16/08/2024
Điều trị Vi ung thư tuyến giáp thể nhú: Ý kiến của Cha đẻ phương pháp theo dõi tích cực không phẫu thuật
Theo thầy Nguyễn Quang Bảy trưởng khoa nội tiết bệnh viện Bạch Mai cho biết:
(có một điều xin bổ xung cho mọi người: đốt u giáp không còn đắt đỏ mà đã được bảo hiểm thanh toán tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa)
( PTMC là ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú)
Cách đây đúng 30 năm, vào năm 1993, Bs Akira Miyauchi ở BV Kuma Kobe, Nhật Bản bắt đầu đưa ra phương pháp theo dõi chặt (Acive Surveillance) mà không can thiệp (mổ ngay) các vi ung thư tuyến giáp thể nhú (PTMC) có nguy cơ thấp (T1aN0M0). Mới đây, vị cha đẻ của phương pháp theo dõi chặt vi ung thư tuyến giáp thể nhú này có đưa ra một số kinh nghiệm và ý kiến như sau:
1. Phương pháp theo dõi: Các BN được đánh giá bằng siêu âm mỗi 6 tháng, và có thể là hàng năm sau đó. Một số được chụp CT cổ. U được coi là to lên khi đường kính to nhất của u tăng ≥ 3mm so với ban đầu. Nếu thấy u to lên, xuất hiện di căn hạch cổ thì BN sẽ được mổ hoặc đốt sóng cao tần (RFA)
2. Kết quả: Theo dõi sau 5 và 10 năm thấy tỷ lệ khối u tuyến giáp to lên là 3 và 5,5%; tỷ lệ xuất hiện di căn hạch là 0,9 và 1,1%
3. Các yếu tố dự báo tiến triển của PTMC:
• Yếu tố dự báo bệnh tiến triển là tuổi < 40
• Yếu tố dự báo khối u sẽ to lên là TSH tăng và khối u có kích thước ≥ 9mm
• Yếu tố dự báo có di căn hạch là giới nam
Vì vậy, những BN < 40 tuổi, TSH tăng nên được điều trị LT4 để ngăn u to lên
4. Sự chấp thuận theo dõi sát hơn là mổ của các BN ? Nhiều Bác sỹ cho rằng BN lo sợ và không muốn sống cùng khối ung thư, nhưng nguyên nhân có thể lại chính từ cách giải thích về bệnh của Bác sỹ. Thực tế ở BV Kuma, chất lượng sống của các BN PTMC cao hơn so với BN mổ ngay và ngày càng nhiều BN PTMC lựa chọn theo dõi sát.
5. Không có xét nghiệm gen hoặc marker ung thư nào có giá trị dự đoán sự phát triển của PTMC
6. Để có thể theo dõi tốt các BN PTMC, bắt buộc phải có Bác sỹ siêu âm tốt để đánh giá chính xác u tuyến giáp ban đầu và hạch. Các BN phải được siêu âm tối thiểu 1 lần/năm.
7. So sánh theo dõi sát với mổ: Mổ là phương pháp tốt, tỷ lệ khỏi gần như 100%. Tuy nhiên, mổ có thể có các biến chứng như tỷ lệ liệt dây thanh tạm thời và vĩnh viễn là 8,7% và 0,9%; tỷ lệ bị suy cận giáp tạm thời và vĩnh viễn là 20,8% và 1,4%. Tổng chi phí trong 10 năm của BN điều trị mổ ngay cao gấp 4,1 lần BN theo dõi sát (ở Nhật). Những BN phải mổ sau 1 thời gian theo dõi sát có tiên lượng và tái phát hạch cổ sau mổ tương đương nhóm mổ ngay.
8. So sánh với điều trị đốt sóng cao tần (RFA), một phân tích gộp 1770 BN thấy tỷ lệ biến mất hoàn toàn khối ung thư là 79% (65-94%). Tỷ lệ khối ung thư phát triển là 1,5%, tỷ lệ còn khối ung thư tại chỗ là 0,4%, tỷ lệ xuất hiện khối ung thư mới là 0,2%. Tỷ lệ có biến chứng (do đốt) chung là 2,7% và 0,2% các BN có biến chứng đáng ngại như thay đổi giọng nói, loạn nhịp tim; thấp hơn so với phẫu thuật. Nhìn chung, RFA có thể là lựa chọn để điều trị khi theo dõi thấy khối u phát triển hoặc BN quá lo lắng và muốn xử lý. Tuy nhiên RFA là điều trị đắt tiền và chưa được bảo hiểm y tế chi trả ở nhiều nước, trong đó có cả Nhật và Việt Nam.
9. Kết luận: theo dõi sát có thể là điều tri ban đầu hợp lý cho các BN bị vi ung thư tuyến giáp thể nhú. Tiên lượng của các BN này là tốt.
Bài trên Journal of the Endocrine Society, tháng 5/2023