11/07/2021
Loét Áp tơ tái phát
Loét Áp tơ tái phát là một dạng bệnh phổ biến, tự phát, tái diễn nhiều lần với các vết loét miệng rất đau ( dân gian hay gọi là nhiệt miệng hay lở miệng) trên vùng niêm mạc miệng không sừng hóa
Nguyên nhân
Nguyên nhân của loét áp tơ thường là tự phát và có nhiều yếu tố liên quan có thể dẫn đến tình trạng trên. Loét áp tơ không phải là bệnh do nhiễm vi trùng/ virus cấp tính nên bệnh này không lây
***Các yếu tố có khả năng khởi phát loét áp tơ :
- Chấn thương tại chỗ (như cắn vào môi má lưỡi hay do mắc cài chỉnh nha)
- Stress
- Yếu tố di truyền
- Kháng nguyên của vi khuẩn, virus
- Dị ứng hoặc quá mẫn (như sodium lauryl sulfate trong kem đánh răng, các loại thức ăn như là quế, phô mai, cam, chanh, sung, táo)
- Tiếp xúc với độc chất (như các chất nitrats có trong các loại đồ uống)
- Kinh nguyệt
- Thay đổi hệ vi khuẩn thường trú trong miệng
- Thiếu hụt các vi chất trong máu (như sắt, folate, Vitamin B6,B12, vitamin D, kẽm, thiamine)
***Loét áp tơ phổ biến hơn ở người không hút thuốc lá (hoặc đã bỏ thuốc lá) so với người có hút thuốc lá, và ít gặp hơn ở những người có thói quen vệ sinh răng miệng tốt.
Dịch tễ:
Loét áp tơ rất phổ biến, mỗi 5 người sẽ có khoảng 1 người bị, gặp ở nữ nhiều hơn nam, và nhiều hơn ở các nước phát triển. Độ tuổi phổ biến thường 20-30 (người trẻ) và ít hơn ở người lớn tuổi. Không liên quan yếu tố chủng tộc.
Loét áp tơ có thể là biểu hiện của các bệnh toàn thân như hội chứng Behcet, lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp phản ứng, bệnh Crohn. Vì vậy đôi khi bác sĩ cần đánh giá các triệu chứng toàn thân để loại trừ các bệnh này
Sinh bệnh học
Loét áp tơ là kết quả của rối loạn hệ miễn dịch qua trung gian tế bào T nhưng cũng có thể liên quan đến sự phá hủy biểu mô niêm mạc qua trung gian bạch cầu trung tính và tế bào mast. Các sang thương loét này gây ra những biến đổi về các chất trung gian gian bào như tăng interferon gamma, TNF alpha, IL-2, IL-4,IL-5 cũng như các phân tử kết dính khác nhau liên quan đến giao tiếp tế bào và tính toàn vẹn biểu mô. Phản ứng viêm này dẫn đến kết cục là một màng giả chứa dịch tiết dạng sợi, vi khuẩn, tế bào viêm và tế bào niêm mạc hoại tử.
Loét áp tơ xuất hiện trên niêm mạc miệng không sừng hóa như môi, má, khẩu cái mềm , sàn miệng, bụng hoặc hông lưỡi, amidan, nướu rời, niêm mạc xương ổ
**** Khác với loét áp tơ, loét do HSV xuất hiện trên niêm mạc miệng có sừng hóa như nướu dính, lưng lưỡi, môi, khẩu cái cứng
Tiến triển và biểu hiện
Từ 1 đến 2 ngày trước khi loét áp tơ hình thành, bệnh nhân có thể có cảm giác bỏng rát khó chịu tại vị trí đó.
Loét áp tơ điển hình không có các triệu chứng: sốt, phát ban, đau đầu, nổi hạch. (nếu có thì có thể nghĩ đến các bệnh lý khác như herpangina hoặc hội chứng PFAPA)
Nếu có triệu chứng của mắt (như viêm màng bồ đào) hay cơ quan sinh dục thì đó là cơ sở cho chẩn đoán các bệnh lý khác như hội chứng Behcet, hội chứng MAGIC
Loét áp tơ biểu hiện là 1 sang thương giới hạn rõ, hoại tử ở trung tâm có màu xám, dịch tiết dạng sợi bao quanh bởi 1 quầng hồng ban trên nền niêm mạc miệng không sừng hóa
*****Loét áp tơ có 3 dạng:
- Minor aphthae (MiRAS): loét áp tơ nhỏ
- Major aphthae (MaRAS): loét áp tơ lớn
- Herpetiform aphthae (HeRAS): loét áp tơ dạng Herpes
🩺🩺🩺Điều trị
Mục tiêu chính của điều trị là giảm đau, tăng tốc độ lành thương và ngăn ngừa tái phát
Hiện tại có nhiều phương pháp điều trị loét áp tơ bao gồm:
- Các thuốc thoa như thuốc tê tại chỗ (benzocaine)
- Tác nhân che phủ kín (bismuth subsalicylate, sucralfate, 2-octyl cyanoacrylate, các loại bột phủ sinh học)
- Các chất kháng khuẩn ( chlorhexidine gluconate, hydrogen peroxide)
- Kháng viêm (glucocorticosteroids: clobetasol, dexamethasone, floucinonide, triamcinolone)
- Amlexanox và các chất ưc chế metalloprotease ( tetracyclin, doxycyclin, minocyclin)
- Mật ong
- Yếu tố điều hòa miễn dịch (amlexanox, colchicine, cyclosporine, cyclophosphamide, dapsone, methotrexate, montelukast, thalidomide, hay các retinoid)
🩺🩺🩺Quy trình để điều trị loét áp tơ (quan điểm cá nhân mỗi người)
- Bôi thuốc tê tại chỗ và che phủ + tác nhân kháng khuẩn (cho áp tơ nhỏ)
- Điều trị hàng đầu cho các áp tơ lớn và nhỏ với triệu chứng đau nhiều là steroids bôi dạng gel hoặc kem (vd: Orabase) để rút ngắn thời gian lành thương.
- Một phương pháp khác là chích steroid tại chỗ (như triamcinolone)
- Các trường hợp khó chữa hoặc kéo dài khó lành thương có thể điều trị hỗ trợ steroid toàn thân (dexamethasone, prednisolone), thuốc điều hòa miễn dịch.
- Laser cũng giúp điều trị hiệu quả đối với loét áp tơ
- Giữ vệ sinh răng miệng tốt giúp ngăn ngừa loét áp tơ tái phát
- Chế độ ăn bổ sung đủ các vi chất như sắt, kẽm, Vitamin B1,B6,B12 , C
- Tránh các thức ăn uống khởi phát đã biết và luôn kiểm soát stress.
Nguồn:
Plewa MC, Chatterjee K. Aphthous Stomatitis. [Updated 2021 Feb 3]. In: StatPearls [Internet]. Treasure Island (FL): StatPearls Publishing; 2021
Ślebioda, Z., Szponar, E., & Kowalska, A. (2013). Recurrent aphthous stomatitis: genetic aspects of etiology. Advances in Dermatology and Allergology, 2, 96–102. doi:10.5114/pdia.2013.34158
Chiang CP, Yu-Fong Chang J, Wang YP, Wu YH, Wu YC, Sun A. Recurrent aphthous stomatitis - Etiology, serum autoantibodies, anemia, hematinic deficiencies, and management. J Formos Med Assoc. 2019 Sep;118(9):1279-1289.