19/10/2022
1- LAI LỊCH CỦA KINH DỊCH
- Kinh dịch bắt đầu ra đời từ vua Phục Hy
- Lúc ấy Hoàng Hà có con long mã hiện hình lưng nó có khoáy thành đảm, từ một đến chín, vua ấy coi những khoáy đó, mà hiểu được lẽ biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch ra thành nét. Đầu tiên vạch một nét liền, tức là “vạch lẻ” để làm phù hiệu cho khí Dương, và một nét đứt, tức là “vạch chẵn” để làm phù hiệu cho khí Âm. Hai cái vạch đó gọi là hai Nghi. Trên mỗi Nghi thêm một nét nữa, thành ra bốn cái “hai vạch”, gọi là bốn Tượng. Trên mỗi Tượng lại vạch thêm một vạch nữa, thành ra tám cái “ba vạch”, gọi là tám Quẻ. Sau cùng, vua ấy lại đem Quẻ nọ chồng lên Quẻ kia, điên đảo khắp lượt, thành ra sáu mươi tư cái “sáu vạch”, gọi là sáu mươi tư Quẻ
- Từ thời Phục Hy đến cuối nhà Thương,Kinh dịch vẫn chỉ là một mớ vạch liền, vạch đứt, chưa có tên hiệu chữ nghĩa gì cả.
- Sang đầu nhà Chu (Trước lịch Tây độ hơn nghìn năm), Văn Vương- mới đem những quẻ của Phục Hy mà đặt từng tên và diễn thêm lời ở dưới mỗi quẻ để nói về sự lành dữ của cả quẻ, như chữ 元亨利貞(Nguyên hanh lợi trinh)ở quẻ Kiền, hay chữ 元亨利牝馬之負(nguyên hanh lợi tẩn mã chi trịnh)ở quẻ Khôn v.v… Lời đó vẫn gọi là Lời Quẻ 卦辭(quái tử)hay Lời Thoán 彖辭(Thoán từ)
- Kế đó, Cơ Đán, tức Chu Công, con trai thứ Văn Vương, lại theo số vạch của các quẻ mà chia mỗi quẻ ra làm sáu phần, mỗi phần gọi là một hào, và dưới mỗi hào đều có thêm một hoặc vài câu, để nói về sự lành dữ của từng hào, như câu 初九:潜龍勿用:(Sơ Cửu: tiềm long vật dụng)hay câu 九二:克龍在田(Cửu Nhị hiện long tại điền), trong quẻ Kiền và câu 初六:履霜堅冰至办(Sơ Lục lý sương kiên băng chí)hay câu 六三:含章可貞(Lục Tam: Hàm chương khả trinh)trong quẻ Khôn… Lời đó vẫn gọi Lời Hào (爻 辭Hào Từ) vì nó phần nhiều đều căn cứ vào hình tượng của các hào, cho nên cũng gọi là Lời Tượng (象解tượng từ).
- Tiếp đến, Khổng Tử lại soạn ra sáu thứ nữa, là: Thoán truyện, Tượng truyện, Văn ngôn, Hệ từ truyện, Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái,Thoán truyệncó hai thiên: Thượng Thoán và Hạ Thoán;Tượng truyệncó hai thiên: Thượng và Hạ Tượng; Hệ từ cũng có hai thiên: - - Thượng Hệ và Hạ Hệ; tất cả mười thiên,Tiên nhogọi là “Thập dực” (mười cánh).
- Sáu thứ đó tuy đều tán cho ý nghĩaKinh dịchrộng thêm, nhưng mỗi thứ có một tính cách.
- Nay nói chính văn Kinh dịch, tức là gồm cả: vạch quẻ của Phục Hy, lời quẻ của Văn Vương, lời hào của Chu Công, và Thoán truyện, Tượng truyện, Văn ngôn, Hệ từ truyện, Thuyết quái, Tự quái và Tạp quái của Khổng Tử.
Đó là theo lời cựu truyền của tiên nho mà thuật ra, để độc giả biết qua lai lịchKinh dịch là vậy.