Khoa Điều trị theo yêu cầu - BV Trưng Vương

Khoa Điều trị theo yêu cầu - BV Trưng Vương Thành lập 31/12/2003
Nhiệm vụ: chẩn đoán và điều trị các bệnh lý Nội khoa và Ngoại khoa.

Chúc mừng sinh nhật Admin của fanpage - cố vấn chuyên môn, người thầy, người sếp, người anh cả, người bạn, người đồng hà...
13/01/2026

Chúc mừng sinh nhật Admin của fanpage - cố vấn chuyên môn, người thầy, người sếp, người anh cả, người bạn, người đồng hành... Nói chung là đa hệ, đa năng.
Chúc bs Từ Thanh luôn vui, trẻ, khoẻ, và nhiều năm sau vẫn còn đón nhiều cái sinh nhật ở khoa với mọi người như bao năm qua đã gắn bó.

22 năm – một hành trình không quá dài trong lịch sử, nhưng đủ để ghi dấu bao nỗ lực thầm lặng, những ca trực xuyên đêm, ...
31/12/2025

22 năm – một hành trình không quá dài trong lịch sử, nhưng đủ để ghi dấu bao nỗ lực thầm lặng, những ca trực xuyên đêm, những giọt mồ hôi và cả niềm hạnh phúc vỡ òa khi người bệnh bình an ra viện.
Nơi đây không chỉ là một khoa điều trị, mà còn là ngôi nhà chung của sự tận tâm, chuyên nghiệp và tình người. Tự hào vì được đồng hành cùng nhau trong thời gian qua.

Chúc Khoa Điều trị theo yêu cầu tuổi 22 thật nhiều sức sống mới 🌱
Vững chuyên môn – bền đoàn kết – tròn sứ mệnh.

Và tiếp tục là nơi gửi gắm niềm tin của người bệnh trong những năm tháng sắp tới 💙

From Khoa ĐTTYC with love! 💓💖💕

18/12/2025

Mọi người chuẩn bị cho mùa Giáng sinh này như tới đâu rồi?

CÓ PHẢI CHÚNG TA ĐANG QUÁ KIỆT SỨC ĐỂ SỐNG? Có một câu nói được cho là của Sigmund Freud, xuất hiện trong nhiều bài về t...
02/12/2025

CÓ PHẢI CHÚNG TA ĐANG QUÁ KIỆT SỨC ĐỂ SỐNG?

Có một câu nói được cho là của Sigmund Freud, xuất hiện trong nhiều bài về triết học, tâm lý, ra đời từ đầu thế kỷ 20 nhưng sao bây giờ lại đúng quá, nhất là trong giới trẻ:
“Trong thế giới hiện đại của chúng ta, con người quá kiệt sức để sống, và quá sợ hãi để chết.”

Đôi khi chúng ta không phải kiệt sức vì nghèo, vì làm việc quá sức; cũng không phải sợ chết theo nghĩa thể xác. Mà vì tâm hồn chúng ta đang bị kéo căng như một sợi dây đàn đã quá lâu; muốn buông cũng không dám, muốn tiếp tục cũng không còn lực.

Có nhiều nguyên nhân:

1. Kiệt sức về thể xác và tinh thần - Tình trạng Burnout:

Do làm việc quá sức để kiếm tiền, học hành quá sức để thăng tiến trong thời buổi kinh tế còn nhiều khó khăn, xã hội còn nhiều phức tạp.

Áp lực, kỳ vọng, ham muốn của bản thân, gia đình và xã hội (nhiều khi là ảo) nhiều quá.

2. Chúng ta sống trong thời đại của sự quá tải:

Ngày xưa người ta sợ thiếu.
Ngày nay người ta sợ… thừa. Thừa thông tin, thừa lựa chọn, thừa kỳ vọng nhưng thiếu ý nghĩa. Não bị nhét quá nhiều dữ liệu đến mức không còn khoảng trống để thấu cảm. Tim bị nhồi quá nhiều ham muốn đến mức không còn sức để yêu thương.

Mạng xã hội đầy những thành công hào nhoáng để rồi thấy mình là 1 kẻ thua cuộc, cô đơn, trống rỗng.

Niềm vui thì ít, ngắn ngủi; nỗi lo thì nhiều, dai dẳng... Tất cả diễn ra cùng lúc, khiến con người sống như kẻ vừa chạy vừa trượt ngã, chẳng đứng vững hay bám víu được vào đâu. Rất nhiều bạn trẻ đang rơi vào trạng thái nằm phẳng (lying flat), hoặc sống mòn, sống cho có, zombie mode... không còn động lực phấn đấu nữa.

3. Tự do mà không có phương hướng:

Triết gia người Đan Mach Kierkegaard: “Lo âu chính là cái chóng mặt của tự do.” Thế hệ trẻ có vô vàn ngả đường: nghề nghiệp, lối sống, mục tiêu, nơi ở... Nhưng càng nhiều cửa thì càng khó chọn. Sự phiền muộn không đến từ việc thiếu lựa chọn, mà từ việc không có điểm tựa để biết mình muốn gì.

Nhà phân tâm học xã hội người Đức Erich Fromm: "Con người sẽ trốn chạy khỏi tự do nếu họ không biết mình là ai." Thế là ta làm việc điên cuồng để khỏi phải suy nghĩ. Tiêu thụ liên tục để khỏa lấp khoảng trống. Lướt điện thoại nhìn ngó thiên hạ để không phải đối diện với chính mình.

4. Không kết nối đủ sâu với bất cứ điều gì:

Con người hiện đại trải rộng nhưng không đi sâu: Triệu người quen biết mấy người thân, việc làm nhiều nhưng không nghề nào thành, biết nhiều nhưng không hiểu kỹ, nói nhiều nhưng không thật. Giữa cả tỷ kết nối, ta lại thấy mình trống rỗng hơn bao giờ hết.

Con người cô đơn không phải vì thiếu người mà vì không ai hiểu mình.

5. Ta sợ chết vì ta chưa từng sống:

Một đời chưa kịp bắt đầu thì làm sao dám kết thúc?
- Ta chưa sống đủ, yêu đủ để thấy đời có ý nghĩa.
- Ta chưa tin vào điều gì để bám vào. Một niềm tin vào tôn giáo đôi khi lại rất cần thiết.
- Ta chưa chạm đến niềm vui làm mình thức dậy mỗi sáng trong tâm trạng phấn chấn.
- Ta chưa từng dám chọn một điều để sống hết mình.

Nỗi sợ không nằm trong cái chết, mà nằm trong cảm giác ta chưa kịp là “ta”.

@ Ta phải làm sao bây giờ?

Không có giải pháp tuyệt đối. Sau đây là vài cách:

1. Giảm tải công việc; cân bằng giữa công việc và nghỉ ngơi, thư giãn. Tập thể dục, ăn uống, sinh hoạt lành mạnh. Buông bỏ được gì cứ buông.

2. Sống chậm lại:

Con người không thể tìm thấy ý nghĩa khi đầu óc lúc nào cũng chạy. Tâm trí chỉ trở về với chính mình khi có khoảng trống.

3. Chọn một điều để đi sâu:

Hãy chọn một nghề, một niềm đam mê, một mối quan hệ, một giá trị và cắm rễ vào nó. Không cần quen nhiều, chỉ cần quen thân. Không cần cố làm hài lòng hết mọi người.

Đừng lan man nữa, nó chỉ khiến ta tan rã dần trong chính đời mình.

4. Chấp nhận sự không hoàn hảo:

Ta không cần hoàn hảo vì không thể hoàn hảo.
Không cần ai hiểu mình 100% khi ta còn chưa hiểu hết ta.

5. Tìm kiếm và nuôi dưỡng những kết nối thật:

Một bữa cơm gia đình, một người bạn hiểu mình, một cuộc trò chuyện không nhìn màn hình... đôi khi cứu cả một con người. Bớt mạng xã hội lại.

5. Chăm sóc sức khỏe tinh thần:

Hỏi một câu rất cũ nhưng chưa ai trả lời xong:
“Điều gì làm tim tôi rung lên?” Không phải điều làm tôi giàu, đẹp, nổi tiếng, mà điều làm tôi sống.

Đọc sách, nghe nhạc, học đàn, học vẽ, chăm sóc một chậu cây, nuôi 1 thú cưng, làm việc thiện nguyện...

6. Tư vấn chuyên gia tâm lý, khám chuyên khoa tâm thần, tìm sự hỗ trợ từ người thân khi thấy người thân/bản thân có vấn đề về tâm lý.

Tóm lại,
Con người không kiệt sức vì cuộc đời quá nặng mà vì mang trên vai, để trong đầu quá nhiều thứ không phải của mình. Đa số họ không tự bỏ xuống, để ra được; họ cần sự giúp đỡ của người thân, của chúng ta, của xã hội. Sống là để thương yêu nhau.

Hình: Các dấu hiệu của Burnout.

Bs Từ Thanh, 2/12/2025

HẬU QUẢ VỀ SỨC KHỎE SAU LŨ LỤTCó nhiều bằng chứng y văn, hướng dẫn (WHO/CDC) nói về các tác hại trên sức khỏe của người ...
28/11/2025

HẬU QUẢ VỀ SỨC KHỎE SAU LŨ LỤT

Có nhiều bằng chứng y văn, hướng dẫn (WHO/CDC) nói về các tác hại trên sức khỏe của người dân sau các trận lũ lụt lớn (gây nước ngập sâu, ngâm nước dài ngày, mất điện, thiếu nước sạch, thiếu ăn, ẩm mốc nhà cửa…). Dưới đây là những tác hại chính, các bệnh thường gặp và các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát.

I. Ảnh hưởng tới sức khỏe và môi trường sống:

1. Bệnh lây truyền qua nước:
Sau lũ, nước sinh hoạt bị ô nhiễm phân, làm gia tăng tiêu chảy, viêm dạ dày ruột (Salmonella, Shigella, E. coli), và ở những nơi có tác nhân lưu hành thì có thể bùng phát bệnh tả, thương hàn.

2. Leptospirosis (bệnh do xoắn khuẩn Leptospira) và các bệnh liên quan phân động vật:
Do tiếp xúc nước, bùn lẫn phân động vật (gia súc, chó mèo, chuột…) làm tăng nguy cơ bệnh Leptospirosis (sốt, đau cơ, vàng da, suy thận). Bệnh này cũng hay gặp ở Việt Nam, đăc biệt sau mưa lũ. Tháng 10 năm nay 2025, bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương đã tiếp nhận và điều trị nhiều ca bệnh này sau các đợt ngập lụt, trong đó có không ít trường hợp diễn biến nặng, gây tổn thương đa cơ quan, đe dọa tính mạng bệnh nhân.

3. Bệnh lây truyền do véc-tơ:
Nước tù đọng tạo môi trường cho muỗi (sốt xuất huyết Dengue, sốt rét) có nguy cơ bùng phát sau lũ.

4. Nhiễm khuẩn da và vết thương:
Do ngâm lâu trong nước bẩn, vết sướt rách da dễ bị nhiễm vi khuẩn, áp xe, hoại tử.

5. Nhiễm nấm xâm lấn, bệnh phổi do nấm và nhiễm khuẩn hô hấp:
Do nhà ngập ẩm mốc, cư dân và người dọn dẹp tiếp xúc nồng độ bào tử nấm cao (Aspergillus, các nấm môi trường) dễ bị nhiễm nấm xâm lấn hoặc bệnh hô hấp nặng, đặc biệt ở người suy giảm miễn dịch.

6. Vấn đề hô hấp và dị ứng từ ẩm mốc trong nhà do ngấm nước nhiều ngày:
Ẩm mốc kéo dài dễ gây ho, hen, viêm phế quản, nhiễm trùng hô hấp, và liên quan đến bệnh dị ứng.

7. Suy dinh dưỡng, thiếu ăn sau lũ:
Mất mùa, thiếu tiếp cận thực phẩm dẫn tới suy dinh dưỡng cấp hoặc mãn tính, làm giảm miễn dịch và tăng nhạy cảm với nhiễm trùng.

8. Sức khỏe tâm thần:
Các nghiên cứu gần đây đã báo cáo tình trạng căng thẳng, rối loạn stress sau sang chấn (PTSD), trầm cảm, lo âu tăng đáng kể sau lũ lụt.

9. Nguy cơ hoá chất & điện:
Mất điện, đường ống hư, ô nhiễm hóa chất (dầu, phân bón, phế thải công nghiệp) gây ngộ độc hoặc tai nạn điện trong quá trình khắc phục.

II. Vấn đề phát hiện sớm - những dấu hiệu cần lưu ý (tại cộng đồng và y tế cơ sở):

- Tiêu chảy cấp: Sốt + tiêu chảy nhiều lần, mất nước, máu trong phân → cân nhắc báo động dịch; khám sàng lọc, xét nghiệm phân, xét nghiệm vi khuẩn…

- Sốt không rõ nguồn gốc kèm đau cơ, vàng da, khó thở… → nghĩ đến Leptospirosis; test huyết thanh / PCR nếu có thể.

- Ho, khó thở kéo dài, ho đàm, khò khè mới xuất hiện… → đánh giá nhiễm khuẩn hô hấp, hen; hỏi yếu tố tiếp xúc với ẩm mốc.

- Vết thương, loét nhiễm: Đỏ da, sưng, chảy mủ, sốt → cần sát trùng, kháng sinh sớm, băng gạc, xử trí ngoại khoa nếu cần.

- Biểu hiện tâm lý: Mất ngủ, ác mộng, trầm cảm, ý nghĩ tự hại…→ can thiệp sớm, hỗ trợ tâm lý, khám chuyên khoa tâm thần…

III. Phòng ngừa và kiểm soát (tại cá nhân, cộng đồng, y tế công cộng):

1. Nước, vệ sinh môi trường:

- Cấp nước an toàn: Cung cấp nước sạch, lọc nước, uống nước đun sôi, chặn nguồn nước bị ô nhiễm.

- Vệ sinh môi trường: Thu gom phân, động vật chết, xử lý bùn, cải thiện nhà vệ sinh, phân loại rác…

2. Kiểm soát véc-tơ:
Loại bỏ nước tù đọng, phun diệt muỗi, ngủ mùng…

3. Phòng ngừa nhiễm trùng và chăm sóc vết thương:
Vệ sinh vết thương, kháng sinh theo chỉ định, tiêm phòng uốn ván nếu cần. Trang bị găng tay, ủng cao su cho lực lượng dọn dẹp.

4. Xử lý ẩm mốc, phục hồi nhà cửa:
Làm khô nhanh (thông gió, quạt, hút ẩm), loại bỏ vật liệu ẩm mốc không thể làm sạch (thảm, ván ép ngấm nước). Người có bệnh hô hấp hoặc suy giảm miễn dịch tránh dọn dẹp trực tiếp; nếu bắt buộc, dùng khẩu trang và găng.

5. Dinh dưỡng & an sinh:
Trợ cấp thực phẩm, nước sạch, thuốc men, quần áo, mùng mền…, đặc biệt chú ý những người suy dinh dưỡng.

6. Can thiệp y tế cộng đồng & giám sát:
Thiết lập giám sát bệnh truyền nhiễm (các ca tiêu chảy, sốt, Leptospirosis, nhiễm nấm…), giám sát tâm thần. WHO có khuyến nghị Health EDRM (Emergency & Disaster Risk Management).

7. Tiêm chủng / dự phòng đặc hiệu:
Tiêm ngừa uốn ván cho người có vết thương nếu cần, viêm phổi...

@ Tài liệu tham khảo:

1. Acosta-Espana JD et al., 2024. Infectious disease outbreaks in the wake of natural flood events.
2. Tan B. 2025. Flood-associated disease outbreaks and transmission.
3. Wurster S. et al., 2022. Invasive mould infections in patients from floodwater-affected areas.
4. Gatto MR et al., 2024. State-of-the-science review: effects of damp/mold.
5. Holden KA et al., 2023. Impact of poor housing and indoor air quality.
6. Maaranen J. et al., 2024. Home dampness and occurrence of respiratory infections.
7. Romanello M. et al., Lancet Countdown 2024. Báo cáo lớn về khí hậu & sức khỏe, có chương về các sự kiện lũ và hệ quả sức khỏe.
8. WHO — Floods topic page & guidance (WHO). Hướng dẫn hành động, WASH, Health EDRM.
9. CDC — Floods and Your Safety / Safety Guidelines: Floodwater (2024).
10. Miller VE et al., 2025. Impact of Hurricanes and Floodings on Mental Health.

Hình: Nhà dân 2 bên sông Bàn Thạch, phường Đông Hòa, tỉnh Đaklak (Phú Yên cũ) bị ngập sâu (VNExpress).

Bs Từ Thanh, 27/11/2025

CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ BÁNG BỤNG, QUÁ TẢI DỊCH VÀ HẠ NATRI MÁU TRONG XƠ GAN THEO HỘI TIÊU HÓA MỸ (AGA) 2025Bài báo gốc: AGA C...
24/11/2025

CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ BÁNG BỤNG, QUÁ TẢI DỊCH VÀ HẠ NATRI MÁU TRONG XƠ GAN THEO HỘI TIÊU HÓA MỸ (AGA) 2025

Bài báo gốc: AGA Clinical Practice Update on the Management of Ascites, Volume Overload, and Hyponatremia in Cirrhosis: Expert Review

@ MÔ TẢ:

Bản cập nhật thực hành lâm sàng của AGA nhằm tổng hợp bằng chứng hiện có và đưa ra khuyến cáo thực hành tốt nhất (Best Practice Advice – BPA) cho quản lý báng bụng, tràn dịch màng phổi do gan (hepatic hydrothorax – HH), quá tải thể tích và hạ natri máu ở bệnh nhân xơ gan. Đây là bản tổng hợp dựa trên chuyên gia, không phải là tổng quan hệ thống, vì vậy không đánh giá chất lượng bằng chứng một cách chính thức. Các khuyến cáo được phê duyệt nội bộ và phản biện ngoài bởi Hội đồng AGA.

@ CƠ CHẾ BỆNH SINH VÀ GÁNH NẶNG LÂM SÀNG:

Tình trạng quá tải dịch trong xơ gan biểu hiện qua bang bụng, HH, phù ngoại biên và anasarca. Nguyên nhân chính là tăng áp lực tĩnh mạch cửa, dẫn đến giãn mạch hệ thống và kích hoạt hệ thần kinh – nội tiết, bao gồm RAAS, làm tăng giữ muối nước. Tăng nước ngoài tế bào gây cổ trướng, một phần do áp lực keo giảm và áp lực thủy tĩnh tăng. Các biến chứng này làm giảm chất lượng sống, tăng nguy cơ nhiễm trùng, hội chứng gan–thận và tăng tử vong. Hạ natri máu do giữ nước làm nặng thêm bệnh não gan và liên quan chặt chẽ đến tử vong. Việc điều trị phức tạp vì nguy cơ suy thận, rối loạn điện giải và đòi hỏi theo dõi chặt chẽ.

@ CÁC KHUYẾN CÁO THỰC HÀNH TỐT NHẤT:

1 – Quản lý báng bụng, HH và quá tải dịch:
- Hạn chế natri

HỘI CHỨNG SỐC NHIỄM ĐỘCBS Từ Thanh tóm tắt từ bài báo: “Toxic Shock Syndrome: A Literature Review” (Antibiotics, 2024)Tá...
09/11/2025

HỘI CHỨNG SỐC NHIỄM ĐỘC

BS Từ Thanh tóm tắt từ bài báo: “Toxic Shock Syndrome: A Literature Review” (Antibiotics, 2024)
Tác giả: Enora Atchade, Christian De Tymowski, Nathalie Grall, Sébastien Tanaka, Philippe Montravers

1. Giới thiệu:

Hội chứng sốc nhiễm độc (Toxic Shock Syndrome – TSS) là một bệnh hiếm gặp nhưng có thể đe dọa tính mạng, do các độc tố siêu kháng nguyên của Staphylococcus aureus hoặc Streptococcus pyogenes gây ra. Bệnh đặc trưng bởi sốc nhiễm trùng khởi phát nhanh, suy đa cơ quan, và tỷ lệ tử vong cao nếu không được chẩn đoán và xử trí sớm. Ngoài hai vi khuẩn chính này, một số trường hợp hiếm lẻ tẻ liên quan đến các vi khuẩn khác cũng được ghi nhận.

2. Phương pháp:

Bài tổng quan được thực hiện bằng cách tìm kiếm các nghiên cứu, báo cáo ca bệnh và bài tổng quan trên cơ sở dữ liệu PubMed với các từ khóa như “toxic shock syndrome”, “TSST-1”, “superantigen”, “severe streptococcal infection”, “necrotizing soft tissue infection”. Các bài không viết bằng tiếng Anh bị loại trừ.

3. Sinh lý bệnh:

- Trong TSS, các vi khuẩn tiết ra độc tố siêu kháng nguyên (superantigenic exotoxin) — protein có khả năng kích hoạt hàng loạt tế bào T (5–30%) một cách không đặc hiệu. Quá trình này gây bão cytokine, dẫn đến rò mao mạch, tụt huyết áp, rối loạn đông máu và suy đa cơ quan.
- Ở S. aureus, các độc tố chính gồm TSST-1 (toxic shock syndrome toxin-1) và enterotoxin A, B, C.
- Ở S. pyogenes, các độc tố chính gồm streptococcal pyrogenic exotoxins (SpE) A, B, C và streptococcal superantigen A (SsA).

4. Hội chứng sốc nhiễm độc do tụ cầu (Staphylococcal TSS):

4.1. Báo cáo ban đầu
Ca bệnh đầu tiên được mô tả vào năm 1978 ở trẻ em có sốt cao, ban đỏ lan tỏa, hạ huyết áp, suy gan thận, đông máu nội mạch lan tỏa. Sau đó, bệnh thường gặp nhất ở phụ nữ có kinh.

4.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán (CDC 2011)
Bao gồm: sốt ≥38,9°C, ban đỏ dạng dát, b**g da sau 1–2 tuần, tụt huyết áp, và suy ít nhất 3 cơ quan. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn này thường chỉ áp dụng hồi cứu, không phù hợp để chẩn đoán sớm.

4.3. Dịch tễ
Tỷ lệ mắc TSS khoảng 0,03–0,07/100.000 dân/năm, ổn định sau khi thay đổi vật liệu tampon trong thập niên 1980. TSS được chia thành thể kinh nguyệt (m-TSS) và thể không kinh nguyệt (nm-TSS).

4.4. TSS thể kinh nguyệt
- Xảy ra ở phụ nữ trẻ khỏe mạnh dùng tampon, do TSST-1 sinh ra trong môi trường âm đạo giàu oxy.
- Triệu chứng: sốt, nhịp tim nhanh, phát ban, đau bụng, tiêu chảy, nhức đầu.
- Cấy máu âm tính, nhưng cấy âm đạo dương tính với S. aureus sinh TSST-1.
- Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu lớn (Pháp, 2022) đều dùng tampon khi mắc bệnh.

4.5. TSS thể không kinh nguyệt
Liên quan đến phẫu thuật, vết thương da, hậu sản hoặc thủ thuật. Cấy máu dương tính 50% trường hợp. Triệu chứng giống m-TSS nhưng gặp ở người lớn tuổi hơn. Tỷ lệ tử vong cao hơn (4–22%).

4.6. Đặc điểm vi sinh
- Khoảng 90–95% m-TSS và 50% nm-TSS do TSST-1, phần còn lại do enterotoxin A–C.
- Hầu hết là S. aureus nhạy methicillin (MSSA); MRSA chiếm

ĐIỀU TRỊ GLUCOCORTICOID TRONG VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG Bài báo gốc: Glucocorticoid Treatment in Community-Acquired Pneumonia”...
26/10/2025

ĐIỀU TRỊ GLUCOCORTICOID TRONG VIÊM PHỔI CỘNG ĐỒNG

Bài báo gốc: Glucocorticoid Treatment in Community-Acquired Pneumonia” (Dequin & Confalonieri, Semin Respir Crit Care Med, 2025).

@ TÓM TẮT:

Dù có nhiều thử nghiệm so sánh, vai trò của glucocorticoid trong điều trị hỗ trợ viêm phổi cộng đồng (CAP) vẫn còn tranh cãi. Các thử nghiệm ngẫu nhiên gần đây ở bệnh nhân hồi sức tích cực (ICU) đã cung cấp bằng chứng mạnh hơn, dù kết quả khác nhau. Cần xác định rõ đối tượng bệnh nhân nào có thể hưởng lợi. Trong viêm phổi COVID-19, hiệu quả của corticosteroid đã được khẳng định; ngược lại, không khuyến cáo dùng trong cúm. Nhìn chung, việc sử dụng ngắn hạn ở nhóm chọn lọc là an toàn.

1. DẪN NHẬP

Viêm phổi cộng đồng (CAP) là nguyên nhân tử vong đứng thứ 7 toàn cầu (2021), với tỷ lệ tử vong 10–12% ở nước giàu và 16–23% ở nước thu nhập thấp. Ở ICU, tỷ lệ này tới 25–30%. CAP gây viêm phổi–toàn thân nặng, dẫn đến ARDS, sốc nhiễm khuẩn và suy đa cơ quan. Glucocorticoid với tác dụng kháng viêm - điều hòa miễn dịch mạnh có thể giúp giảm rối loạn viêm và biến chứng, song các thử nghiệm cho kết quả không nhất quán. Bài tổng quan này hệ thống lại bằng chứng hiện có và các câu hỏi còn bỏ ngỏ.

2. DƯỢC LÝ HỌC GLUCOCORTICOID

Corticosteroid tự nhiên gồm:

- Aldosterone (đường mineralocorticoid)

- Cortisol (hydrocortisone) (đường glucocorticoid).

Các thuốc tổng hợp (prednisone, dexamethasone, methylprednisolone...) được thiết kế để tăng hiệu lực kháng viêm, giảm giữ muối nước. Thuốc hấp thu tốt, hoạt hóa nhanh, gắn protein vừa phải, chuyển hóa nội bào và thải trừ qua thận ít.

Cơ chế tác dụng chủ yếu qua gắn thụ thể GRα trong tế bào, điều hòa biểu hiện ~20% gen người (genomic effects) → khởi phát chậm nhưng kéo dài. Ngoài ra, còn có tác dụng phi gen (nongenomic) nhanh, đặc biệt ở liều cao. Tác dụng đa dạng: tăng miễn dịch bẩm sinh, hạn chế tổn thương mô, khôi phục cân bằng viêm.

3. CÁC THỬ NGHIỆM KIỂM SOÁT (CONTROLLED TRIALS)

3.1. Ở bệnh nhân thông thường (không ICU):

Khoảng 5 thử nghiệm lớn đã được công bố:

- Prednisolone 40 mg/ngày × 7 ngày: không cải thiện tỷ lệ khỏi bệnh ngày 8 nhưng giảm sốt và CRP nhanh hơn.

- Thử nghiệm STEP (Thụy Sĩ): prednisone 40 mg/ngày giúp ổn định lâm sàng nhanh hơn (3 vs 4,4 ngày), giảm thời gian nằm viện.

- Hai thử nghiệm Hà Lan dùng dexamethasone 5–6 mg/ngày trong 4 ngày: giảm thời gian nằm viện 0,5–1 ngày.

- Thử nghiệm Úc (IMPROVE-GAP): prednisolone không giảm thời gian nằm viện.

→ Kết luận: corticosteroid ngắn hạn (4–7 ngày) giúp hồi phục nhanh, rút ngắn nằm viện nhẹ, tác dụng phụ chính là tăng đường huyết.

3.2. Ở bệnh nhân hồi sức (ICU):

Một số thử nghiệm quan trọng:

- Confalonieri 2005: hydrocortisone truyền 10 mg/h × 7 ngày → cải thiện PaO₂/FiO₂ và điểm suy đa tạng (MODS), giảm tử vong (0% vs 34%).

- Torres 2015: methylprednisolone 1 mg/kg/ngày × 5 ngày → giảm thất bại điều trị ở nhóm CRP > 15 mg/dL.

- ESCAPe (2022): methylprednisolone 20 ngày, 584 bệnh nhân → không giảm tử vong (16% vs 18%).

- CAPE COD (2023): hydrocortisone 200 mg/ngày × 8–14 ngày → giảm tử vong 28 ngày (6,2% vs 11,9%, p=0,006).

- REMAP-CAP (2025): hydrocortisone 200 mg/ngày × 7 ngày → không cải thiện sống sót (90 ngày).

→ Kết luận: các nghiên cứu ICU cho kết quả trái chiều, có thể do khác biệt về thời điểm khởi trị, loại thuốc, đặc điểm bệnh nhân (CRP, sốc nhiễm khuẩn, giới tính, mức độ viêm). Meta-analysis mới nhất vẫn cho thấy có xu hướng giảm tử vong (RR 0,82) và giảm nhu cầu thở máy (RR 0,63).

4. TÁC NHÂN GÂY BỆNH

Hầu hết nghiên cứu chọn bệnh nhân dựa vào lâm sàng & X-quang, không xét nghiệm PCR hệ thống → chủ yếu vi khuẩn (phế cầu, H. influenzae...), còn virus ít được ghi nhận. Tuy nhiên, bằng chứng hiện nay cho thấy tỷ lệ viêm phổi do virus cao hơn nhiều; do đó, một số ca “CAP không tìm được tác nhân” có thể là virus CAP, ảnh hưởng đến đáp ứng với corticosteroid.

5. ĐỐI TƯỢNG ĐẶC BIỆT

5.1. Suy giảm miễn dịch:

Các thử nghiệm thường loại trừ nhóm này. Dữ liệu quan sát cho thấy chưa có bằng chứng đủ mạnh; không khuyến cáo dùng corticosteroid trong CAP ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch nặng.

5.2. Sốc nhiễm khuẩn:

CAP là nguyên nhân thường gặp nhất của sepsis. Trong các nghiên cứu, corticosteroid (đặc biệt hydrocortisone + fludrocortisone) giúp giảm nhu cầu vận mạch và cải thiện sống sót trong sốc nhiễm khuẩn nặng do CAP (theo APROCCHSS trial).

5.3. Hít sặc, biến chứng khu trú

Không có dữ liệu chứng minh lợi ích trong viêm phổi hít, áp-xe phổi, hoặc tràn dịch màng phổi (STOPPE trial: dexamethasone không giúp giảm tiến triển tràn dịch).

6. AN TOÀN

- Tăng đường huyết: RR 1,32, thường thoáng qua, cần kiểm soát insulin.

- Nhiễm trùng bệnh viện: không tăng đáng kể (RR 0,97).

- Xuất huyết tiêu hóa: rất hiếm.

- Rối loạn thần kinh - cơ: ít dữ liệu.

- Không ghi nhận suy tuyến thượng thận sau điều trị ngắn hạn (

Address

266 Lý Thường Kiệt, Phường Diên Hồng, Thành Phố Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh City
700000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Khoa Điều trị theo yêu cầu - BV Trưng Vương posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Khoa Điều trị theo yêu cầu - BV Trưng Vương:

Share