ HER). Đây là một họ protein nằm trong họ TKs, gồm có 4 loại chính là erbB1(HER1), erbB2(HER2/neu), erbB3(HER3), và erbB4(HER4). Các protein này có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và phân chia của các tế bào ung thư [56, 57]. Do đó, việc ức chế hoạt động của họ protein này trở thành mục tiêu của nhiều nghiên cứu. Một trong số đó, hoạt chất CI-1033 (Canertinib, dẫn xuất quinazolin, Hình 8) của Pfizer bước đầu mang lại những hiệu quả tích cực. Canertinib có khả năng ức chế cả 4 protein trong họ erbB đồng thời không có tác động gì lên các protein khác có cấu trúc gần tương tự trong họ TKs [58]. Do đó, tác dụng phụ được ghi nhận chủ yếu là tiêu chảy và phát ban. Canertinib

được dùng bằng đường uống, giúp người bệnh không cần điều trị nội trú. Hiện tại, Canertinib được thử nghiệm lâm sàng pha II trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ [59] và bệnh nhân ung thư vú di căn [60].
Trong thử nghiệm lâm sàng pha II của canertinib trên 163 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ đã trải qua hoá trị liệu với thuốc họ platin và không đạt hiệu quả mong muốn, tỉ lệ đáp ứng thuốc của canertinib thấp (khoảng 4%) và tỉ lệ phát triển bệnh sau 26 tuần điều trị cao. Do đó, quá trình nghiên cứu lâm sàng không được tiếp tục [59].
Ngoài ra, Canertinib còn được thử nghiệm lâm sàng pha II trên 198 bệnh nhân ung thu vú di căn với tuổi đời trung bình là 55,5 tuổi. Phần lớn bệnh nhân đều đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ mô ung thư, hoá trị liệu, và xạ trị. Các bệnh nhân trong thử nghiệm lâm sàng cũng đã được chẩn đoán có tế bào ung thư di căn sang gan, phổi, và mạch bạch huyết. Kết quả thu được là tỉ lệ sống sau 1 năm điều trị chỉ vào khoảng 4% ở cả ba nhóm. Tỉ lệ này không đủ để tiếp tục nghiên cứu lâm sàng giai đoạn tiếp theo [60].
Tóm lại, các kết quả thu được ban đầu chưa thật sự khả quan và chưa cho phép tiến hành giai đoạn tiếp theo của quá trình nghiên cứu lâm sàng đối với Canertinib. Vì thế, các nhà nghiên cứu cần phải thiết kế lại cấu trúc phân tử của Canertinib cũng như lựa chọn cách đưa hoạt chất này vào cơ thể nhằm cải thiện hiệu quả trong tương lai.


Hình 8: Cấu trúc của Canertinib (CI-1033) [58]

b. BIBW2992

Một trong những vấn đề dẫn đến điều trị bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ không đạt hiệu quả như mong đợi là sự kháng thuốc diễn ra mạnh do đột biến gen trong tế bào ung thư. Sự đột biến này có thể do người bệnh hút thuốc lá, tuy nhiên cũng có thể xảy ra ở người bệnh mắc bệnh ung thư do các tế bào carcinom tuyến (adenocarcinoma), người bệnh gốc châu Á, và nữ giới [61]. Đột biến tác động đến 2 protein quan trọng trong điều trị là EGFR và HER2 (tên gọi khác của protein erbB2) [62]. Từ đó, bệnh nhân trở nên kháng các loại thuốc điều trị hiện có trên thị trường như Erlotinib và Gefitinib [63].
BIBW2992 (dẫn xuất quinazolin, Hình 9) hiện đang được tiến hành thử nghiệm cận lâm sàng (pre-clinical) nhằm thay thế Erlotinib và Gefitinib trong trường hợp bệnh nhân có đột biến ở các gen mã hóa hai protein EGFR và HER2 [64]. BIBW2992 cũng được nghiên cứu trên một số loại ung thư mô cứng khác. Thử nghiệm lâm sàng pha I được tiến hành trên 38 bệnh nhân (19 nam và 19 nữ) với tuổi đời trung bình là 58 tuổi. Kết quả là đã xác định được liều dùng an toàn cao nhất ở mức 70 mg/ngày, theo phác đồ 2 tuần điều trị và 2 tuần tạm nghỉ. Các tác dụng phụ được ghi nhận chủ yếu là tiêu chảy và phát ban [65].


Hình 9: Cấu trúc của BIBW2992 [65]

5. Tổng kết

Cùng với sự phát triển của kỹ thuật nghiên cứu gen, tế bào học, và liệu pháp miễn dịch, các thuốc kháng ung thư bằng con đường ức chế enzym Tyrosine Kinase nói riêng và các họ enzym khác bằng đường uống mở ra hướng mới trong điều trị ung thư. Dù xuất hiện các cơ chế kháng thuốc nhưng Imatinib vẫn là lựa chọn đầu tiên của họ TKIs trong điều trị ung thư bạch cầu dòng tuỷ mạn tính. Gefitinib được dùng bên cạnh các thuốc hoá trị nhằm tăng hiệu quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ. Sunitinib là thuốc đầu tiên được cấp phép cho cả hai loại ung thư: biểu mô thận và dạ dày – ruột. Các hoạt chất đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng dù chưa đạt được kết quả như mong muốn nhưng hứa hẹn sẽ được cải thiện để đáp ứng nhu cầu điều trị của bệnh nhân trong tương lai. Hi vọng rằng sự kết hợp giữa các phương pháp trị liệu khác nhau có thể giúp kéo dài hơn nữa thời gian sống, chất lượng sống của bệnh nhân, và tiến tới tiêu diệt triệt để tế bào ung thư.

Về tác giả:

Đinh Châu Phi là sinh viên Cao học, chuyên ngành Dược học tại Khoa Dược, Đại học Angers, Pháp. Phi hiện đang thực tập tại Viện Ung Thư Tây Bắc nước Pháp, tại đây Phi phụ trách kiểm nghiệm thuốc hoá trị và phát triển phương pháp kiểm nghiệm hỗn hợp thuốc giảm đau tiêm vào tuỷ sống.
Võ Đức Duy là nghiên cứu viên sau tiến sĩ (postdoctoral researcher), chuyên ngành Hóa Dược làm việc tại đại học Umeå, Thụy Điển. TS. Duy có nhiều kinh nghiệm trong khám phá và phát triển thuốc như: thiết kế các hợp chất ức chế họ proteins Bcl-2 để khôi phục lại tiến trình tự tử (apoptosis) ở các tế bào ung thư; thiết kế các hợp chất ức chế quá trình tạo ra các miRNA tiền ung thư; thiết kế các hợp chất ảnh hưởng đến tính chất tế bào gốc của tế bào ung thư để khôi phục lại hiệu quả của các loại thuốc hóa trị khi sử dụng kèm ở các tế bào kháng thuốc; và thiết kế các hợp chất kháng sinh thế hệ mới cho vi khuẩn gram âm bằng việc ức chế kim tiêm gây độc tế bào chủ (type III secretion system) nhằm hạn chế sự kháng thuốc trong tương lai. TS. Duy đã có nhiều công trình nghiên cứu trong lĩnh vực hóa dược được đăng tải trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín.
Biên tập viên: Lê Hoàng

Tài liệu tham khảo

1. Gschwind A, Fischer OM, Ullrich A (2004) The discovery of receptor tyrosine kinases: targets for cancer therapy. Nat Rev Cancer 4(5):361–370.
2. Robinson DR, Wu Y-M, Lin S-F (2000) The protein tyrosine kinase family of the human genome.
Oncogene 19(49):5548–5557.
3. Schlessinger J (2000) Cell signaling by receptor tyrosine kinases. Cell 103(2):211–225.
4. Paul MK, Mukhopadhyay AK (2004) Tyrosine kinase-role and significance in cancer. Int J Med Sci
1(2):101–115.
5. Lemmon MA, Schlessinger J (2010) Cell Signaling by Receptor Tyrosine Kinases. Cell 141(7):1117– 1134.
6. Ségaliny AI, Tellez-Gabriel M, Heymann M-F, Heymann D (2015) Receptor tyrosine kinases: Characterisation, mechanism of action and therapeutic interests for bone cancers. J Bone Oncol 4(1):1–12.
7. Quintanal-Villalonga A, Paz-Ares L, Ferrer I, Molina-Pinelo S (2016) Tyrosine Kinase Receptor Landscape in Lung Cancer: Therapeutical Implications. Dis Markers 2016:1–14.
8. Scheijen B, Griffin JD (2002) Tyrosine kinase oncogenes in normal hematopoiesis and hematological disease. Oncogene 21(21):3314–3333.
9. Faderl S, et al. (1999) The biology of chronic myeloid leukemia. N Engl J Med 341(3):164–172.
10. Shawver LK, Slamon D, Ullrich A (2002) Smart drugs: tyrosine kinase inhibitors in cancer therapy.
Cancer Cell 1(2):117–123.
11. Anafi M, Gazit A, Zehavi A, Ben-Neriah Y, Levitzki A (1993) Tyrphostin-Induced Inhibition of p210bcr-abl Tyrosine Kinase Activity Induces K562 to Differentiate. Blood 82(12):3524–3529.
12. Okabe M, et al. (1992) Effect of herbimycin A, an antagonist of tyrosine kinase, on bcr/abl oncoprotein-associated cell proliferations: abrogative effect on the transformation of murine hematopoietic cells by transfection of a retroviral vector expressing oncoprotein P210bcr/abl and preferential inhibition on Ph1-positive leukemia cell growth. Blood 80(5):1330–1338.
13. Carlo-Stella C, et al. (1996) Selection of myeloid progenitors lacking BCR/ABL mRNA in chronic myelogenous leukemia patients after in vitro treatment with the tyrosine kinase inhibitor genistein. Blood 88(8):3091–3100.
14. All you need to know about Glivec Available at: http://www.biospectrumasia.com/biospectrum/analysis/3205/all-glivec [Accessed September 23, 2016].
15. Druker BJ, et al. (2001) Activity of a specific inhibitor of the BCR-ABL tyrosine kinase in the blast crisis of chronic myeloid leukemia and acute lymphoblastic leukemia with the Philadelphia chromosome. N Engl J Med 344(14):1038–1042.
16. Deininger M, Buchdunger E, Druker BJ (2005) The development of imatinib as a therapeutic agent for chronic myeloid leukemia. Blood 105(7):2640–2653.
17. Schiffer CA (2007) BCR-ABL tyrosine kinase inhibitors for chronic myelogenous leukemia. N Engl J Med 357(3):258–265.
18. O’Hare T, et al. (2005) In vitro activity of Bcr-Abl inhibitors AMN107 and BMS-354825 against clinically relevant imatinib-resistant Abl kinase domain mutants. Cancer Res 65(11):4500–4505.
19. Baccarani M, et al. (2009) Chronic myeloid leukemia: an update of concepts and management recommendations of European LeukemiaNet. J Clin Oncol 27(35):6041–6051.
20. Baccarani M (2006) Evolving concepts in the management of chronic myeloid leukemia: recommendations from an expert panel on behalf of the European LeukemiaNet. Blood 108(6):1809– 1820.
21. Radich JP, Gotlib J, Reddy VV ChronicMyeloidLeukemia (Version 1.2016). Natl Compr Cancer Netw. Available at:https://www.nccn.org/professionals/physician_gls/pdf/cml.pdf [Accessed November 14, 2016].

22. Redaelli S, et al. (2009) Activity of bosutinib, dasatinib, and nilotinib against 18 imatinib-resistant BCR/ABL mutants. J Clin Oncol 27(3):469–471.
23. Hochhaus A, et al. (2008) Dasatinib induces durable cytogenetic responses in patients with chronic myelogenous leukemia in chronic phase with resistance or intolerance to imatinib. Leukemia 22(6):1200–1206.
24. Shah NP, et al. (2010) Potent, transient inhibition of BCR-ABL with dasatinib 100 mg daily achieves rapid and durable cytogenetic responses and high transformation-free survival rates in chronic phase chronic myeloid leukemia patients with resistance, suboptimal response or intolerance to imatinib. Haematologica 95(2):232–240.
25. Kantarjian H, et al. (2010) Dasatinib versus imatinib in newly diagnosed chronic-phase chronic myeloid leukemia. N Engl J Med 362(24):2260–2270.
26. Kantarjian HM, et al. (2007) Nilotinib (formerly AMN107), a highly selective BCR-ABL tyrosine kinase inhibitor, is effective in patients with Philadelphia chromosome–positive chronic myelogenous leukemia in chronic phase following imatinib resistance and intolerance. Blood 110(10):3540–3546.
27. Kantarjian H, et al. (2006) Nilotinib in imatinib-resistant CML and Philadelphia chromosome– positive ALL. N Engl J Med 354(24):2542–2551.
28. Ettinger DS, et al. (2013) Non–small cell lung cancer, version 2.2013. J Natl Compr Canc Netw
11(6):645–653.
29. Group IALCTC, others (2004) Cisplatin-based adjuvant chemotherapy in patients with completely resected non–small-cell lung cancer. N Engl J Med 2004(350):351–360.
30. Alberti W, et al. (1995) Chemotherapy in Non-Small-Cell Lung-Cancer - a Metaanalysis Using Updated Data on Individual Patients from 52 Randomized Clinical-Trials. Br Med J 311(7010):899– 909.
31. Fossella FV, et al. (1995) Phase II study of docetaxel for advanced or metastatic platinum-refractory non-small-cell lung cancer. J Clin Oncol 13(3):645–651.
32. Shepherd FA, et al. (2000) Prospective randomized trial of docetaxel versus best supportive care in patients with non–small-cell lung cancer previously treated with platinum-based chemotherapy. J Clin Oncol 18(10):2095–2103.
33. Schiller JH, et al. (2002) Comparison of four chemotherapy regimens for advanced non–small-cell lung cancer. N Engl J Med 346(2):92–98.
34. Mendelsohn J (2000) Blockade of receptors for growth factors: an anticancer therapy—the fourth annual Joseph H. Burchenal American Association for Cancer Research Clinical Research Award Lecture. Clin Cancer Res 6(3):747–753.
35. Pao W, Chmielecki J (2010) Rational, biologically based treatment of EGFR-mutant non-small-cell lung cancer. Nat Rev Cancer 10(11):760–774.
36. Muhsin M, Graham J, Kirkpatrick P (2003) Gefitinib. Nat Rev Drug Discov 2(7):515–516.
37. Iressa Back in the US for Lung Cancer, Now as First-Line Medscape. Available at: http://www.medscape.com/viewarticle/847853 [Accessed November 17, 2016].
38. Nurwidya F, Takahashi F, Takahashi K (2016) Gefitinib in the treatment of nonsmall cell lung cancer with activating epidermal growth factor receptor mutation. J Nat Sci Biol Med 7(2):119.
39. Herbst RS, Fukuoka M, Baselga J (2004) Gefitinib—a novel targeted approach to treating cancer. Nat Rev Cancer 4(12):979–987.
40. Cohen HT, McGovern FJ (2005) Renal-cell carcinoma. N Engl J Med 353(23):2477–2490.
41. Yagoda A, Abi-Rached B, Petrylak D (1995) Chemotherapy for advanced renal-cell carcinoma: 1983-1993. Semin Oncol 22(1):42–60.
42. Yang JC (2003) Randomized Study of High-Dose and Low-Dose Interleukin-2 in Patients With Metastatic Renal Cancer. J Clin Oncol 21(16):3127–3132.
43. Fisher RI, Rosenberg SA, Fyfe G (2000) Long-term survival update for high-dose recombinant interleukin-2 in patients with renal cell carcinoma. Cancer J Sci Am 6 Suppl 1:S55-57.
44. Rini BI (2005) VEGF-targeted therapy in metastatic renal cell carcinoma. The Oncologist 10(3):191– 197.

45. Ferrara N, Davis-Smyth T (1997) The biology of vascular endothelial growth factor. Endocr Rev
18(1):4–25.
46. Joensuu H (2006) Gastrointestinal stromal tumor (GIST). Ann Oncol 17(suppl 10):x280–x286.
47. Rammohan A (2012) A gist of gastrointestinal stromal tumors: A review. World J Gastrointest Oncol
5(6):102.
48. Rubin BP, et al. (2001) KIT activation is a ubiquitous feature of gastrointestinal stromal tumors.
Cancer Res 61(22):8118–8121.
49. DrugBank ed. (2016) Sunitinib. DrugBank. Available at: http://www.drugbank.ca/drugs/DB01268 [Accessed November 14, 2016].
50. Le Tourneau C, Raymond E, Faivre S, others (2007) Sunitinib: a novel tyrosine kinase inhibitor. A brief review of its therapeutic potential in the treatment of renal carcinoma and gastrointestinal stromal tumors (GIST). Ther Clin Risk Manag 3(2):341.
51. Faivre S (2006) Safety, Pharmacokinetic, and Antitumor Activity of SU11248, a Novel Oral Multitarget Tyrosine Kinase Inhibitor, in Patients With Cancer. J Clin Oncol 24(1):25–35.
52. Motzer RJ, et al. (2006) Sunitinib in patients with metastatic renal cell carcinoma. Jama
295(21):2516–2524.
53. Motzer RJ, et al. (2006) Phase III randomized trial of sunitinib malate (SU11248) versus interferon- alfa (IFN-α) as first-line systemic therapy for patients with metastatic renal cell carcinoma (mRCC). J Clin Oncol 24(90180):LBA3-LBA3.
54. Reichardt P, et al. (2016) Correlation of KIT and PDGFRA mutational status with clinical benefit in patients with gastrointestinal stromal tumor treated with sunitinib in a worldwide treatment-use trial. BMC Cancer 16(1). doi:10.1186/s12885-016-2051-5.
55. Mail BFH for the D (2010) Mother denied cancer drugs that were promised by Labour says, ―I just want to see my sons grow up.‖ Mail Online. Available at: http://www.dailymail.co.uk/health/article- 1264932/Mother-denied-cancer-drugs-promised-Labour-says-I-just-want-sons-grow-up.html [Accessed September 23, 2016].
56. Graus-Porta D, Beerli RR, Daly JM, Hynes NE (1997) ErbB-2, the preferred heterodimerization partner of all ErbB receptors, is a mediator of lateral signaling. EMBO J 16(7):1647–1655.
57. Olayioye MA (2001) Intracellular signaling pathways of ErbB2/HER-2 and family members. Breast Cancer Res 3(6):1.
58. Slichenmyer WJ, Elliott WL, Fry DW (2001) CI-1033, a pan-erbB tyrosine kinase inhibitor. Semin Oncol 28(5N):80–85.
59. Janne PA, et al. (2007) Multicenter, Randomized, Phase II Trial of CI-1033, an Irreversible Pan- ERBB Inhibitor, for Previously Treated Advanced Non Small-Cell Lung Cancer. J Clin Oncol 25(25):3936–3944.
60. Rixe O, et al. (2009) A randomized, phase II, dose-finding study of the pan-ErbB receptor tyrosine- kinase inhibitor CI-1033 in patients with pretreated metastatic breast cancer. Cancer Chemother Pharmacol 64(6):1139–1148.
61. Janne PA (2005) Epidermal Growth Factor Receptor Mutations in Non-Small-Cell Lung Cancer: Implications for Treatment and Tumor Biology. J Clin Oncol 23(14):3227–3234.
62. Janne PA (2005) Epidermal Growth Factor Receptor Mutations in Non-Small-Cell Lung Cancer: Implications for Treatment and Tumor Biology. J Clin Oncol 23(14):3227–3234.
63. GJ (2006) Clinical Course of Patients with Non-Small Cell Lung Cancer and Epidermal Growth Factor Receptor Exon 19 and Exon 21 Mutations Treated with Gefitinib or Erlotinib. Clin Cancer Res 12(3):839–844.
64. Li D, et al. (2008) BIBW2992, an irreversible EGFR/HER2 inhibitor highly effective in preclinical lung cancer models. Oncogene 27(34):4702–4711.
65. Eskens FALM, et al. (2008) A phase I dose escalation study of BIBW 2992, an irreversible dual inhibitor of epidermal growth factor receptor 1 (EGFR) and 2 (HER2) tyrosine kinase in a 2-week on, 2-week off schedule in patients with advanced solid tumours. Br J Cancer 98(1):80–85.

A look at Novartis' cancer drug that is creating news all over the world

24/10/2017

Hướng dẫn điều trị hóa chất ung thư phổi.
1. Đại cương:
Ung thư phổi nguyên phát (ung thư phế quản) thường gọi tắt là ung thư phổi là khối u ác tính phát triển từ biểu mô phế quản, tiểu phế quản tận, phế nang hoặc từ các tuyến phế quản.
Tỷ lệ sống thêm 5 năm ở những bệnh nhân mắc ung thư phổi còn thấp, chung cho cả thế giới vào các năm: 1993 là 8%, năm 1997 là 14% ở người da trắng và 11% ở người da màu. Ung thư phế quản chiếm trên 90% trong các khối u ở phổi, là loại ung thư hay gặp nhất: Đứng hàng thứ đầu ở nam giới và hàng thứ 3 ở nữ giới, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nam giới (32%), tỉ lệ mắc bệnh cũng đang ngày càng gia tăng ở các nước phát triển, nơi tỷ lệ nghiện thuốc lá rất cao ở nữ. Tỷ lệ ung thư phổi ở Việt Nam có xu hướng ngày càng tăng.
Điều trị ung thư phổi dựa vào týp mô bệnh học tế bào, đột biến gen, giai đoạn bệnh, tình trạng toàn thân, chức năng gan thận, tim mạch, hô hấp…Có thể phẫu thuật, hóa tri, xạ trị, điều trị đích, tăng cường miễn dịch, điều trị giảm nhẹ.

Bảng 1: Tóm tắt chiến lược điều trị hiện nay cho ung thư phổi không tế bào nhỏ (Silvestri G.A và CS- Muray 2016):
Giai đoạn ĐTNgo- ại Khoa Hóa trị Xạ trị Hóaxạ trị KH Chú ý
I và II Số 1 Bổ trợ
Gđ II. Số 2 O Xạ trị khi O mổ được.
IIb(T3NoMo)
Pancoast Số 1 O O Số1- tân
bổ trợ. Tân bổ trợ cải thiện
sống thêm IIb.
IIIa Số 1 Bổ trợ khi IIIa
cắt HT Bàn cãi Số 1 Hóa xạ trị KH sau mổ tốt nhưng cần NC thêm
để cho thường quy.
III b O O O Số 1 Đt tương tự IIIa không
mổ được.
IV O Số 1 O O Xạ trị giảm nhẹ và chú ý
xn đột biến EGFR, KRAS, EML4-ALK.

Như vậy, ung thư phổi giai đoạn 1 ( giai đoạn sớm) chỉ cần mổ đơn thuần. giai đoạn 2 cho phẫu thuật sau đó điều trị bổ trợ bằng hóa chất, giai đoạn IIIa và IIIb điều trị bằng phối hợp hóa xạ trị và giai đoạn 4 điều trị bằng hóa chất đơn thuần.
2. Trước điều trị hoá chất:
2.1. Chẩn đoán xác định bệnh:
- Dựa vào các triệu chứng lâm sàng và các thăm dò chẩn đoán hình ảnh (X-quang, cắt lớp vi tính, PET- CT, nội soi phế quản...)
- Sinh thiết lấy bệnh phẩm chẩn đoán xác định bằng mô bệnh là tiêu chuẩn vàng (gold standard) trong chẩn đoán ung thư phổi
2.2. Xác định týp mô bệnh, tế bào ung thư phổi: Phân 2 nhóm chính tế bào nhỏ và không tế bào nhỏ.
Trong thực tế, phân loại của Faber (1991) vẫn hay được áp dụng gồm 4 týp chính là: Ung thư biểu mô tế bào vẩy, ung thư tế bào nhỏ, ung thư biểu mô tuyến, ung thư tế bào lớn. Ngoài ra, Ung thư biểu mô tuyến- vẩy (týp hỗn hợp) chiếm tỉ lệ khoảng 20%, là loại ung thư biểu mô có các thành phần của ung thư biểu mô tuyến và ung thư biểu mô vẩy, tiến triển lâm sàng như ung thư biểu mô tuyến.
2.3. Xác định giai đoạn bệnh:
• Các thay đổi chủ yếu khi so sánh TNM 6 và TNM 7:
-Giai đoạn T1 được chia thành T1a (u ≤ 2cm) và T1b (u > 2cm và ≤ 3cm).
- Giai đoạn T2 được chia thành T2a (u > 3cm và ≤ 5cm) và T2b (> 5cm và ≤ 7cm).
- Giai đoạn M1 được chia thành M1a (nốt vệ tinh đối bên, di căn màng phổi hoặc màng tim) và M1b (di căn xa).
-Khối u > 7cm được nâng bậc từ T2 thành T3.
- Di căn màng phổi được nâng bậc từ T4 thành M1a.
-Nốt vệ tinh cùng thùy được giảm bậc từ T4 thành T3.
-Nốt vệ tinh khác thùy được giảm bậc từ M1 thành T4.
-Phiên bản 7 áp dụng được cả cho ung thư tế bào nhỏ.
* Ảnh hưởng của các thay đổi trong phân loại TNM 7: Những thay đổi trong TNM 7 sẽ làm thay đổi giai đoạn bệnh của một số BN so với TNM 6 (ước chừng 10 - 15% tổng số BN).

Các BN được giảm bậc (có nốt vệ tinh cùng thùy với u nguyên phát) nay có thể được xét điều trị hóa trị bổ trợ kết hợp phẫu thuật. Điều này cũng tương tự với những BN có nốt thứ phát khác thùy cùng bên (từ giai đoạn IV xuống IIIA), nay có thể được xét điều trị phẫu thuật.
Bảng 2: Thay đổi giai đoạn giữa TNM 6 và TNM 7

TNM 6 TNM 7 N0 N1 N2 N3
T1 (≤ 2cm) T1a IA IIA IIIA IIIB
T1 (> 2 - 3cm) T1b IA IIA IIIA IIIB
T2 (≤ 5cm) T2a IB IIA IIIA IIIB
T2 (> 5 - 7cm) T2b IIA IIB IIIA IIIB
T2 (> 7cm) T3 IIB IIIA IIIA IIIB
T3 xâm lấn T3 IIB IIIA IIIA IIIB
T4(vệ tinh cùng thùy) T3 IIB IIIA IIIA IIIB
T4 (xâm lấn) T4 IIIA IIIA IIIB IIIB
M1 (phổi cùng bên) T4 IIIA IIIA IIIB IIIB
T4 (tràn dịch màng phổi) M1a IV IV IV IV
M1 (phổi đối bên) M1a IV IV IV IV
M1 (di căn xa) M1b IV IV IV IV

*Phân loại giai đoạn đối với ung thư tế bào nhỏ
- Giai đoạn khu trú - ung thư khu trú ở một bên lồng ngực, có thể di căn vào các hạch bạch huyết khu vực cùng bên (hạch rốn phổi, trung thất ; rất thường gặp là hạch thượng đòn);
- Đối với giai đoạn lan rộng, bệnh đã vượt quá phạm vi nói trên, di căn tới những hạch ở xa, não, gan, tuỷ xương, các tạng trong ổ bụng, các mô mềm.
Tuy nhiên, bệnh nhân ung thư tế bào nhỏ tương ứng giai đoạn I theo TNM có thể chỉ định phẫu thuật và kết hợp hóa xạ trị bổ trợ sau mổ.
2.4.Đánh giá tình trạng toàn thân;
- Đánh giá tình trạng toàn thân của bệnh nhân ung thư phổi theo thang điểm Karnofsky hoặc ECOG/WHO:

Bảng 3: Tiêu chuẩn đánh giá thể trạng của bệnh nhân ung thư phổi.

Giai đoạn
ECOG/WHO Thang điểm
Karnofsky Tiêu chuẩn đánh giá
0 100 - Không có triệu chứng lâm sàng, khỏe mạnh.
1 80-90 - Có triệu chứng, giảm khả năng lao động.
2 60-70 - Có triệu chứng, thời gian nằm 50% thời gian
thức
4 20-30 - Nằm toàn bộ thời gian, phục vụ tại giường.

Những bệnh nhân ở giai đoạn 0, 1, 2 có tiên lượng tốt hơn và có chỉ định điều trị HC.
- Thăm khám lâm sàng, cận lâm sàng, phát hiện, đánh giá tình trạng tim mạch, hô hấp, bệnh lý gan thận ( mức lọc cầu thận), các chỉ số huyết học, đông chảy máu và các bệnh kết hợp...
2.5.Hội chẩn, lựa chọn phác đồ, lập kế hoạch điều trị, chuẩn bị thuốc, giải thích cho bệnh nhân về lợi ích và tai biến có thể xảy ra.
- Bệnh nhân cam đoan điều trị...
3. Một số chú ý khi điều trị hóa chất:
3.1 Chỉ định điều trị hoá chất:
-Khi ung thư lan rộng và không thể chữa bằng phẫu thuật hoặc tia xạ.
- Điều trị tân bổ trợ để hạ giai đoạn cho bn trước mổ.
-Điều trị bổ trợ sau mổ hoặc tia xạ.
- Điều trị phối hợp với xạ trị ( đồng thời hoặc tuần tự) ở những bn Kpq không tb nhỏ giai đoạn 3.
- Những bệnh nhân có điểm toàn trạng (ECOG/WHO) ở giai đoạn 0, 1, 2.
3.2 Lập phác đồ và kế hoạch điều trị:
-Liều lượng thuốc tính theo diện tích bề mặt cơ thể.
-Kết hợp thuốc hiệu quả hơn dùng một thuốc (nên kết hợp thuốc có độc tính và cơ chế tác dụng khác nhau, phác đồ cụ thể ở phần sau).
3.3. Các vấn đề gặp phải khi điều trị hoá chất
• Kháng thuốc: Ban đầu hoặc mắc phải

• Gây độc: Đặc biệt với các tế bào bình thường phân chia nhanh như: niêm mạc ống tiêu hóa, tuỷ xương, tóc…
• Ức chế tuỷ xương: Thiếu máu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu:
• Tác động lên đường tiêu hoá: Nôn mửa, viêm dạ dày, khó nuốt, táo bón, tiêu chảy.
• Tác động lên da: Khô da, bỏng do ánh nắng mặt trời
• Tác động lên hệ sinh dục: Giảm số lượng tinh trùng, giảm kinh nguyệt.
• Suy giảm miễn dịch dễ mắc các bệnh nhiễm trùng.
4. Điều trị hóa chất Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ:
4.1 Phác đồ điều trị hóa chất bổ trợ hoặc tân bổ trợ trong ung thư phổi không tế bào nhỏ:
Bảng 4: Phác đồ điều trị bổ trợ, tân bổ trợ cho ung thư phổi không tế bào nhỏ ( theo NCCN 2015):


Đối với bệnh nhân toàn trạng tốt, thường dùng phác đồ phối hợp thuốc trên nền plastin ( Cisplatin hoặc Carboplatin) với các thuốc trên 4 chu kỳ với liều dùng và thời gian từng phác đồ như trên nhưng có một số lưu ý như sau:
- Ưu tiên dùng Cisplatin hơn Carboplatin.
- Nếu bệnh nhân bị nhiều bệnh đồng mắc hoặc không thể dung nạp với Cisplatin thì dùng phác đồ Paclitaxel kết hợp với Carboplatin.
- Có một số chú ý về típ mô bệnh học điều trị trong điều trị hóa trị: Đối với K biểu mô tuyến: phác đồ Cisplastin với Pemetrexed có thời gian sống thêm tốt

hơn khi kết hợp với Gemcitabine. Ngược lại, ung thư tế bào vảy thì phác đồ sau lại có thời gian sống thêm tốt hơn. Hạn chế chỉ định Pemetrexed cho k tế bào vẩy.
4.2 Hóa xạ trị kết hợp:
Có 3 phương thức chính là hóa xạ trị đồng thời, hóa xạ trị tuần tự và hóa xạ trị đồng thời sau đó điều trị 2 chu kỳ hóa chất khi bệnh nhân bị Kpq không tế bào nhỏ giai đoạn 3 mà không mổ được. Nhiều nghiên cứu cho rằng hóa xạ trị đồng thời có hiệu quả hơn so với hóa xạ trị kết hợp tuần tự. Tuy nhiên, hóa xạ trị đồng thời có tỷ lệ viêm thực quản nặng cao hơn so với hóa xạ tuần tự.

Bảng 5: Phác đồ điều trị hóa xạ trị kết hợp trong ung thư phổi không tế bào nhỏ ( theo NCCN 2015):

4.3 Điều trị toàn thân: Khi bệnh ở giai đoạn tiến triển hoặc di căn xa, có thể dùng các thuốc ở bảng sau.
Bảng 6: Các thuốc điều trị cho ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến triển hoặc di căn xa ( theo NCCN 2015):



Ngoài các chú ý như phần điều trị bổ trợ, cần chú ý những điểm sau khi điều trị ung thư phổi giai đoạn tiến triển hoặc di căn xa.
- Khi dùng phác đồ 2 thuốc kết hợp trên nền plastin thì tốt hơn dùng 1 thuốc và điều trị 3 thuốc cũng không thấy tốt hơn phác đồ 2 thuốc.
- Có thể kết hợp thêm trong phác đồ Paclitaxel kết hợp với Carboplastin với thuốc ức chế yếu tố phát triển nội mô mạch máu (Vascular endothelial growth factor (VEGF) là Bevacizumab (Avastin) thấy có thời gian sống thêm không tiến triển tăng hơn so với nhóm dùng hóa chất đơn thuần. Tuy nhiên, cần chỉ định phác đồ này ở nhóm bệnh nhân có toàn trạng tốt, típ không phải tế bào vẩy, nhưng cần phản chỉ định ở những bệnh nhân ho ra máu, di căn não, nghẽn tắc tĩnh mạch sâu và đang dùng thuốc chống đông.
- Những bệnh nhân có đáp ứng và ổn định sau khi dùng Bevacizumab thì nên duy trì điều trị bằng thuốc này cho đến khi bệnh tiến triển.
- Những bệnh nhân điều trị ban đầu bằng phác đồ 2 thuốc trên nền plastin có đáp ứng và bệnh ổn định thì duy trì điều trị bằng Pemetrexed có tác dụng kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

- Các thuốc tác động vào các phân tử đặc hiệu mà các phân tử này cần thiết cho quá trình sinh ung thư và phát triển khối u, phương pháp này còn được gọi là điều trị đích. Theo nhiều nghiên cứu trên toàn thế giới, các thuốc này đã được chứng minh mang lại hiệu quả trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn muộn, kéo dài thời gian sống thêm cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, đặc biệt

ở các bệnh nhân thể trạng gầy yếu không điều trị hóa chất được, hoặc tác dụng phụ của hóa chất quá nặng nề. Thuốc điều trị đích trong ung thư phổi chia thành 2 nhóm: nhóm các kháng thể đơn dòng và nhóm các phân tử nhỏ. Cần chỉ định xét nghiệm phân tích đột biến gen EGFR. Nếu đột biến gen EGFR dương tính, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân ung thư tuyến, ở phụ nữ châu á thấy có hiệu quả khí dùng các thuốc đích phân tử như Elotinib hoặc Gefitinib.

5. Điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ
Ung thư phổi tế bào nhỏ có đặc điểm tiến triển nhanh, di căn sớm, có các hội chứng cận u trên lâm sàng, nhạy cảm với điều trị bằng hóa chất, tia xạ.
Sau khi có kết quả típ mô bệnh, cần sàng lọc kỹ để chẩn đoán giai đoạn trước khi điều trị bằng MRI sọ não, CT ngực và ½ trên ổ bụng và xạ xương hoặc PET.
5.1. Giai đoạn giới hạn trong lồng ngực:
- Nếu chỉ là u tròn đơn độc thì có thể phẫu thuật cắt bỏ sau đó điều trị hóa chất, xạ trị bổ trợ sau mổ.
- Khi bệnh tiến triển hơn thì phối hợp giữa hóa chất + xạ trị.
- Các phác đồ hóa chất: Cisplatin ( hoặc carboplastin) + Etoposide (hoặc Irinotecan).
- Điều trị hóa chất có hoặc không có xạ trị sọ não dự phòng kèm theo cho những bệnh nhân đáp ứng điều trị với liều 25- 30 Gy.
5.2. Giai đoạn lan rộng:
- Dùng phác đồ hóa chất đơn thuần Cisplatin (hoặc carboplastin) + Etoposide (hoặc Irinotecan).
- Điều trị hóa chất có hoặc không có xạ trị sọ não dự phòng kèm theo cho những bệnh nhân đáp ứng điều trị với liều 25- 30 Gy.
* Điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ tái phát
-Nếu thời gian tái phát muộn sau 6 tháng ngưng điều trị thì có thể dùng lại phác đồ nhưng nếu có tái phát sớm thì tiên lượng xấu vì chưa có thuốc điều trị bước 2.
- Nếu ban đầu chưa dùng thuốc platinum thì nên dùng thuốc này.
- Có thể dùng các thuốc bước 2 đươc FDA cấp phép là Topotecan
- Điều trị giảm nhẹ triệu chứng bằng tia xạ kết hợp.
- Chưa có thuốc điều trị đích phân tử trong ung thư phổi tế bào nhỏ.

6. Theo dõi kết quả điều trị các biến chứng của hoá trị:
Thường đánh giá hiệu quả điều trị của phác đồ dùng hóa trị sau 2-3 chu kỳ điều trị theo tiêu chuẩn RECIST 1.1 như sau:
+ Đáp ứng toàn bộ: U xóa sau điều trị.
+ Đáp ứng 1 phần: Giảm từ 30% đường kính khối u.
+ Bệnh tiến triển: Tăng từ 20% đường kính khối u hoặc xuất hiện tổn thương

mới.


+ Bệnh ổn định: Không đủ tiêu chuẩn của đáp ứng 1 phần hay bệnh tiến triển. Và sau mỗi đợt điều trị hoá chất người bệnh cần được theo dõi kỹ để phát hiện và

xử lý các tác dụng không mong muốn, độc tính của hoá trị liệu để có thể kịp thời xử lý và điều chỉnh thời gian, liều hoá chất trong những đợt tiếp theo đồng thời. Có các tác dụng phụ khi điều trị hóa chất như sau :
- Giảm bạch cầu hạt dẫn đến giảm sức đề kháng, nhiễm trùng: Hóa trị làm giảm số lượng bạch cầu khiến bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng. Tác dụng này có thể khởi phát vào thời điểm 7 ngày sau khi bắt đầu hóa trị và sức đề kháng đối với nhiễm khuẩn sẽ thấp nhất từ 10 - 14 ngày sau khi hóa trị. Số lượng bạch cầu sau đó sẽ tăng dần và thường trở về trị số bình thường trước chu kỳ hóa trị kế tiếp.
- Phác đồ paclitaxel và carboplatin có thể làm giảm sản sinh tiểu cầu khiến máu khó đông.
- Thiếu máu (giảm số lượng hồng cầu): Khi cảm thấy mệt và khó thở, có thể là do dấu hiệu của thiếu máu.
- Buồn nôn và nôn: Hóa chất hóa trị gây kích thích niêm mạc dạ dày và tá tràng (phần đầu tiên của ruột non) làm kích thích một số dây thần kinh kích hoạt trung tâm nôn và vùng khởi động thụ thể hóa học ở não dẫn đến tình trạng buồn nôn và nôn ở người bệnh.
Nôn có thể xuất hiện ngay sau khi hóa trị hoặc sau đó. Nó có thể xuất hiện trong vòng vài phút đến vài giờ sau hóa trị và được gọi là nôn cấp tính. Nếu nó xuất hiện hoặc tiếp tục trong vòng 24 giờ hoặc hơn sau hóa trị, nó được gọi là nôn trễ. Loại này đôi khi có thể kéo dài trong vài ngày.
- Mệt mỏi: Bệnh nhân có thể cảm thấy rất mệt mỏi, nhất là vào giai đoạn cuối của liệu trình hóa trị. Tác dụng phụ này rất thường gặp.

- Rụng tóc: Một số loại thuốc hóa trị ảnh hưởng đến những tế bào phát triển nhanh chóng của các nang tóc. Tóc sẽ trở nên dễ gãy và gãy lìa khỏi bề mặt da đầu hoặc chỉ đơn giản là rụng khỏi nang tóc. Rụng tóc không phải là một biến chứng đe dọa mạng sống. Rụng tóc do paclitaxel thường khởi phát từ 3 - 4 tuần sau chu kỳ điều trị đầu tiên. Tóc thường rụng toàn bộ. Có thể rụng cả lông mày, lông mi lẫn lông ở các vùng khác của cơ thể. Lông, tóc thường chỉ rụng tạm thời và sẽ mọc lại sau khi chấm dứt điều trị.
- Lở và loét miệng: Niêm mạc miệng có thể bị khô và lở, đôi khi có những vết loét nhỏ ở miệng trong quá trình điều trị. Loét ở miệng, họng và thực quản thường chỉ là nhất thời. Chúng thường xuất hiện từ 5 đến 14 ngày sau khi hóa trị. Viêm miệng thường tự hồi phục sau 2 đến 3 tuần và lành hoàn toàn khi kết thúc hóa trị.
- Tiêu chảy: Tiêu chảy có thể xảy ra chỉ vài ngày sau khi hóa trị và dễ dàng được kiểm soát bằng thuốc nếu nặng và kéo dài. Cần chú ý uống nhiều nước (2 - 3 lít mỗi ngày) nếu tiêu chảy.
- Chán ăn và thay đổi cân nặng: Hầu hết các loại thuốc hóa trị có thể gây ra chán ăn ở một mức độ nào đó, giảm hoặc mất hoàn toàn khẩu vị. Chán ăn, cũng như sụt cân, có thể là hậu quả trực tiếp của ung thư trên hoạt động chuyển hóa của cơ thể.
- Thay đổi vị giác: Những thuốc điều trị ung thư và chính bản thân ung thư có thể gây thay đổi mùi vị của một số loại thức ăn. Sự thay đổi vị giác có thể dẫn đến chán ăn, suy sinh dưỡng và thay đổi cân nặng.
- Tê và châm chích ở tay chân: Hậu quả của paclitaxel hoặc carboplatin trên thần kinh gây viêm thần kinh ngoại biên.
- Đau cơ và các khớp: Triệu chứng đau cơ khớp có thể xảy ra chỉ vài ngày sau khi hóa trị và thường là do paclitaxel. Tuy nhiên, những triệu chứng này thường không kéo dài và có thể được xử lý bằng các thuốc giảm đau thông thường.
- Phản ứng quá mẫn: Những dấu hiệu của phản ứng quá mẫn đối với thuốc hóa trị bao gồm sẩn da, ngứa, sốt, lạnh run, chóng mặt, nhức đầu và khó thở.
- Suy thận cấp: Thường xuất hiện sau khi truyền cisplatin, đối với cisplatin chỉ sử dụng khi mức lọc cầu thận ( GFR) ≥ 60 ml/p.
Dự phòng suy thận: trước truyền hóa chất: truyền dịch phối hợp với manitol 20% hoặc furosemite 40mg tĩnh mạch, sau truyền hóa chất cho truyền 1000 ml NaCl 0,9%

Tài liệu tham khảo
1. Ngô Quý Châu (2008). Ung thư phổi. NXB y học
2, Nguyễn Chấn Hùng (2004): Ung bướu học nội khoa. NXB Y học
3, Nguyễn Bá Đức (2007): Chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư . NXB Y học
4. Silvestri g.A., Pastis. N.J. Tanner N.T. et al (2015): Clinical aspects of lung cancer, Murray & Nadel’s textbook of respiratory medicine, 6th edition.

Address

59A Trần Phú
Hanoi

Telephone

+84914235297

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phẫu Thuật Tim Mạch Lồng Ngực Bệnh Viện Đa Khoa Xanh Pôn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Phẫu Thuật Tim Mạch Lồng Ngực Bệnh Viện Đa Khoa Xanh Pôn:

Share

Category