15/07/2022
Tản mạn chuyện nghề
Hôm rồi đọc câu chuyện rằng, có vị lương y lâu năm đau đáu hỏi một thầy cũng khá uy tín ngoài Hà Nội. Ông hỏi:”sao bây giờ người ta đồn thổi và quảng cáo các phương pháp không dùng thuốc nhiều quá vậy thầy?”. Ông thầy cười hề hề, trả lời gọn lỏn:”vì họ không biết thuốc đấy mà!”
Tự nhiên thấy nhột mà tự ngẫm lại mình. Tự vấn xem mình có bị lệch quỹ đạo mà rơi vào tình huống trên không? Và cũng may mình vẫn có thể gọi là cân bằng. Thật ra, phương pháp nào cũng có ưu và nhược điểm cả. Tuy nhiên, câu chuyện cũng là vấn đề mình trăn trở, suy nghĩ về nghề trong bối cảnh hiện nay, cái thời mà bác sĩ y học cổ truyền phải kết hợp cả y học hiện đại. Kết hợp được thì tốt, nhưng không khéo thì người bệnh mang 1 bịch thuốc tây, và 1 bịch thuốc đông rồi về trộn nhau uống … thay cơm, vì uống xong cũng no mất rồi mà không rõ chúng có đánh nhau loạn xạ trong bụng không!
Tuy nhiên, xét về câu trả lời của ông thầy trong câu chuyện trên thì có vẻ hơi cực đoan. Có thể đúng với 1 bộ phận nhưng không phải tất cả. Trong phạm vi vài dòng ngắn ngủi, mình chỉ muốn chia sẽ kinh nghiệm và cảm nhận cá nhân của 1 bác sĩ y học cổ truyền cũng tạm gọi là hơn chục… tuổi ngành.
1. Phương pháp không dùng thuốc: châm cứu, nhĩ châm, thuỷ châm, xoa bóp bấm huyệt, cấy chỉ,… là một thế mạnh thật sự của ngành y học cổ truyền, đặc biệt với các bệnh lý đau mạn tính, vấn đề cơ xương khớp đau nhức lâu năm. WHO cũng đã khuyến nghị đưa các phương pháp này thay thế các thuốc giảm đau thông thường phải dúng kéo dài. Vấn đề tại sao chúng được đồn thổi và quảng cáo quá mức? Cái này thì nhiều lý do, mà trong đó là sự phát triển như vũ bão cũng công tác truyền thông mạng hiện nay. Nhìn lại, nếu đồn thổi thì đâu chỉ có phương pháp không dùng thuốc. Chắc chúng ta ai cũng biết những đoạn clip quảng cáo thuốc như “gia đình chúng tôi 3 đời…”.
2. Khái niệm “biết thuốc” ở đây thật sự quá rộng lớn. Mình thích một câu nói “thế giới thì vô hạn. Nhưng kiến thức con người thì hữu hạn”. Trong y học hiện đại, chúng ta đề ra phác đồ trên y học chứng cứ, tức lấy bằng chứng từ nghiên cứu khoa học. Nhưng con người không đơn giản như một cái máy. Việc một loại thuốc được đưa vào phác đồ điều trị, đến 10 năm sau đề nghị thu hồi vì tác dụng phụ a, b, c là chuyện rất bình thường. Nói vậy, sự “biết” trong y học không có điểm dừng. Thuốc y học cổ truyền dược liệu càng khó hơn. Ngày xưa, các lương y muốn sử dụng thuốc phải hiểu được tứ khí, ngũ vị rồi luận theo âm dương ngũ hành mà kê đơn. Âm dương đôi khi mù mịt rồi ngũ hành lại lung tung. Bác sĩ y học cổ truyền ngày nay còn làm thêm 1 bước là xem nghiên cứu tác dụng dược lý, phối hợp với thuốc tây như thế nào,…đó là chưa kể việc tinh giản quy trình sơ chế dược liệu, sắc thuốc cũng ảnh hưởng không ít đến hiệu quả và sử dụng thuốc. Rồi sự tiện ích phù hợp với cuộc sống kinh tế thị trường hiện nay, là một bài toán không hề dễ cho các bác sĩ khi kê đơn dược liệu y học cổ truyền. Nên đôi khi, ở một bộ phận nào đó thuốc dược liệu bị bỏ quên và lúc này dĩ nhiên phương pháp không dùng thuốc sẽ là lựa chọn hàng đầu.
3. Với phương pháp không dùng thuốc, cái “biết” cũng rộng lớn như vậy. Hiện nay, muốn tìm một lớp đào tạo các phương pháp này không khó. Từ vài tháng, thậm chí vài tuần là xong một chứng chỉ. Ai cũng có thể học và làm được nếu đam mê. Nhưng làm đến đâu thì còn là một câu chuyện dài. Thuốc theo pháp trị, không dùng thuốc cũng phải theo quy luật đó. Hư phải bổ. Thực thì tả. Thủ thuật khác nhau. Muốn làm được chuyện này thì lại phải thăm khám, biện chứng luận trị, công việc không thể đào tạo trong vòng vài ba tháng.
4. Mình đúc kết được một kinh nghiệm từ các thầy cô anh chị đi trước, nếu đã điều trị bằng thuốc y học cổ truyền thì thuốc thang là lựa chọn hàng đầu. Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu nhanh, tiện lợi, nhiều thành phẩm y học cổ truyền dạng cao lỏng, hoàn, viên nang, tễ… được sản xuất cho người bệnh. Hầu hết, các thành phẩm này khi ra thị trường cũng được nghiên cứu lâm sàng bài bản. Tuy nhiên, lúc này các thuốc y học cổ truyền trên cũng đóng vai trò tương tự như thuốc tân dược. Ví dụ, ngứa dị ứng chúng ta cho uống kháng histamin, thì y học cổ truyền bác sĩ kê viên “ngân kiều giải độc”. Cho thuốc kiểu này thì không phải kê đơn của y học cổ truyền, mà một bác sĩ tây y cũng kê được. Cái nghệ thuật của thuốc thang là ở chổ gia giảm vị thuốc, liều lượng. Muốn làm được điều này thầy thuốc y học cổ truyền phải thăm khám bắt mạch xem lưỡi hỏi bệnh, rồi biện chứng luận trị mà kê đơn. Do đó có thể cùng một pháp trị, một bài thuốc nhưng ở mỗi bệnh nhân liều lượng có thể khác nhau. “Sự biết” mà ông thầy nói là ở chỗ này.
5. Thật sự, để “biết” là một việc không dễ dàng mà bản thân người thầy thuốc y học cổ truyền như tôi luôn phải tự kỷ ám thị là “học đến chết”. Trên con đường hành nghề, chỉ mong hôm nay “biết” hơn hôm qua một chút, mỗi lần người bệnh ra khỏi phòng khám thấy hài lòng là vui rồi.